Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại toàn cầu đã thúc đẩy các quốc gia tham gia ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) nhằm cắt giảm hàng rào thuế quan, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Kể từ khi tham gia Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1993 và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 với tư cách thành viên thứ 150, Việt Nam đã ký kết 15 hiệp định thương mại tự do và đang đàm phán 2 hiệp định mới. Trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu quốc gia, ngành gỗ và sản phẩm từ gỗ (G&SPG) đã vươn lên khẳng định vị trí chủ lực, đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gỗ đứng thứ 5 toàn cầu, thứ 2 châu Á và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Kết thúc năm 2022, giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam đạt 16,928 tỷ USD, vượt 3,8% kế hoạch và tăng 6,1% so với năm 2021; trong đó riêng xuất khẩu G&SPG ước đạt 15,85 tỷ USD, đóng góp mức xuất siêu kỷ lục 14,1 tỷ USD.

Tuy nhiên, bên cạnh các cơ hội cắt giảm thuế quan từ các FTA thế hệ mới, ngành chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam đang đối mặt với nhiều áp lực cạnh tranh và hàng rào kỹ thuật khắt khe. Quá trình phát triển nhanh bộc lộ các hạn chế nội tại như mức độ tự chủ nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp, trình độ công nghệ thiết bị, năng suất lao động và năng lực thiết kế mẫu mã độc lập. Trước thực tế đó, tác giả Hà Thị Hải Quỳnh thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng và lượng hóa tác động của các hiệp định tự do thương mại tới hoạt động xuất khẩu G&SPG của Việt Nam.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệp định thương mại tự do, đồng thời phản ánh thực tiễn phát triển của ngành xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam.
  2. Phân tích, đánh giá tác động của các FTA tới xuất khẩu G&SPG của Việt Nam, làm rõ những thành tựu đạt được cũng như các hạn chế, điểm nghẽn cản trở việc tận dụng ưu đãi cam kết.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách đối với doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy xuất khẩu gỗ phát triển bền vững.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của các hiệp định thương mại tự do tới hoạt động xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm lãnh thổ Việt Nam và các quốc gia đối tác thương mại thành viên FTA. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu và phân tích kéo dài từ năm 2002 đến năm 2023, tập trung phân tích sâu chuỗi số liệu thực chứng giai đoạn 2012 – 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý thuyết dựa trên các định nghĩa kinh tế học quốc tế về liên kết kinh tế khu vực và thương mại tự do. Tác giả phân định khái niệm FTA truyền thống theo Điều 16 Khoản 5 của Hiệp định GATT (1947, 1994) và WTO (1995) – tập trung vào việc loại bỏ thuế quan và hạn chế định lượng thương mại hàng hóa – với khái niệm FTA hiện đại, thế hệ mới (dẫn chiếu theo quan điểm của Matsushita, VCCI, Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc, Vũ Thanh Hương). FTA thế hệ mới mở rộng phạm vi điều chỉnh sang các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, lao động, môi trường và phát triển bền vững. Tác động của FTA được phân tích dưới hai giác độ: tác động tĩnh (tạo lập thương mại và chệch hướng thương mại theo lý thuyết liên minh thuế quan của Jacob Viner) và tác động động (nâng cao năng suất theo quy mô kinh tế, kích thích cạnh tranh, thúc đẩy chuyên môn hóa và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI).

Về phân loại chuyên ngành lâm nghiệp, đề tài căn cứ vào Quyết định số 2198-CNR ngày 19/01/1977 của Bộ Lâm nghiệp (phân chia gỗ tự nhiên Việt Nam thành 8 nhóm) và Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 12619-2:2019 (phân loại gỗ tự nhiên thành 6 nhóm dựa trên tính chất cơ lý với khối lượng riêng là tiêu chí chủ đạo, kết hợp độ bền uốn tĩnh, nén dọc và hệ số co rút). Đề tài cũng hệ thống danh mục 13 loài thực vật hoang dã cấm khai thác và xuất khẩu theo Nghị định số 18/HĐBT ngày 19/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng. Khung pháp lý và kỹ thuật thương mại quốc tế còn bao gồm Hiệp định Đối tác Tự nguyện về Thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) ký với Liên minh châu Âu, cùng các quy định xuất xứ hàng hóa tại Thông tư số 02/2021/TT-BCT của Bộ Công Thương.

