mở đầu cho đợt phục hồi nhanh chóng nhất trong lịch sử của đồng đô la. Sự biến động giá dầu thế giới ảnh hưởng đến cán cân thanh toán do cung cầu ngoại tệ, đồng thời mối quan hệ tiêu cực giữa giá trị của đồng đô la Mỹ khi giá dầu tăng hoặc giảm cho thấy được mối tương quan giữa giá dầu thế giới với tỉ giá hối đoái giữa Việt Nam đồng và đô la Mỹ.5) Biến động giá dầu với cung tiền Trên thực tế, giá dầu tăng cùng lúc có xu hướng đẩy lạm phát gia tăng và làm tăng trưởng kinh tế suy giảm nên thường gây khó khăn cho chính sách tiền tệ, các ngân hàng trung ương trên thế giới đều có những động thái nhất định để điều hành chính sách nhằm đảm bảo được những cân đối vĩ mô cơ bản như lạm phát, tăng trưởng hay thất nghiệp và cán cân thanh toán. Với các quốc gia theo đuổi lạm phát mục tiêu, tức ưu tiên kiềm chế giá, thì mỗi khi giá xăng dầu lên cao, họ sẽ phải cân nhắc giữa 2 động thái thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ. Nếu có một cú sốc tác động vào tăng trưởng kinh tế và lạm phát theo hướng ngược nhau như cú sốc về giá dầu thì Ngân hàng Trung ương sẽ gặp khó khăn trong việc cùng lúc phải ổn định lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Nếu chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm hướng tới việc giảm mạnh lạm phát thì điều này sẽ khiến tăng trưởng kinh tế cũng sẽ suy giảm hơn nữa. Nếu thay vào đó Ngân hàng Trung ương cân nhắc khuyến khích tăng cầu thì trong một phạm vi nào đó nhằm trung hòa bớt sự suy giảm của tăng trưởng kinh tế (do cả tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế đều đã suy giảm trước sự gia tăng của giá dầu) bằng chính sách tiền tệ nới lỏng thì kết quả sẽ là lạm phát tăng lên, và một khi lạm phát gia tăng thì kỳ vọng cũng tăng lên theo do đó sẽ khó khăn hơn nữa trong việc kiểm soát lạm phát. Như vậy, khi giá dầu tăng cao thì một chính sách tiền tệ linh hoạt cần thiết phải được thực hiện, đó là chính sách tiền tệ “thắt chặt” vừa đủ để tránh sự thúc đẩy lạm 1 phát hơn nữa từ việc giá dầu tăng cao nhằm kiềm chế việc lan tỏa tới tiền lương, giá các nhóm hàng hóa khác và lạm phát kỳ vọng; và chính sách tiền tệ “nới lỏng” vừa đủ để tránh những tác động tiêu cực không cần thiết tới tăng trưởng kinh tế. Đây là quy tắc hoạch định chính sách linh hoạt, nhưng cũng khó để có thể nói cụ thể hơn.
Câu hỏi về việc chính sách nào sẽ là thích hợp nhất phải được xác định trong từng trường hợp, phụ thuộc vào môi trường kinh tế vĩ mô hiện tại, đặc biệt là những nhân tố khác tác động vào lạm phát hiện tại và những dự báo về giá dầu trong tương lai. Tuy nhiên, đối với các quốc gia theo đuổi lạm phát mục tiêu, thường thì khi giá dầu tăng dẫn đến sức ép lạm phát trong dài hạn sẽ gia tăng hơn mức vốn có. Điều này có nghĩa là chính sách tiền tệ thắt chặt hơn một cách vừa phải là cần thiết để đưa lạm phát trở về với mức lạm phát mục tiêu. Bohi (1989) kết luận rằng ngân hàng trung ương nên thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ khi mà nền kinh tế suy giảm do hậu quả của giá xăng dầu tăng cao.
