CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THÉP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận, Kurniawan & Khafid (2016) sử dụng dữ liệu của 42 công ty tại Indonesia trong giai đoạn 2012-2014 cho thấy, tính thanh khoản của doanh nghiệp có tác động ngược chiều nhưng tốc độ tăng trưởng có tác động cùng chiều đối với lợi nhuận doanh nghiệp. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Thái Ngọc (2015) đã xem xét nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm giúp sử dụng cấu trúc vốn được hiệu quả hơn.
Dữ liệu trong nghiên cứu của tác giả được thu thập từ các báo cáo tài chính của 20 công ty ngành thép Việt Nam được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khóan Hà Nội trong giai đọan năm năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013 để nghiên cứu. Trong nghiên cứu của tác giả sử dụng mô hình hồi quy kinh tế lượng để nghiên cứu những nhân tố tác động đến cấu trúc vốn. Biển phụ thuộc là đòn bẩy tài chính. Gồm sáu biến độc lập là quy mô doanh nghiệp, tính thanh khoản, tốc độ tăng trưởng, thuế thu nhập doanh nghiệp, tài sản cố định hữu hình, đặc điểm riêng của sản phẩm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 73,88% sự thay đổi của biến phụ thuộc là do các biến độc lập. Phân tích hồi quy cho thấy có ba nhân tố tác động đến cấu trúc vốn ngành thép là: quy mô doanh nghiệp, tính thanh khoản, tài sản cố định hữu hình. Ba nhân tố còn lại như tốc độ tăng trưởng, thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc điểm riêng của sản phẩm không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu, nghĩa là không tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép Việt Nam. Dương Phan Trà My (2015) đã hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về giá cổ phiếu, các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và các mô hình nghiên cứu 4 Luan van về giá cổ phiếu.
Đề tài nghiên cứu các nhân tố tác động đến giá cổ phiếu ngành thép các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tp. Hồ Chí Minh, đề tài phân tích được các nhân tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu ngành thép được niêm yết trên sàn HOSE bằng mô hình thực nghiệm, dựa vào chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ tăng trưởng GDP Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu ta thấy được giá cổ phiếu các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp. Hồ Chí Minh bị tác động bởi ba nhân tố là vốn chủ sở hữu, và tỷ lệ tăng trưởng góp, chỉ số giá tiêu dùng.
Trong 3 nhân tố nêu trên, kết quả phân tích hồi quy cho thấy nhân tố có cường độ ảnh hưởng mạnh nhất đến giá cổ phiếu ngành thép là chỉ số giá tiêu dùng. Bên cạnh đó thì sự ảnh hưởng của nhân tố Vốn chủ sở hữu, và tỷ lệ tăng trưởng gặp là biến động cùng chiều với giá cổ phiếu ngành thép, còn chỉ số giá tiêu dùng thì có tác động nghịch chiều. Tạ Đình Hòa (2019) đã nghiên cứu thực hiện trên 17 doanh nghiệp ngành thép Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2004 - 2017. Dựa trên phân tích kết quả hồi quy với dữ liệu bảng không cân bằng, tác giả đã chỉ ra ảnh hưởng của các nhân tố quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy kinh doanh và chi tiêu vốn có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các doạnh nghiệp ngành thép trong giai đoạn nghiên cứu, còn tăng trưởng doanh số thì có tác động tích cực.
Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đây. Đồng thời, hàm ý đối với doanh nghiệp ngành thép nên cân nhắc các hoạt động đầu tư vốn, huy động nợ vay và gia tăng quy mô doanh nghiệp khi hiệu quả của các hoạt động này ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Tuy nhiên, bài viết không chỉ ra được mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lời và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các DN ngành thép Việt Nam. Tổng quan ngành thép Việt Nam 1.1 Tầm quan trọng của ngành.
Sự ra đời của kim loại thép đã góp phần rất lớn vào quá trình phát triển của loài người. Thép dần thay thế các nguyên vật liệu như đá, gỗ…bởi đặc tính vững chắc và dễ tạo hình. Thép xuất hiện ngày càng nhiều: công trình cầu đường, nhà xưởng, đóng tàu, phương tiện vận chuyển, sản phẩm phục vụ sinh hoạt… Nhận biết được tầm quan trọng của ngành thép, hầu hết các quốc gia dành nhiều chính sách ưu đãi để phát triển ngành này. Thép được coi là nguyên vật liệu lõi cho các ngành công nghiệp khác và là ngành công nghiệp trụ cột của nền kinh tế trong quá trình hiện đại hóa đất nước.
Lịch sử hình thành và phát triển. Quá trình hình thành: Ngành thép Việt Nam bắt đầu được xây dựng từ đầu những năm 1960. Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp ta xây dựng, cho ra mẻ gang đầu tiên vào năm 1963. Song do chiến tranh và khó khăn nhiều mặt, 15 năm sau, Khu Liên hợp Gang Thép Thái Nguyên mới có sản phẩm Thép cán.
Năm 1975, Nhà máy luyện cán Thép Gia Sàng do Đức (trước đây) giúp đã đi vào sản xuất. Công suất thiết kế lúc đó của cả khu lien hợp Gang Thép Thái Nguyên là 100 ngàn tấn/năm. Phía Nam: Các nhà máy do chế độ cũ xây dựng phục vụ kinh tế thời hậu chiến (VICASA, VIKIMCO…) Năm 1976, Công ty luyện kim đen Miền Nam được thành lập trên cơ sở tiếp quản các nhà máy luyện, cán Thép mini của chế độ cũ để lại ở Tp HCM và Biên Hòa, với tổng công suất khoảng 80. 6 Luan van Ngành thép Việt Nam chỉ thực sự phát triển trong khoảng 30 năm trở lại đây.
