Chương 1: Tổng quan – Trình bày về lý do hình thành đề tài, các mục tiêu của nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, các ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và bố cục của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - Trình bày về khái niệm, cơ sở lý thuyết, giả thuyết cho mô hình nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Trình bày quy trình nghiên cứu, thang đo của các khái niệm nghiên cứu, mẫu nghiên cứu và phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu – Trình bày về kết quả nghiên cứu, kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị - Trình bày các kết quả chính, các đóng góp và n hạn chế của đề tài nghiên cứu từ đó định hướng cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Hệ thống thông tin sức khỏe điện tử (HIS) Việc ứng dụng hệ thống thông tin trong y tế ngày càng trở nên phổ biến trên toàn cầu, các nghiên cứu về việc sử dụng hệ thống thông tin trong ngành y tế cho thấy việc sử dụng hiệu quả hệ thống thông tin có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của tổ chức (Currie và Finnegan, 2011), hệ thống sẽ giúp cung cấp thông tin chính xác vào đúng thời điểm cho người dùng ở các cấp quản lý khác nhau và từ đó được hiệu suất tốt hơn, thực hiện kế hoạch tốt hơn và đưa ra quyết định tốt hơn. Các hệ thống sẽ giúp tăng cường hiệu suất và hiệu quả của các bệnh viên (Ben-Assuli và Leshno, 2012; Safdari, 2014). Từ những tác vụ đơn giản quy trình đến những hình thái phức tạp và tiên tiến hơn (Garg và Agarwal, 2014) được gọi là hệ thống thông tin sức khoẻ điện tử HIS, chúng được chấp nhận và sử dụng rộng rãi (Saghaeiannejad-Isfahani, 2015) tại nhiều nơi.
Hệ thống này sẽ giúp được sử dụng để thu thập, truyền tải, hiển thị và lưu trữ dữ liệu của bệnh nhân (Salahuddin và Ismail, 2015) và được cho là có khả năng cải thiện đáng kể chất lượng chăm sóc y tế và an toàn bệnh nhân, nâng cao hiệu suất của nhân viên và bệnh viện, giảm thiểu lỗi quản lý, cải thiện quyền truy cập vào dữ liệu bệnh nhân; tăng cường quyết định lâm sàng và giảm đáng kể chi phí cung cấp dịch vụ (Aggelidis và Chatzoglou, 2012; Chaudhry et al., 2006; Chauhan và Jaiswal, 2017; Cohen et al., 2016; Maamuom et al., 2015; Yuan et al. Bên cạnh đó cũng có nghiên cứu chỉ ra rằng việc triển khai hệ thống sẽ tốn kém, phức tạp và có thể mang lại kết quả không như mong đợi (Almajali, 2016) mà ngược lại còn tác động tiêu cực đến hiệu suất của bệnh viện (Peikari et al., 2015; Sharma et al., 2016) cũng như không có bằng chứng đảm bảo sự thành công và lợi nhuận thu về (Aggelidis và Chatzoglou, 2012; Shachak et al. Do đó việc đánh giá xem hệ thống có đáp ứng được nhu cầu vận hành và cải thiện hiệu suất bệnh viện, cải thiện dịch vụ khám chữa bệnh là việc cần thực hiện khi quyết định triển khai hệ thống(Gursel, 2014).2 Chất lượng thông tin (Information quality - IQ) Theo Delone và McLean (2003) định nghĩa Chất lượng Thông tin (IQ) là những đặc điểm mong muốn của đầu ra của hệ thống thông tin và tính hữu ích của nó đối với người sử 5 dụng. Các đặc điểm thông tin bao gồm tính kịp thời, định dạng, phạm vi, độ chính xác, tính duy nhất, tính chính xác, tính nhất quán, tính sử dụng được, tính dễ hiểu, tính khả dụng, tính hữu ích, tính đủ đầy, tính súc tích, tính đáng tin cậy và tính liên quan.
Tương tự, Hayrinen (2008) đã mở rộng về IQ để đo lường cả đầu ra và đầu vào của hệ thống thông tin, trong đó sự toàn diện và độ chính xác là hai khía cạnh thường được sử dụng để đo lường chất lượng thông tin. Ở một khía cạnh khác, Cohen et al. (2016) lập luận rằng IQ là một dự đoán quan trọng của sự hài lòng của người sử dụng cuối cùng và kết quả hiệu suất, và định nghĩa nó như đầu ra của hệ thống để đảm bảo chúng có thể sử dụng được, đầy đủ chi tiết, có ý nghĩa, dễ đọc và hiểu, và do đó hữu ích cho việc hoàn thành nhiệm vụ và ra quyết định. Thông tin được tạo ra từ tương tác của bệnh nhân với nhà cung cấp dịch vụ y tế phải có giá trị để hỗ trợ cả quyết định của bác sĩ và quản lý.
