Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của hiệp định tự do thương mại tới xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ. Chương 2: Tác động của hiệp định tự do thương mại tới xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam. Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị cho xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH TỰ DO THƯƠNG MẠI TỚI XUẤT KHẨU GỖ VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ GỖ 1.
Tổng quan về ngành gỗ và các sản phẩm từ gỗ 1. Khái niệm ngành gỗ và các sản phẩm từ gỗ Gỗ là nguồn nguyên vật liệu tự nhiên, từ hàng nghìn năm trước, đã được con người khai thác và sử dụng. Đến nay, gỗ vẫn giữ vững giá trị trong đời sống, được xem là vật tư chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Gỗ được sử dụng rộng rãi trong các ngành nông nghiệp; công nghiệp chế biến; khai khoáng và cơ sở hạ tầng bao gồm kiến trúc giao thông vận tải; xây dựng nhà máy, xí nghiệp và nhà ở.
Theo thống kê sơ bộ tại thời điểm hiện tại, có khoảng hơn 100 ngành dùng gỗ là nguyên vật liệu sản xuất với trên 22.000 công việc khác nhau và sản xuất ra xấp xỉ 20.000 loại sản phẩm. Các sản phẩm từ gỗ là những vật phẩm được tạo ra thông qua quá trình chế biến và sản xuất bao gồm xẻ, bào, tạo khuôn, lắp ráp tùy theo mục đích sử dụng. Sản phẩm từ gỗ là nhu cầu thiết yếu của con người, có thị trường cung ứng rộng rãi. Sản phẩm đa dạng, phù hợp với mọi đối tượng, tầng lớp dân cư.
Đặc điểm chủ yếu ngành gỗ và các sản phẩm từ gỗ a. Đặc điểm cơ bản Gỗ là tư liệu sản xuất truyền thống, các sản phẩm từ gỗ rất thân thuộc với cuộc sống con người. Việc khai thác và sản xuất gỗ đã hình thành từ nhiều thế kỷ trước, đến nay gỗ vẫn là vật liệu đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của chúng ta đặc biệt là ngành xây dựng, các công trình kiến trúc. Gỗ và sản phẩm gỗ có nguồn gốc thuần túy từ thiên nhiên được lấy từ thực vật.
Gỗ là nguồn tài nguyên tái tạo có thể được bổ sung theo thời gian. Do đó, không giống như nhiên liệu hóa thạch là hữu hạn và không thể tái tạo, gỗ có thể được khai thác bền vững thông qua các hoạt động quản lý rừng có trách nhiệm. Các sản phẩm gỗ mang tính nghệ thuật và lưu truyền văn hóa dân tộc. Từ thời cổ đại, con người đã biết ghi lại những dấu ấn kỷ niệm của mình trên thân gỗ thông qua hoạt động điêu khắc, tạo hình và trang trí.
Các sản phẩm gỗ là minh chứng cho 7 những thời đại lịch sử đã qua, trong đó các phong tục dân gian cũng được lưu trữ qua nhiều thế hệ và truyền lại cho đời sau nhờ khắc trên gỗ. Sản phẩm gỗ vừa mang tính truyền thống vừa tạo giá trị hiện đại. Đồ gỗ thể hiện nét đẹp cổ điển, hài hòa với thiên nhiên, song với vân gỗ đẹp, dễ nhuộm màu, trang trí, tạo phong cách mới, trẻ trung và sáng tạo. Sản phẩm gỗ là mặt hàng được ưa thích, có sức hút mạnh mẽ trên thị trường, đem lại lợi nhuận cao.
