Chương 1 đã cho người đọc cái nhìn khái quát về nội dung cần nghiên cứu. Ở chương 2, tác giả sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến các hình thức chi trả cổ tức, giá trị doanh nghiệp, mối quan hệ giữa hình thức chi trả cổ tức và giá trị doanh nghiệp, tiếp theo tác giả khảo sát những nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trong và ngoài nước. Từ đây sẽ là nền tảng để đề xuất mô hình nghiên cứu ở chương sau. Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước 2.1 Lý thuyết về hình thức chi trả cổ tức và chính sách cổ tức Chính sách cổ tức là một trong ba quyết định tài chính quan trọng nhất mà nhà quản lý gặp phải (Baker và Powell, 1999).
Khi nói đến chính sách cổ tức, Lease và cộng sự (2000) cho rằng chính sách cổ tức đề cập đến công việc mà nhà quản lý đưa ra quyết định về tỷ lệ cổ tức được chi trả, hay nói cách khác, là khối lượng và hình thức phân phối lợi nhuận theo thời gian cho các cổ đông. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) chính sách cổ tức ấn định việc phân chia lợi nhuận sau thuế của các công ty cổ phần, bao nhiêu phần trăm sẽ được giữ lại để tái đầu tư, bao nhiêu phần trăm được sử dụng để chi trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức. Công ty chi trả cổ tức dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh và quyết định của Hội đồng quản trị với ba (03) hình thức bao gồm tiền mặt, cổ phiếu và tài sản khác. Trả cổ tức bằng tiền mặt Hiện nay, hầu hết các công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt, thường là chi trả theo định kỳ mỗi năm một lần, nhưng cũng có thể chi trả nhiều lần trong một năm (Nguyễn Minh Kiều, 2009).
Cổ tức bằng tiền mặt là số đơn vị tiền tệ mà công ty thanh toán cho chủ sở hữu tính trên một cổ phần, hoặc theo một tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá cổ phiếu.TS Nguyễn Minh Hà Nguyễn Thị Phương Thảo – MFB014A 7 Việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt có những ưu điểm gì để các công ty lựa chọn phương thức này phổ biến như vậy? Đầu tiên có thể kể đến đó là tính thanh khoản của cổ tức tiền mặt rất cao, vì thế các cổ đông có tâm lý sợ rủi ro sẽ mong muốn nhận một lượng tiền mặt ở hiện tại hơn là kỳ vọng vào một lượng tiền không chắc chắn ở tương lai và không tốn thêm chi phí giao dịch. Thứ hai, nếu giá cổ phiếu của công ty bị đánh giá khá thấp thì việc chi trả cổ tức tiền mặt sẽ là lựa chọn phù hợp để gia tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu nhằm giữ chân các cổ đông. Thứ ba, việc trả cổ tức tiền mặt sẽ chứng minh công ty được điều hành hoạt động tốt, có dòng tiền vững mạnh, khả năng thanh toán của công ty rất tốt, và an toàn để đầu tư. Bên cạnh những ưu điểm trên thì phương thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt cũng chứa đựng nhiều nhược điểm.
Thứ nhất, khi chi trả cổ tức tiền mặt sẽ làm tài khoản tiền mặt giảm, nghĩa là giảm tài sản; bên cạnh đó lợi nhuận chưa phân phối của công ty giảm cũng dẫn đến nguồn vốn chủ sở hữu giảm. Thứ hai, nhu cầu chi ra một khối lượng tiền lớn tác động rất mạnh đến khả năng thanh toán của công ty và làm suy giảm nguồn tài trợ cho các dự án đầu tư mở rộng sản xuất trong tương lai. Thứ ba, việc chi trả cổ tức tiền mặt gây ra sự sụt giảm trong giá cổ phiếu đúng bằng cổ tức được chia và cổ đông phải đóng thuế trên giá trị cổ tức được chia nên giá trị nhận được cuối cùng của cổ đông sẽ ít hơn mức cổ tức công bố. Trả cổ tức bằng cổ phiếu Để khắc phục nhược điểm của hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán và đầu tư của công ty trong tương lai, các công ty có thể chọn phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu.
Nghĩa là công ty chi trả thêm cổ phiếu thường cho các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường theo tỷ lệ nhất định và công ty không nhận được khoản tiền thanh toán nào từ phía cổ đông. Hình thức này được các công ty áp dụng khi muốn giữ lại lợi nhuận nhưng vẫn làm các cổ đông an tâm vì họ vẫn nhận được cổ tức. Việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu sẽ làm số lượng cổ phiếu đang lưu hành tăng lên và hạn chế lượng tiền mặt chảy ra ngoài, đẩy mạnh việc tái đầu tư mở rộng sản GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Hà Nguyễn Thị Phương Thảo – MFB014A 8 xuất, tạo cơ hội làm tăng tỉ lệ tăng trưởng lợi nhuận. Số lượng cổ phiếu đang lưu hành tăng lên làm giảm giá cổ phiếu cũng là yếu tố thu hút nhà đầu tư vì khi giá giảm họ sẽ dễ sở hữu cổ phiếu hơn.