Tương tự (Bernanke, 1991, Gertler và Watson 1997) cũng cố quan điểm của Bohi cho rằng sau cú sốc tăng giá xăng dầu cục dự trữ Liên bang Mỹ không nên tăng lãi suất. Đặc biệt họ chỉ ra rằng nền kinh tế Mỹ phản ứng khác nhau đối với các cú sốc giá dầu khi mà chính sách tiền tệ nới lỏng được áp dụng hay trong trường hợp lãi suất được giữ cố định. Trong trường hợp chính sách tiền tệ nới lỏng một cú sốc tích cực của giá dầu dẫn đến tăng lãi suất và giảm GDP thực. Trong trường hợp lãi suất được giữ cố định các tác giả này lại thấy cú sốc tích cực của giá dầu dẫn đến tăng GDP thực và lạm phát.
Kết quả nghiên cứu Hamilton và Herrera (2001) lại ngược với quan điểm trên và cho rằng chính sách tiền tệ có ảnh hưởng rất ít trong việc làm giảm bớt đi hậu quả của cú sốc giá dầu. Những nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa biến động giá dầu và nền kinh tế 1.1) Nghiên cứu cú sốc về giá dầu đối với nền kinh tế Mỹ Trước hai cú sốc dầu lửa liên tục trong những năm 1970, Hamilton (1983) đã phân tích mối tương quan giữa giá dầu và sản lượng của nền kinh tế Mỹ trong giai đoạn 1948-1981, và tìm thấy rằng những thay đổi trong giá dầu là nguyên nhân Granger đối với GNP thực tế lẫn GNP danh nghĩa, tỷ thất nghiệp, giá cả trong nước, tiền lương, than đá, kim loại và chỉ số hàng hóa, lãi suất thông thường, và lãi suất trái phiếu cao cấp. Kết quả này bị người ta nghi ngờ vì cho rằng mối tương quan giữa giá dầu và kinh tế vĩ mô chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đặc biệt, sự tương quan giữa giá dầu tăng và GNP thực tiêu cực trong ba quý sau cú sốc dầu mỏ trong giai đoạn kết thúc Chiến tranh Thế giới II và năm 1973, điều này cho thấy rằng tất cả các cuộc suy thoái trong thời gian đó đã đi trước sự gia tăng lớn trong giá dầu thô với độ trễ khoảng chín tháng.
Tuy nhiên những nghiên cứu sau đó của Hamilton (1988, 1996, 2008) tăng cường thêm niềm tin của ông ta rằng mối tương quan giữa giá dầu và các hoạt động kinh tế vĩ mô là có ý nghĩa thống kê. Một số nghiên cứu khẳng định kết quả của Hamilton và cũng đã tạo ra những khám phá đáng kể cho riêng họ như: Gisser và Goodwin (1986) cho rằng giá dầu có ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng tại Hoa Kỳ từ năm 1961-1982, những ảnh hưởng này thậm chí còn vượt quá ảnh hưởng của chính sách tiền tệ và tài khóa. Các tác giả cũng đã chứng minh rằng chính sách tiền tệ và tài khóa đã không thể dự đoán những thay đổi giá dầu, từ đó kết luận rằng thay đổi giá dầu phản ánh ảnh hưởng của các sự kiện ngoại sinh. Một đóng góp đáng chú ý trong nghiên cứu này là việc khám phá ra rằng giá dầu được xác định bởi các yếu tố khác nhau trước và sau năm 1973.
Trước năm 1973, lạm phát là một chỉ báo có ý nghĩa thống kê của giá dầu. Sau năm 1973, người ta thấy lạm phát không phải là một chỉ báo của giá dầu. Kết quả này phù hợp với sự phát triển lịch sử của giá dầu. Các kết quả trước năm 1973 hỗ trợ quan điểm cho rằng việc định giá 1 dầu ở Mỹ bị chi phối bởi cơ quan quản lý, họ đã can thiệp vào lượng cung để đáp ứng với nhu cầu dầu đã bị hạn chế nhằm giữ cho lạm phát có thể kiểm soát.