Trong những năm gần đây, tầm quan trọng của gỗ được đề cao hơn khi nhu cầu đối với nguồn năng lượng tái tạo gia tăng. Việc sử dụng gỗ làm nhiên liệu sinh học và sinh khối tạo ra một thị trường khổng lồ cho các ngành công nghiệp làm từ gỗ. Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Công nghiệp Italia (CSIL), tổng giá trị sản xuất gỗ của thế giới đạt 500 tỷ USD, trong đó khoảng 170 tỷ USD là giá trị xuất khẩu [2]. Phân loại gỗ tự nhiên Theo Quyết định số 2198-CNR năm 1977 của Bộ Lâm Nghiệp, về việc ban hành Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước, có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/01/1978, gỗ tự nhiên Việt Nam được phân thành 8 nhóm chính.1: Phân loại nhóm gỗ tự nhiên Nhóm gỗ Đặc điểm Nhóm 1 Quý hiếm, màu đẹp, vân nhiều, có hương thơm đặc biệt Nhóm 2 Thân cây to, nặng, cứng, độ bền cao Nhóm 3 Nhẹ và mềm hơn, dẻo dai hơn, độ bền cao Nhóm 4 Có màu tự nhiên, thớ mịn, tương đối bền, dễ gia công Nhóm 5 Phổ biến trong xây dựng và làm đồ nội thất Nhóm 6 Nhẹ, sức chịu đựng kém, dễ bị mối mọt, cong vênh Nhóm 7 Nhẹ, sức chịu đựng kém, dễ bị mối mọt, cong vênh Nhóm 8 Nhẹ, sức chịu đựng rất kém, không bền Hiện nay, phần lớn các quốc gia, tổ chức trên thế giới đều sử dụng tính chất cơ lý của gỗ để làm tiêu chuẩn phân loại nhóm gỗ, trong đó yếu tố khối lượng riêng được chú trọng nhất.
8 Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 12619-2:2019, gỗ tự nhiên Việt Nam được phân thành 6 nhóm gồm: Nhóm các loại quý hiếm, đặc biệt. 5 nhóm còn lại cho các loại gỗ sử dụng khác được phân loại dựa theo tính chất cơ lý gồm: Khối lượng riêng (tiêu chí chủ đạo), độ bền uốn tĩnh và nén dọc. Ngoài ra còn các tiêu chí khác như: Hệ số co rút thể tích, độ bền tự nhiên, khả năng gia công, hong sấy, bảo quản, đặc điểm cây và giá trị kinh tế. Ngoài ra, còn một số loại gỗ bị cấm khai thác, xuất khẩu tại Việt Nam, được thể hiện ở bảng sau: Bảng 1.2: Danh mục thực vật hoang dã cấm xuất khẩu STT Tên Việt Nam Tên khoa học 1 Bách xanh Calocedrus macrolepis 2 Thông đỏ Taxus chinensis 3 Phi ba mũi Cephalotaxus fortunei 4 Thông tre Podocarpus neiifolius 5 Thông Pà Cò Pinus Kwangtungensis 6 Thông Đà Lạt Pinus dalatensis 7 Thông nước Glyptostrobus pensilis 8 Hinh đá vôi Keteleeria calcarea 9 Sam bông Amentotaxus argotenia 10 Sam lạnh Abies nukiangensis 11 Trầm (Gió bầu) Aquilaria crassna 12 Hoàng đàn Copressus torulosa 13 Thông lá dẹt Ducampopinus krempfii Nguồn: Nghị định số 18/HĐBT ngày 19/01/1992 của Hội Đồng Bộ Trưởng c.
Các loại sản phẩm gỗ Có nhiều cách để phân loại các sản phẩm gỗ đã qua chế biến, thông thường dựa trên các tiêu chí sau: theo ngành sản xuất, theo công dụng, theo cấu tạo sản phẩm, tuy nhiên các cách phân loại này đều mang tính chất tương đối. Tại Việt Nam, sản phẩm từ gỗ đã qua chế biến được chia thành: Nhóm đồ thủ công, mỹ nghệ: các sản phẩm chế biến có hàm lượng mỹ thuật cao được chế biến từ gỗ rừng tự nhiên, gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng. Đồ mỹ nghệ bao gồm các loại sản phẩm sau đây: Các sản phẩm sơn mài 9 Các loại tượng bằng gỗ, các sản phẩm bằng gốc và rễ cây. Các loại tranh gỗ: tranh chạm khắc, tranh khảm trai, tranh ghép gỗ.