Phương pháp nghiên cứu được kết hợp giữa phân tích định tính và định lượng:

  • Phương pháp định lượng: Ứng dụng mô hình hấp dẫn chuẩn tắc (Gravity Model) trên dữ liệu bảng (panel data) để đánh giá tác động của quy mô kinh tế, khoảng cách địa lý, việc tham gia các FTA và các biến kiểm soát tới dòng lưu chuyển xuất khẩu G&SPG của Việt Nam sang các nước đối tác.
  • Phương pháp định tính: Sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, thống kê mô tả, phân tích – tổng hợp và so sánh chỉ số kim ngạch, thị phần, tốc độ tăng trưởng.
  • Nguồn dữ liệu: Cơ sở dữ liệu thống kê thương mại quốc tế TradeMap (Trung tâm Thương mại Quốc tế ITC), Ngân hàng Thế giới (World Bank), cơ sở dữ liệu UN Comtrade của Liên Hợp Quốc, Tổng cục Hải quan Việt Nam, Bộ Công Thương và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của hiệp định tự do thương mại tới xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ

Chương 1 làm rõ các khái niệm cơ bản về ngành gỗ, đặc tính tái tạo của nguyên liệu gỗ, phân loại kỹ thuật và vai trò kinh tế - xã hội. Toàn quốc hiện có hơn 4.000 doanh nghiệp chế biến gỗ hoạt động, tạo việc làm cho khoảng 300.000 lao động (trong đó 2-3% có trình độ đại học, 20-30% công nhân kỹ thuật, còn lại là lao động phổ thông); ngoài ra còn có hơn 300 làng nghề đồ gỗ tiêu thụ bình quân gần 1 triệu m³ gỗ nguyên liệu mỗi năm. Các sản phẩm gỗ chế biến được chia thành 6 nhóm: đồ thủ công mỹ nghệ, đồ nội thất, đồ ngoài trời, sản phẩm gỗ kết hợp vật liệu khác, ván nhân tạo và sản phẩm gỗ dùng trong xây dựng công nghiệp.

Về thể chế thương mại, tác giả lập bảng tổng hợp 15 FTA mà Việt Nam đã ký kết có hiệu lực tính đến năm 2023 và 2 hiệp định đang đàm phán (Việt Nam – EFTA và Việt Nam – Israel). Chương này phân tích chi tiết 5 nhóm cam kết then chốt tác động tới xuất khẩu G&SPG:

  • Cam kết thuế quan xuất nhập khẩu: Điển hình như EVFTA xóa bỏ thuế quan ngay đối với 99% giá trị xuất khẩu G&SPG, 1% còn lại (ván sợi, ván dăm, gỗ dán) giảm về 0% theo lộ trình 4-6 năm; CPTPP cam kết đưa thuế nhập khẩu đồ gỗ vào Canada, Peru về 0% ngay khi có hiệu lực; UKVFTA đưa thuế đồ nội thất về 1,2 - 2% và tiếp tục giảm dần; EAEU cắt giảm thuế sản phẩm gỗ từ 15% xuống 0% kèm cơ chế phòng vệ ngưỡng.
  • Cam kết quy tắc xuất xứ (QTXX): Phân loại hệ thống chứng nhận xuất xứ (C/O mẫu D, E, AK, AJ, VJ, AANZ, AI, AHK, EAV, CPTPP, EUR.1). EVFTA quy định tiêu chí chuyển đổi mã hàng hóa cấp 4 số hoặc hàm lượng nguyên liệu không có xuất xứ không vượt quá 70%. CPTPP áp dụng quy tắc chuyển đổi nhóm CTC cấp 4 số đối với Chương 44 và kết hợp CTC với hàm lượng giá trị khu vực RVC đối với đồ nội thất Chương 94. UKVFTA cho phép tự chứng nhận xuất xứ đối với lô hàng dưới 6.000 Euro theo Thông tư 02/2021/TT-BCT.
  • Hàng rào kỹ thuật (TBT) và kiểm dịch động thực vật (SPS): Yêu cầu minh bạch hóa quy chuẩn, kiểm soát dư lượng hóa chất và tiêu chuẩn an toàn sinh học.
  • Cam kết quyền sở hữu trí tuệ (SHTT): Tiêu chuẩn bảo hộ vượt mức TRIPS/WTO trong CPTPP đòi hỏi bảo vệ bản quyền thiết kế, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp.
  • Cam kết phát triển bền vững: Chương 20 của CPTPP quy định 23 điều khoản về môi trường và đa dạng sinh học; Điều 7 của EVFTA quy định về quản lý rừng bền vững và dẫn chiếu thực thi Hiệp định VPA/FLEGT nhằm ngăn chặn gỗ bất hợp pháp.

Chương 2: Tác động của hiệp định tự do thương mại tới xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam

Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể về thương mại hàng hóa của Việt Nam trước khi đi sâu vào phân tích ngành gỗ. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa giai đoạn 2016 – 2022 tăng từ 176,6 tỷ USD lên 371,9 tỷ USD, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 11,8%/năm. Kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 2017 – 2021 tăng từ 211,1 tỷ USD lên 332,25 tỷ USD, tập trung lớn nhất ở nhóm máy điện, thiết bị điện (HS 85 đạt 118,14 tỷ USD năm 2021) và thiết bị cơ khí (HS 84 đạt 24,11 tỷ USD).

Hoạt động xuất khẩu G&SPG của Việt Nam (phân loại theo mã HS 44 và HS 94) được tổng hợp qua hai giai đoạn phát triển:

Giai đoạn Năm Kim ngạch (tỷ USD) Đặc điểm cơ cấu và tăng trưởng
2012 – 2016 2012 4,67 Tốc độ tăng trưởng bình quân toàn giai đoạn đạt 15%/năm.
2013 5,56 Tăng 16% so với năm 2012.
2014 6,23 Dịch chuyển mạnh từ xuất thô sang chế biến thành phẩm.
2015 6,90 Mở rộng thị trường sau các FTA ASEAN+.
2016 7,00 Đồ nội thất đạt 5,12 tỷ USD, chiếm 73,14% tổng kim ngạch.
2017 – 2021 2017 7,66 Toàn ngành có khoảng 6.500 doanh nghiệp và 400.000 lao động.
2018 8,91 Tăng hơn 1 tỷ USD; đứng thứ 5 thế giới, thứ 2 châu Á.
2019 10,60 Đạt 10,56 tỷ USD, tăng 15,5% bất chấp dịch bệnh ban đầu.
2020 12,40 Đạt 12,37 tỷ USD; đồ gỗ đạt 9,54 tỷ USD (chiếm 77,12%).
2021 14,80 Đạt 14,81 tỷ USD, duy trì xuất siêu trong đỉnh dịch lần thứ 4.

Thị trường xuất khẩu G&SPG tập trung chủ yếu vào 5 đối tác lớn trong giai đoạn 2017 – 2021:

Thị trường Kim ngạch 2017 (triệu USD) Kim ngạch 2021 (triệu USD) Thị phần năm 2017 (%) Thị phần năm 2021 (%) Đặc điểm biến động
Trung Quốc 880,18 1.426,87 35,6 31,3 Luôn dẫn đầu về kim ngạch tiêu thụ toàn giai đoạn.
Nhật Bản 562,44 947,64 22,8 20,8 Thị trường truyền thống ổn định, sụt giảm nhẹ năm 2020 (-8%).
Hoa Kỳ 156,63 922,27 6,4 20,2 Tăng trưởng nhanh nhất; năm 2018 tăng 104%, thị phần tăng vọt.
Hàn Quốc 491,29 696,61 19,9 15,3 Đạt đỉnh thị phần năm 2018 (23,8%), sau đó giảm nhẹ.
Malaysia 40,10 115,66 1,6 2,5 Quy mô nhỏ, dao động dưới 5% thị phần trong khối ASEAN.