Các kết quả nghiên cứu sau năm 1973 lại đưa của sự thống trị của OPEC và dựa trên các chỉ số tương đối rộng chứ không được tập trung mạnh trên bất kỳ một biến nào.2) Nghiên cứu ảnh hƣởng bất đối xứng của biến động giá dầu Mặc dù đồng ý với kết quả nghiên cứu của Hamilton, Mork (1989) quan sát thấy rằng những nghiên cứu của các tác giả trước đó chỉ thực hiện trong thời kỳ giá dầu tăng mà không nghiên cứu thời kỳ giá dầu giảm. Để kiểm nghiệm độ bền của kết quả nghiên cứu của Hamilton, Mork (1989) đã cập nhật dữ liệu đến năm 1988 trong đó việc xem xét giai đoạn giá dầu thực tế tăng và giá dầu thực tế giảm được như là các biến riêng biệt để kiểm tra mức ý nghĩa thống kê của tác động giá dầu, phương pháp kinh tế lượng được áp dụng giống như trong nghiên cứu của Hamilton (1983). Kết quả cho thấy rằng các kết luận của Hamilton là không phù hợp với dữ liệu sau năm 1986, khi Hamilton đã ngầm giả định có ảnh hưởng bất đối xứng của những cú sốc dầu: Sự tăng (giảm) giá dầu dẫn đến giảm (tăng) tăng trưởng GDP trong tương lai. Tuy nhiên, ảnh hưởng có thể là không đối xứng, trong đó giá dầu giảm có thể dẫn đến tăng trưởng GDP trong tương lai thấp hơn là việc tăng giá dầu làm chậm lại tăng trưởng GDP (Guo và Kliesen, 2005).3) Nghiên cứu cú sốc giá dầu tại các nƣớc G10, Châu Âu, Châu Á Mở rộng kết quả của Hamilton và kết hợp với những khám phá của Mork và Olsen (1994) về ảnh hưởng bất cân xứng tại các nước G10, châu Âu và châu Á.
Lardic và Mignon (2006), Cunado và Gracia (2005) đã nghiên cứu mối tương quan giữa thay đổi giá dầu và tăng trưởng GDP trên bảy nước thuộc khối OECD bao gồm Mỹ, Canada, Nhật Bản, Đức (West), Pháp, Vương quốc Anh, và Na Uy. Mối tương quan hai chiều giữa thay đổi giá dầu và tăng trưởng GDP đã được thực hiện cho mỗi quốc gia tương tự như kiểm định nhân quả Granger của Hamilton, trong đó đưa ra phương trình hồi quy của biến tăng trưởng GDP với độ trễ của tăng trưởng GDP và biến thay 1 đổi giá dầu. Tương tự như Mork đã thực hiện, giá dầu tăng và giảm thực tế sẽ được đưa vào như là các biến riêng biệt để kiểm tra sự bất cân xứng cho mỗi quốc gia. Kết quả phân tích hai chiều cho thấy mối tương quan tiêu cực giữa tăng trưởng GDP và tăng giá dầu.
Na Uy là quốc gia duy nhất cho thấy một mối tương quan tích cực đáng kể giữa tăng trưởng GDP và tăng giá dầu, không có gì là ngạc nhiên bởi Na Uy là nước có ngành công nghiệp dầu mạnh và là một trong các quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu dầu mỏ trên thế giới. Trong khi đó, mối tương quan với giá dầu giảm và tăng trưởng GDP là tiêu cực, như vậy giá dầu giảm có liên quan với sự sụt giảm tiếp theo trong sự phát triển chung tại các nước OECD này. Sự khác biệt chung giữa các hệ số ước tính cho giá dầu tăng và giảm là những gợi ý cho hiệu ứng bất cân xứng. Trong nghiên cứu về mối quan hệ lâu dài giữa giá dầu và hoạt động kinh tế trong các nước G7, châu Âu và khu vực châu Âu, Lardic và Mignon (2006) thấy rằng giá dầu tăng làm chậm lại hoạt động của nền kinh tế hơn so với giá dầu giảm làm kích thích nền kinh tế.