Các sản phẩm trang trí lưu niệm, quảng cáo. Nhóm đồ nội thất: các loại sản phẩm đồ mộc dùng trong nhà như: bàn ghế các loại, giường tủ, giá, kệ sách,. làm từ tự nhiên, rừng trồng và ván nhân tạo. Nhóm đồ ngoài trời: các loại sản phẩm đồ mộc kiểu Âu Châu, thường dùng để ngoài vườn như: bàn ghế vườn, ghế băng, dù che nắng, ghế xích đu, cầu trượt.được sản xuất từ các loại gỗ rừng trồng.
Nhóm sản phẩm gỗ kết hợp với các loại vật liệu khác: các sản phẩm gỗ được chế biến kết hợp với các loại vật liệu khác như: song, mây, kim loại, nhựa, vải, giả da. không những làm cho sản phẩm có tính thẩm mỹ, tăng độ bền chắc mà còn có ý nghĩa tiết kiệm gỗ. Nhóm sản phẩm gỗ ván nhân tạo: các sản phẩm dạng tấm được sản xuất từ nguyên liệu gỗ và vật liệu xơ sợi, được quét, tráng, trộn keo và dán ép, ghép nối trong những điều kiện áp suất, nhiệt độ và thời gian nhất định. Các loại ván nhân tạo chủ yếu gồm: ván ghép thanh, ván dán, ván dăm, ván sợi.
Nhóm sản phẩm gỗ dùng trong xây dựng công nghiệp: các sản phẩm cốp pha bê tông, cọc gỗ, khung và mái như dầm, cột, kèo, sàn…được sử dụng trong thi công xây dựng các công trình. Ngoài ra còn có các thùng xe gỗ, thuyền gỗ, toa tàu được làm từ gỗ. Vai trò của ngành gỗ và các sản phẩm từ gỗ a. Góp phần phát triển ngành công nghiệp và thúc đẩy kinh tế quốc gia Gỗ và các sản phẩm từ gỗ (G&SPG) của Việt Nam luôn được Nhà nước đặc biệt quan tâm, khuyến khích phát triển, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến.
Ngành công nghiệp gỗ được xem như “đầu tàu” kéo theo các ngành công nghiệp chế tạo, hỗ trợ khác phát triển. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công nghiệp chế biến gỗ đã từng bước khẳng định được vị thế của mình đối với nền kinh tế quốc gia, trở thành ngành kinh tế chủ lực của cả nước với tốc độ tăng trưởng vượt trội, kỳ vọng sẽ đạt 18 tỷ USD trong năm 2023. Như vậy có thể thấy công nghiệp chế biến gỗ đã góp phần thay đổi bộ mặt ngành công nghiệp chế biến nói riêng và 10 nền công nghiệp nước nhà nói chung trong suốt thời gian qua. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng vinh dự trở thành trung tâm chế biến và xuất khẩu gỗ lớn thứ 2 thế giới sau Trung Quốc, theo ông Ngô Sỹ Hoài (Phó Chủ tịch VIFOREST) nhận định.
Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam đã khẳng định được thương hiệu trên đấu trường quốc tế, trở thành ngành công nghiệp then chốt thúc đẩy kinh tế quốc gia. Cung ứng sản phẩm tiêu dùng thiết yếu đa dạng trên thị trường Đối với thị trường xuất khẩu: Ngành gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam là một trong những ngành được đánh giá là hội nhập thành công khi kim ngạch xuất khẩu gia tăng nhanh chóng, luôn giữ vững xuất siêu trong nhiều năm liền và tạo dựng được vị trí xuất khẩu gỗ toàn cầu. Trên thực tế, gỗ đang là ngành hàng xếp vị trí thứ 7 trong 10 ngành hàng mang lại trị giá xuất khẩu cao cho Việt Nam. Các sản phẩm gỗ của nước ta được bạn bè quốc tế đánh giá cao về mặt hình thức, chất lượng và công năng sử dụng.
Thị trường xuất khẩu chính của nước ta trải dài khắp các châu lục trong đó có các đối tác lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đối với thị trường nội địa: Theo thống kê gần đây nhất, Việt Nam có trên 300 làng nghề đồ gỗ trải dài khắp 3 miền Tổ quốc, bình quân mỗi năm tiêu thụ trong thị trường nội địa gần 1 triệu m3 nhiên liệu gỗ và các sản phẩm gỗ từ các làng nghề này.