Thông tin này có giá trị khi nó chính xác, liên quan, có cấu trúc và được trình bày dưới dạng dễ sử dụng. Thông tin đúng và cập nhật là quan trọng, không chỉ cho việc cung cấp chăm sóc lâm sàng chất lượng cao, mà còn giúp việc duy trì chăm sóc y tế ở mức độ tối ưu, nghiên cứu lâm sàng, dịch vụ y tế, lập kế hoạch và quản lý hệ thống y tế (WHO, 2003).3 Chất lượng hệ thống (System quality - SQ) Cũng theo Delone và McLean (2003) chất Lượng Hệ thống (SQ) được định nghĩa là những đặc điểm mong muốn của một hệ thống Thông tin, tập trung vào các khía cạnh sự sử dụng và các chỉ số hiệu suất. Chúng bao gồm khả năng truy cập, sự tinh vi, hiệu quả, sự thuận tiện, tùy chỉnh, độ chính xác và sự hiện đại của dữ liệu, dễ học và sử dụng, tính linh hoạt, tính tích hợp, tính tương tác, điều hướng, độ tin cậy, thời gian phản hồi, độ chính xác của hệ thống, các tính năng của hệ thống và thời gian hoàn thành. Hayrinen (2008) đề cập đến chất lượng hệ thống như là một trong những yếu tố để đánh giá sự thành công của hệ thống thông tin với các đặc tính như tính dễ sử dụng, tính dễ học và tính hữu ích của hệ thống.
Cohen et al. (2016) định nghĩa nó theo cách khác là trải nghiệm của người dùng về hệ thống từ góc độ kỹ thuật, thiết kế và vận hành. Trải nghiệm này phản ánh các thuộc tính của hệ thống như tính dễ sử dụng, độ tin cậy và thời gian phản hồi. Trong một nghiên cứu khác của Ali và Younes (2013) thì chất lượng hệ thống được đo lường bằng độ tin cậy, độ chính xác, thời gian phản hồi từ đó mang lại sự thuận tiện, sự riêng tư và phản hồi nhanh chóng cho người dùng.
Trong đó tính phản hồi và dễ học nhất định có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự hài lòng của người sử dụng (Cohen et al.4 Tính hữu dụng cảm nhận (Perceived usefulness - PU) Tính hữu dụng cảm nhận được định nghĩa là niềm tin chủ quan của người dùng về lợi ích của việc sử dụng Hệ thống Thông tin Y tế (HIS) để đạt được mục tiêu công việc và tăng cường hiệu suất công việc trong một thực hành y tế (Ali and Younes, 2013; Maamuom et al., 2015), đánh giá mức độ các tính năng của hệ thống phù hợp với nhu cầu và kỳ vọng của người dùng và công việc (Gursel et al. Người dùng thường sử dụng hoặc không sử dụng hệ thống thông tin tới mức họ tin rằng nó sẽ giúp họ thực hiện công việc tốt hơn hoặc tăng cường hiệu suất làm việc của họ (Davis, 1989). Chất lượng thông tin và chất lượng hệ thống đều được cho là có ảnh hưởng đến tính hữu dụng cảm nhận (Ali and Younes, 2013; Maamuom et al. Một nghiên cứu khác từ Dansky et al.
(1999) cho thấy tính hữu dụng cảm nhận có ảnh hưởng tích cực đến thái độ của bác sĩ đến hệ thống và từ đó giải thích một phần ý định hành vi sử dụng hệ thống Gagnon et al.5 Cảm nhận tính dễ sử dụng (Perceived ease of use - PE) Cảm nhận tính dễ sử dụng đề cập đến việc người dùng tin rằng việc sử dụng hệ thống thông tin không đòi hỏi nhiều nỗ lực (Davis, 1989) và dễ quản lý, cũng như mức độ mà hệ thống được coi là dễ hiểu, dễ học và sử dụng (Ali and Younes, 2013). Theo một nghiên cứu từ Gagnon (2014) cho thấy PE ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng hệ thống thông tin của bác sĩ. Các bác sĩ có ấn tượng tích cực về sự dễ sử dụng hệ thống có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất và an toàn trong việc kê đơn thuốc do giảm gánh nặng tâm trí, dẫn đến sự tập trung tốt hơn và ít lỗi y khoa. Tương tự, Ali và Younes (2013) chỉ ra rằng mức độ người dùng cảm nhận được sự dễ sử dụng của IS càng cao, sẽ có tác động tích cực đối với hiệu suất công việc.
Từ đó ta có thể kết luận rằng PE không chỉ có ảnh hưởng tích cực trực tiếp đối với hiệu suất công việc mà còn trung gian hóa ảnh hưởng của IQ và SQ đối với hiệu suất công việc của người dùng.6 Kết quả làm việc của bác sĩ (User performance - PF) Kết quả làm việc của bác sĩ đề cập đến khả năng thực hiện các hành động cụ thể để đạt được một tập hợp các mục tiêu đã đề ra trong khoảng thời gian và các ràng buộc của các bên liên quan và tình huống. Kết quả làm việc của bác sĩ cung mối liên kết mạnh mẽ nhất đến mục tiêu tổ chức chiến lược, sự hài lòng của khách hàng và đóng góp kinh tế.7 Quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân (Doctor–Patient relationship - DP) Sự phát triển sâu rộng của công nghệ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân (DP). Mối quan hệ này là quan trọng để bác sĩ có thể nhận diện bệnh tật và kê đơn thuốc hiệu quả, cũng như để bệnh nhân hiểu về bản chất và hậu quả của bệnh, tham gia vào quyết định điều trị và tuân thủ lời khuyên của bác sĩ (Aziz, 2014). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các cổng thông tin cho bệnh nhân và các công cụ trực tuyến khác đã làm cho hồ sơ y tế trở nên dễ tiếp cận hơn đối với bệnh nhân, tăng cường nhận thức y tế của họ và do đó cải thiện giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân (Ammenwerth, 2012).