Khi công ty phát hành thêm cổ phiếu để chi trả cho các cổ đông sẽ tốn thêm chi phí phát hành cổ phiếu mới, số lượng cổ phiếu đang lưu hành tăng lên có thể làm giá cổ phiếu bị giảm xuống, hơn thế nữa nó sẽ pha loãng cổ phiếu (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Trong trường hợp cổ phiếu của công ty đang bị giao dịch dưới mệnh giá mà công ty chọn chi trả cổ tức (tỉ lệ theo mệnh giá) thì sẽ gây thiệt hại trực tiếp cho cổ đông vì họ phải nhận cổ phiếu với mức giá cao hơn giá giao dịch (bị lỗ). Các công ty cũng có thể lợi dụng hình thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu để che giấu việc thiếu hụt dòng tiền hoặc giữ lại một khoản tiền mặt lớn cho các mục đích cá nhân mà cổ đông khó kiểm soát được. Trả cổ tức bằng tài sản khác Ngoài hai hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt hay cổ phiếu đã trình bày ở trên thì doanh nghiệp còn có thể trả cổ tức cho cổ đông bằng thành phẩm, hàng bán, bất động sản hay cổ phiếu của công ty khác do doanh nghiệp sở hữu.
Hình thức này sẽ làm giảm thành phẩm, hàng hóa của công ty, hay các tài sản khác, làm cho tổng tài sản của công ty sụt giảm, giảm vốn chủ sở hữu của công ty và nghiêm trọng hơn là uy tín của công ty cũng sẽ suy giảm. Chính vì vậy, hình thức trả cổ tức bằng tài sản khác ít được sử dụng trong thực tế. Theo Luật Doanh nghiệp (2005), các công ty cổ phần ở Việt Nam được phép chi trả cổ tức bằng tài sản khác. Nhưng việc trả cổ tức bằng tài sản khác tại Việt Nam hiện nay gặp phải một số vướng mắc nhất định.
Thứ nhất, các văn bản pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể, gây khó khăn cho doanh nghiệp và các cơ quan quản lý trong các thủ tục làm hồ sơ xin phép chi trả cổ tức bằng tài sản. Thứ hai, các cơ quan quản lý gặp khó khăn trong công tác định giá tài sản khác đó, cũng như định giá khoản cổ tức đó để điều chỉnh giá tham chiếu của cổ phiếu. Thứ ba, doanh nghiệp gặp một số khó khăn nhất định trong quá trình triển khai như làm thế nào để chia tròn tỷ lệ cổ tức là tài sản cho tất cả các cổ đông.TS Nguyễn Minh Hà Nguyễn Thị Phương Thảo – MFB014A 9 Mỗi công ty đều có những chính sách cổ tức khác nhau phù hợp vào mỗi giai đoạn phát triển của công ty và tình hình nền kinh tế nói chung. Theo Phan Thị Cúc và Nguyễn Trung Trực (2009) có các chính sách cổ tức thông dụng như sau: Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động xác nhận rằng một doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi doanh nghiệp có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi.
Bởi lẽ, việc chi trả cổ tức sẽ dẫn đến kết cuộc hoặc là doanh nghiệp hy sinh các cơ hội đầu tư có thể chấp nhận được hoặc phải huy động thêm vốn cổ phần cần thiết từ các thị trường vốn bên ngoài tốn kém hơn nhiều so với lợi nhuận giữ lại. Tóm lại, chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động nghĩa là chi trả cổ tức thay đổi từ năm này sang năm khác và tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư của năm sau đó. Phân tích rõ hơn về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động để hiểu được ưu và nhược điểm của chính sách này: - Ưu điểm: Thứ nhất, một công ty chi trả cổ tức theo chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động thì sẽ chủ động được nguồn vốn đầu tư vào các dự án trong tương lai; đặc biệt với những công ty có nhiều cơ hội đầu tư tăng trưởng thì việc ưu tiên sử dụng lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư sẽ tạo ra thế mạnh cho công ty ngày càng phát triển. Thứ hai, công ty sẽ giảm đi áp lực về tài chính khi phải chịu những chi phí huy động vốn tốn kém ở bên ngoài (ví dụ như phát hành thêm cổ phiếu, phát hành trái phiếu, vay nợ ngắn hạn…) với mức chi phí sử dụng vốn cao, vì vậy hệ số nợ của công ty sẽ tăng, rủi ro thanh khoản giảm.
Bên cạnh đó, khi công ty không phát hành thêm cổ phiếu sẽ có lợi hơn cho cổ đông vì họ không phải chia sẻ quyền kiểm soát, biểu quyết và phân chia thu nhập và các cổ đông còn có thể hưởng tránh nộp thuế thu nhập ở mức cao hay hoãn thuế thu nhập cá nhân sang các kỳ sau. - Nhược điểm: Việc chi trả cổ tức theo chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động sẽ phụ thuộc vào cơ hội đầu tư trong tương lai và lợi nhuận sau thuế của công ty, mà cả hai yếu tố này đều sẽ biến đổi qua các năm vì thế cổ tức mà cổ đông nhận được cũng sẽ biến đổi, điều này có thể ảnh hưởng đến tâm lý của các cổ đông, đặc biệt là các cổ đông ưa thích cổ tức ổn định kéo theo giá cổ phiếu của công ty cũng sẽ giảm.TS Nguyễn Minh Hà Nguyễn Thị Phương Thảo – MFB014A 10 Chính sách chi trả cổ tức tiền mặt ổn định Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định được xây dựng trên cơ sở lý thuyết ổn định lợi tức cổ phần.