Đối với khối CPTPP, năm 2018 tổng kim ngạch xuất khẩu G&SPG của Việt Nam đạt 1,626 tỷ USD. Trong đó, Nhật Bản chiếm thị phần áp đảo với 69%, tiếp đến là Canada (11%), Australia (10%), Malaysia (6%), New Zealand (1%), Singapore (1%), Mexico (1%) và Chile (1%).

Tác giả vận hành mô hình hồi quy Gravity dựa trên các biến quy mô kinh tế (GDP), khoảng cách địa lý, việc tham gia FTA để kiểm định mức độ tương quan đối với thương mại gỗ. Kết quả cho thấy các FTA đã tạo hiệu ứng tạo lập thương mại tích cực, thúc đẩy dòng hàng G&SPG mở rộng quy mô. Dù vậy, chương này cũng phân tích các thách thức lớn sau hội nhập: sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, nguy cơ bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, rủi ro gian lận xuất xứ và tình trạng thiếu hụt năng lực tự thiết kế (phần lớn gia công theo mẫu của khách hàng quốc tế).

Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị cho xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam

Dựa trên các định hướng chiến lược của Nhà nước về xuất khẩu lâm sản bền vững và định hướng đàm phán, thực thi FTA, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cho ngành và doanh nghiệp:

  • Nâng cao giá trị xuất khẩu G&SPG sang các thị trường tiềm năng thông qua nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng đồ gỗ nội - ngoại thất tại EU, Bắc Mỹ và Nhật Bản.
  • Hạn chế tối đa tình trạng thiếu hụt nguồn gỗ nguyên liệu thông qua việc liên kết với các chủ rừng trong nước, mở rộng diện tích rừng trồng gỗ lớn có chứng chỉ quản lý rừng bền vững.
  • Tăng cường sức mạnh chuỗi cung ứng G&SPG trong và ngoài nước, tối ưu hóa chi phí logistics và hình thành mạng lưới cung ứng công nghiệp hỗ trợ (keo dán, phụ kiện kim khí, bao bì).
  • Nâng cao năng lực doanh nghiệp thông qua đầu tư đổi mới công nghệ tự động hóa, nâng cao tay nghề công nhân và cải tiến năng suất lao động.
  • Nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế bằng việc chú trọng khâu thiết kế mẫu mã, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu gỗ Việt Nam thay vì đơn thuần nhận gia công OEM.

Khóa luận đồng thời đưa ra các khuyến nghị chính sách:

  • Đối với Chính phủ: Hoàn thiện quy hoạch đất lâm nghiệp, có cơ chế ưu đãi vốn tín dụng cho các dự án trồng rừng gỗ lớn; đàm phán tháo gỡ rào cản kỹ thuật và bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp trước các vụ điều tra phòng vệ thương mại.
  • Đối với các Bộ, Ngành (Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): Đẩy mạnh phổ biến quy tắc xuất xứ của từng FTA cụ thể; kiểm soát nghiêm ngặt nguồn gốc lâm sản theo chuẩn VPA/FLEGT; đơn giản hóa thủ tục hành chính cấp chứng nhận C/O điện tử và hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ tại nước ngoài.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa toàn diện bức tranh phát triển của ngành G&SPG Việt Nam dưới tác động của các cam kết hội nhập:

  • Phản ánh trung thực chuỗi số liệu kim ngạch xuất khẩu G&SPG: Tăng trưởng từ mức 4,67 tỷ USD năm 2012 lên 7,0 tỷ USD năm 2016; tiếp tục bứt phá từ 7,66 tỷ USD năm 2017 lên 14,81 tỷ USD năm 2021 và chạm mốc 15,85 tỷ USD năm 2022.
  • Làm rõ sự chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo chiều sâu: Tỷ trọng nhóm đồ nội thất chế biến (mã HS 94) chiếm vị trí chủ đạo với 73,14% năm 2016 (đạt 5,12 tỷ USD) và đạt 77,12% năm 2020 (đạt 9,54 tỷ USD), giảm dần tỷ trọng gỗ nguyên liệu thô.
  • Đánh giá cụ thể hiệu quả tiếp cận thị trường FTA: Chỉ ra cơ cấu xuất khẩu vào khối CPTPP năm 2018 (Nhật Bản chiếm 69%, Canada 11%, Úc 10%); sự bứt phá của thị trường Hoa Kỳ (kim ngạch tăng gấp 5,8 lần, từ 156,63 triệu USD lên 922,27 triệu USD trong giai đoạn 2017 – 2021); sự tăng trưởng bền bỉ của thị trường Trung Quốc (đạt 1,43 tỷ USD năm 2021); và tác động từ UKVFTA giúp xuất khẩu sang Anh năm 2021 đạt trên 256 triệu USD (+18%, đồ nội thất chiếm 92%).
  • Về mặt học thuật và đóng góp mới: Đề tài đã hệ thống hóa đồng thời 15 FTA có hiệu lực và kết nối các điều khoản cam kết pháp lý cụ thể (như Điều 7 EVFTA, Chương 20 CPTPP, Thông tư 02/2021/TT-BCT) với số liệu xuất nhập khẩu thực tế. Công trình chỉ ra rõ ràng các điểm nghẽn nội tại về thiếu hụt nguyên liệu hợp pháp và hạn chế bảo hộ sở hữu trí tuệ mẫu mã thiết kế trong chuỗi cung ứng gỗ Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có những giới hạn nhất định được ghi nhận từ nội dung văn bản:

  • Tác giả tự nhận định kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân còn hạn chế, dẫn đến việc phân tích một số khía cạnh chuyên sâu về quy trình công nghệ chế biến và kỹ thuật thương mại lâm sản chưa thật sự bao quát.
  • Về phạm vi dữ liệu: Chuỗi số liệu phân tích định lượng chi tiết các thị trường dừng ở giai đoạn 2017 – 2021 và tổng hợp sơ bộ năm 2022; chưa cập nhật được đầy đủ số liệu thực thi của các hiệp định mới có hiệu lực như RCEP (từ 01/01/2022) hoặc giai đoạn đàm phán hoàn tất của các FTA với Israel và EFTA.
  • Hướng mở rộng tiếp theo: Cần mở rộng chuỗi dữ liệu thời gian sau năm 2022 để kiểm định tác động dài hạn của EVFTA và UKVFTA; đồng thời lượng hóa sâu hơn các hàng rào phi thuế quan mới liên quan đến quy định thẩm định chuỗi cung ứng chống phá rừng (EUDR) của Liên minh châu Âu.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Kinh tế quốc tế và Thương mại quốc tế: Tài liệu cung cấp cách tiếp cận bài bản từ khung lý thuyết FTA (tác động tĩnh, tác động động), phương pháp ứng dụng mô hình trọng lực (Gravity Model) cho tới cấu trúc phân tích ngành hàng xuất khẩu xuất siêu.
  • Các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách thương mại - lâm nghiệp: Phần tổng hợp hệ thống các cam kết cắt giảm thuế quan, quy tắc xuất xứ ưu đãi (Chương 44, Chương 94) và các tiêu chuẩn môi trường phát triển bền vững tại Chương 1 là nguồn tư liệu chuẩn hóa giá trị.
  • Các hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu đồ gỗ: Bảng thống kê chi tiết kim ngạch, thị phần và tốc độ tăng trưởng của 5 thị trường xuất khẩu trọng điểm (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia) cùng các khối thị trường CPTPP, EVFTA tại Chương 2 giúp doanh nghiệp định vị sản phẩm và chủ động đáp ứng các quy tắc xuất xứ để hưởng thuế suất ưu đãi.