(Nguồn:Báo cáo tổng quan ngành thép của SMC) Giai đoạn từ 1976 đến 1989: Ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng, ngành thép không phát triển được và chỉ duy trì mức sản lượng từ 40 ngàn đến 85 ngàn tấn thép/năm. Giai đoạn từ 1989 đến 1995: Thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước, ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, năm 1990, sản lượng Thép trong nước đã vượt mức trên 100 ngàn tấn/năm. Năm 1990, Tổng Công ty Thép Việt Nam được thành lập, thống nhất quản lý ngành sản xuất Thép quốc doanh trong cả nước. Đây là thời kỳ phát triển sôi động, nhiều dự án đầu tư chiều sâu và lien doanh với nước ngoài được thực hiện.
Các ngành cơ khí, xây dựng, quốc phòng và các thành phần Kinh tế khác đua nhau làm Thép mini. Sản lượng Thép cán năm 1995 đã tăng gấp 04 lần so với năm 1990, đạt mức 450.000 tấn/năm, bằng với mức Liên Xô cung cấp cho nước ta hàng năm trước 1990. Năm 1992 bắt đầu có liên doanh sản xuất Thép sau khi nguồn cung cấp chủ yếu từ các nước Đông Âu không còn nữa. Tháng 04 năm 1995, Tổng Công ty Thép Việt Nam được thành lập theo mô hình Tổng Công ty Nhà nước (Tổng Công ty 91) trên cơ sở hợp nhất Tổng Công ty Thép Việt Nam và Tổng Công ty Kim khí thuộc Bộ Thương mại.
Thời kỳ 1996 - 2000: Ngành thép có mức độ tăng trưởng tốt, tiếp tục được đầu tư mạnh (phát triển mạnh sang khu vực tư nhân): đã đưa vào hoạt động 13 liên doanh, trong đó có 12 liên doanh cán thép và gia công, chế biến sau cán. 7 Luan van Sản lượng thép cán của cả nước đã đạt 1,57 triệu tấn vào năm 2000, gấp 3 lần so với năm 1995 và gấp 14 lần so với năm 1990. Đây là giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Hiện nay, thành phần tham gia sản xuất và gia công, chế biến thép ở trong nước rất đa dạng, bao gồm nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia.
Ngoài Tổng công ty Thép Việt Nam và các cơ sở quốc doanh thuộc địa phương và các ngành, còn có các liên doanh, các công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài và các công ty tư nhân. Sau 2000, tỉ trọng về sản lượng của Tổng Công ty Thép Việt Nam giảm chỉ còn 40% so với 100% trước đó. Và đến thời điểm hiện nay thì chỉ còn khoảng < 30%. Tính đến năm 2002, Việt Nam có khoảng 50 doanh nghiệp sản xuất Thép xây dựng (chỉ tính các cơ sở có công suất lớn hơn 5.000 tấn/năm), công suất từ 100 ngàn đến 300 ngàn tấn/năm.
Năm 2007, theo thống kê sơ bộ, toàn thế giới tiêu thụ 1400 triệu tấn Thép. Trong đó, Việt Nam tiêu thụ < 10 triệu tấn. Hiện nay, lực lượng tham gia sản xuất và gia công chế biến thép trong nước rất đa dạng, bao gồm nhiều thành phấn kinh tế, ngoài Tổng công ty thép Việt Nam và các cơ sở quốc doanh thuộc các ngành, địa phương khác còn có các liên doanh, các công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài và các công ty tư nhân. Theo Báo cáo thị trường thép năm 2020 của Vietnambiz, lũy kế trong cả năm 2020, Việt Nam sản xuất được 17,219 triệu tấn thép thô, tăng 14% so với cùng kỳ năm 2019.
Bán hàng đạt 16,984,915 tấn, tăng 12% so với cùng kỳ 2019.Trong đó xuất khẩu đạt 3.794 tấn, tăng gấp 3,55 lần so với cùng kỳ 2019. Năm 2020, ngành thép Việt Nam vẫn ghi nhận những con số khả quan trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 vẫn đang ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Xuất khẩu thép sang Trung Quốc là điểm nhấn trong năm khi tăng đột biến cả về lượng và trị giá xuất 8 Luan van khẩu.Trong 11 tháng năm 2019, lượng thép xuất khẩu sang nước này đạt 3,25 triệu tấn tương đương với trị giá 1,35 tỷ USD, chiếm 36,53% tỷ trọng xuất khẩu thép 11 tháng 2020 của cả nước. Quy trình sản xuất thép Quy trình sản xuất thép xây dựng thông thường qua 4 giai đoạn cơ bản sau (trích nguồn Thép Hòa Phát): - Giai đoạn đầu tiên: Quá trình xử lý quặng sắt là giai đoạn loại bỏ các tạp chất và xử lý oxy trong quặng sắt để có được gang ở dạng lỏng hoặc gang đúc.
Quặng sắt và than cốc chính là nguyên liệu để sản xuất gang bằng công nghệ lò cao.