Câu hỏi thường gặp

Hiệp định EVFTA mang lại ưu đãi thuế quan và quy tắc xuất xứ cụ thể nào cho gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam?
Trong EVFTA, 99% giá trị xuất khẩu G&SPG của Việt Nam được hưởng mức thuế suất 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực; 1% còn lại (gồm ván sợi, ván dăm và gỗ dán) giảm về 0% theo lộ trình 4-6 năm. Tiêu chí xuất xứ quy định chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp độ 4 số hoặc hàm lượng giá trị nguyên liệu không có xuất xứ tham gia vào quá trình sản xuất không vượt quá 70%.

Tình hình xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang khối thị trường CPTPP năm 2018 diễn ra như thế nào?
Năm 2018, tổng kim ngạch xuất khẩu G&SPG của Việt Nam vào khối CPTPP đạt 1,626 tỷ USD. Trong đó, thị trường Nhật Bản chiếm tỷ trọng áp đảo với 69%, tiếp theo là Canada (11%), Australia (10%), Malaysia (6%), trong khi các quốc gia như New Zealand, Singapore, Mexico và Chile mỗi nước chỉ chiếm khoảng 1%.

Kim ngạch và thị phần xuất khẩu gỗ của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ giai đoạn 2017 – 2021 biến động ra sao?
Năm 2017, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đứng thứ 4 trong 5 thị trường chính với 156,63 triệu USD, chiếm 6,4% thị phần. Trải qua 5 năm, giá trị xuất khẩu tăng liên tục, đạt tốc độ tăng trưởng đỉnh điểm 104% giai đoạn 2017 – 2018 và đạt 922,27 triệu USD vào năm 2021, nâng thị phần lên 20,2%, bám sát kim ngạch của thị trường Nhật Bản.

Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 12619-2:2019 phân loại gỗ tự nhiên dựa trên những tiêu chí cơ lý nào?
TCVN 12619-2:2019 phân chia gỗ tự nhiên thành 6 nhóm: gồm 1 nhóm gỗ quý hiếm, đặc biệt và 5 nhóm gỗ sử dụng khác được phân loại dựa trên tính chất cơ lý với tiêu chí chủ đạo là khối lượng riêng, kết hợp độ bền uốn tĩnh, độ bền nén dọc, hệ số co rút thể tích, độ bền tự nhiên và khả năng gia công hong sấy.

Đâu là những hạn chế nội tại lớn nhất của ngành chế biến gỗ Việt Nam được tác giả chỉ ra khi thực thi các cam kết FTA?
Ngành gỗ Việt Nam bộc lộ 3 điểm nghẽn chính: mức độ tự chủ nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng trong nước có chứng chỉ bền vững còn thấp; chất lượng máy móc thiết bị và năng suất lao động chưa cao; năng lực thiết kế độc lập còn yếu kém khi phần lớn sản phẩm sản xuất theo mẫu đặt hàng của nước ngoài, dẫn đến vướng mắc trong việc đáp ứng các cam kết sở hữu trí tuệ và xây dựng thương hiệu quốc tế.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Thị Hải Quỳnh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực chứng tác động của các hiệp định tự do thương mại tới hoạt động xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ của Việt Nam giai đoạn 2012 – 2022. Công trình làm nổi bật sự tăng trưởng vượt bậc về kim ngạch, thặng dư thương mại và sự chuyển dịch cơ cấu hàng hóa sang các sản phẩm nội thất có hàm lượng chế biến cao tại các thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU và CPTPP. Đồng thời, đề tài đã chỉ rõ những rào cản về quy tắc xuất xứ, tính hợp pháp của nguồn nguyên liệu và quyền sở hữu trí tuệ, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính thực tiễn cao cho cả cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước.