Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của tần số bôi chất kích thích mủ ethephon 2 5 đến năng suất mủ cao su dõng vô tính rriv 124 trên đất xám tại kampong thom campuchia

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của tần số bôi chất kích thích mủ ethephon 2 5 đến năng suất mủ cao, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Nông Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2019 - 2023

70
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về cây cao su

1.2. Đặc điểm thực vật học

1.3. Yêu cầu sinh thái

1.4. Cấu tạo giải phẫu vỏ và hệ thống mạch mủ

1.4.1. Cấu tạo giải phẫu vỏ

1.4.2. Hệ thống mạch mủ

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Tính chất đất

2.4. Phương pháp thí nghiệm

2.4.1. Các chỉ tiêu

2.4.2. Phương pháp xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của tần số bôi chất kích thích Ethephon 2,5% ở nhịp độ cạo d3 đến chỉ tiêu vành thân trên DVT RRIV 124

3.2. Ảnh hưởng của tần số bôi chất kích thích Ethephon đến năng suất cá thể qua 3 tháng (3/6/2023 - 29/8/2023)

3.3. Ảnh hưởng của tần số bôi thuốc kích thích đến năng suất cá thể theo từng tháng (05/06/2023 - 31/08/2023)

3.4. Ảnh hưởng của tần số bôi chất kích thích Ethephon đến các chỉ tiêu về năng suất trên DVT RRIV 124

3.5. Ảnh hưởng của tần số bôi chất kích thích Ethephon đến hàm lượng cao su khô qua từng tháng

3.6. Ảnh hưởng của tần số bôi chất kích thích Ethephon đến tỷ lệ phần trăm khô mặt cạo trên DVT RRIV 124

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của Ethephon 2 5 đến năng suất mủ cao su

Cây cao su, với tên khoa học là Hevea brasiliensis, đã trở thành một trong những cây công nghiệp chủ lực tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác. Việc sử dụng Ethephon 2,5% như một chất kích thích đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi nhằm nâng cao năng suất mủ cao su. Tại Kampong Thom, Campuchia, nghiên cứu này tập trung vào việc xác định hiệu quả của Ethephon trong việc tăng cường sản lượng mủ của dòng vô tính RRIV 124. Kết quả cho thấy, việc bôi Ethephon có thể làm tăng năng suất mủ lên đến 100% so với không sử dụng chất kích thích.

1.1. Đặc điểm của cây cao su và vai trò của Ethephon

Cây cao su có nguồn gốc từ Brazil và được trồng phổ biến tại Việt Nam. Ethephon là một chất kích thích sinh trưởng, giúp tăng cường hoạt động của hệ thống mủ, từ đó nâng cao năng suất. Việc áp dụng Ethephon 2,5% đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện sản lượng mủ.

1.2. Tình hình sản xuất cao su tại Kampong Thom Campuchia

Kampong Thom là một trong những vùng trồng cao su quan trọng tại Campuchia. Nơi đây có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của cây cao su. Tuy nhiên, năng suất mủ vẫn chưa đạt mức tối ưu, do đó việc áp dụng Ethephon 2,5% được xem là giải pháp khả thi để nâng cao năng suất.

II. Vấn đề và thách thức trong sản xuất mủ cao su

Mặc dù cây cao su có tiềm năng lớn, nhưng sản xuất mủ vẫn gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như thời tiết, sâu bệnh và kỹ thuật khai thác ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất mủ cao su. Việc không áp dụng đúng kỹ thuật cạo mủ có thể dẫn đến giảm sản lượng và chất lượng mủ. Do đó, việc tìm kiếm các giải pháp như sử dụng Ethephon là rất cần thiết.

2.1. Ảnh hưởng của điều kiện thời tiết đến năng suất

Thời tiết là yếu tố quyết định đến sự phát triển của cây cao su. Mưa nhiều hoặc khô hạn kéo dài đều có thể làm giảm năng suất mủ. Việc sử dụng Ethephon có thể giúp cây cao su duy trì sản lượng trong những điều kiện thời tiết bất lợi.

2.2. Vấn đề sâu bệnh trong vườn cao su

Sâu bệnh là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất mủ. Việc áp dụng Ethephon không chỉ giúp tăng sản lượng mà còn có thể cải thiện khả năng chống chịu của cây trước sâu bệnh, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của Ethephon 2 5

Nghiên cứu được thực hiện tại Nông trường Cao su số 4, Kampong Thom, với thiết kế thí nghiệm ngẫu nhiên hoàn toàn. Các nghiệm thức khác nhau về tần số bôi Ethephon 2,5% được áp dụng để đánh giá tác động đến năng suất mủ cao su dòng RRIV 124. Kết quả cho thấy, tần số bôi Ethephon có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất mủ.

3.1. Thiết kế thí nghiệm và các nghiệm thức

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn với 6 nghiệm thức và 3 lần lặp lại. Mỗi nghiệm thức có tần số bôi Ethephon khác nhau, từ không bôi đến bôi 3 lần/năm, nhằm xác định tần số tối ưu cho năng suất.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ các chỉ tiêu như năng suất cá thể, năng suất quan thể và hàm lượng cao su khô. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng các phương pháp thống kê để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

IV. Kết quả nghiên cứu về năng suất mủ cao su

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc bôi Ethephon 2,5% đã làm tăng năng suất mủ cao su dòng RRIV 124. Năng suất cá thể đạt cao nhất ở nghiệm thức bôi 3 lần/năm, với mức tăng lên đến 14% so với nghiệm thức đối chứng. Các chỉ tiêu về năng suất và hàm lượng cao su khô cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể.

4.1. Năng suất cá thể và năng suất quan thể

Năng suất cá thể (g/c/c) qua từng tháng đều đạt cao nhất ở nghiệm thức sử dụng kích thích 3 lần/năm. Cụ thể, tháng 6 đạt 32,8 g/c/c, tháng 7 đạt 31,9 g/c/c, tháng 8 đạt 31,7 g/c/c.

4.2. Hàm lượng cao su khô và tỷ lệ khô mặt cạo

Hàm lượng cao su khô (DRC%) đạt cao nhất ở nghiệm thức sử dụng kích thích 2 lần/năm là 31,3%. Tỷ lệ khô mặt cạo cũng được kiểm soát tốt, với mức độ bệnh nấm hồng ở mức nhẹ, không ảnh hưởng đến năng suất.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng Ethephon 2,5% có tác động tích cực đến năng suất mủ cao su dòng RRIV 124 tại Kampong Thom, Campuchia. Kết quả cho thấy, việc áp dụng chất kích thích này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn cải thiện chất lượng mủ. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa tần số và liều lượng bôi Ethephon nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất mủ cao su.

5.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của Ethephon trong các điều kiện khác nhau, cũng như trên các dòng cao su khác nhau để xác định tính khả thi và hiệu quả của chất kích thích này.

5.2. Tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ mới

Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất cao su, bao gồm cả việc sử dụng chất kích thích như Ethephon, sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của tần số bôi chất kích thích mủ ethephon 2 5 đến năng suất mủ cao su dõng vô tính rriv 124 trên đất xám tại kampong thom campuchia

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 So lược về cây cao su 1.1 Nguồn gốc Cây cao su có tên khoa học là Hevea brasiliensis (họ Thầu Dầu), là cây đa mục đích, được tìm thấy vào giữa thế kỷ 18 trong tình trạng hoang đại ở vùng châu thổ sông Amazone, trải rộng đến vùng Acre, Matto Grosso, Panana của Brazil và một phần của Bolivia, Peru. Cây cao su được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vườn thực vật Sài Gòn năm 1878 nhưng không sống. Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt Nam.Trong 1600 cây sống, 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yém (Bến Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dau (cách Nha Trang 20 km). Năm 1897 đã đánh dau sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam.

Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ: SIPH, SPTR, CEXO, Michelin. Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập. Cho đến nay, cây cao su đã có mặt khắp các tỉnh thành tại Việt Nam từ vùng truyền thống Đông Nam Bộ đến vùng không truyền thống như Tây bắc và duyên hải miền Trung.2 Đặc điểm thực vật học Cây cao su là một loài cây thân gỗ trung bình có chiều cao 20 — 30m vỏ có màu sáng và tương đối láng, có chu kì sống rất dài.

Rễ ăn rất sâu đễ giữu vững thân cây, hấp thu chất bổ dưỡng và chống lại sự khô hạn. Lá thuộc dạng lá kép, mỗi năm rụng lá một lần. Hoa thuộc loại hoa đơn, hoa đực bao quanh hoa cái nhưng thường thụ phan chéo, vi hoa duc chín sớm hon hoa cái. Quả cao su là qua nang có ba mảnh vỏ ghép thành một buồng, mỗi nang một hạt hình bầu dục hay hình cầu, đường kính 2 cm, có hàm lượng dầu đáng kê được dùng trong kĩ nghệ pha sơn (Nguyễn Thị Huệ, 2007).

3 Khi cây đạt độ tuổi 5 — 6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ: các vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tôn hại cho sự phát triển của cây, và nhựa mủ được thu thập trong các thùng nhỏ, quá trình này được gọi là cạo mủ cao su. Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhưng chúng sẽ ngừng sản xuất nhựa mủ khi đạt độ tuổi 26 — 30 năm (Nguyễn Thị Huệ, 2007).3 Yêu cầu sinh thái Vùng sinh thái tự nhiên cây cao su thuộc khí hậu nhiệt đới âm. Nhiệt độ là yếu tố chủ yếu tác động đến sinh trưởng và sản lượng của cây cao su. Các nghiên cứu cho thay cây cao su cần nhiệt độ cao và đều với nhiệt độ thích hợp nhất là từ 25 — 30°C, trên 40°C cây khô héo, dưới 10°C cây cây có thé chịu đựng được trong một thời gian ngắn nếu kéo dài cây sẽ bị nguy hại như lá bị héo, rụng chồi, ngọn ngưng sinh trưởng, thân cây bị nứt nẻ, xì mủ,.

Nhiệt độ thấp 5°C kéo dài sẽ dẫn đến chết cây. Lượng mưa thích hợp đối với hầu hết các dong cao su là từ 1.500 — 2000mm/năm, đối với các vùng có lượng mưa thấp dưới 1.800 mm/năm thì lượng mưa cần phải phân bố đều trong năm, nơi có lượng mưa trong năm lớn nhưng có thời gian khô hạn kéo dài thì mức độ bệnh thấp hơn nơi có lượng mưa thấp nhưng không có thời gian khô hạn rõ rệt. Gió vừa phải giúp cho vườn cây thông thoáng , hạn chế được bệnh và giúp vỏ cây mau khô sau khi mưa, cây cao su thích hợp nhất với gió nhẹ 1 — 2 m/s, khi gió có tốc độ > 17,2 m/s sẽ làm cây cao su gãy cành, gãy thân (Nguyễn Thị Huệ, 2006). Khi trồng cao su trên các vùng đất dốc cần phải thiết lập các hệ thống bảo vệ chống xói mòn rất tốn kém như hệ thống đê, mương, đường đồng mức,.

Hơn nữa các diện tích cao su trồng trên đất đốc sẽ gặp khó khăn lớn trong công tác cạo mủ, thu mủ và vận chuyên mủ về nhà máy chế biến. Do vậy theo Quy trình kĩ thuật cây cao su của Tap đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam (2012), trong điều kiện có thê lựa chọn được, nên trông cao su ở đât có độ dôc dưới 30%. pH đất thích hợp cho cây cao su là 4,5 — 5,5: giới hạn pH của đất có thể trồng cao su là 3,5 — 7,0 (Webster và Baulkwill, 1989) Đất trồng cao su tốt nhất phải có tầng đất canh tác sâu > 2,0 m, trong đó không có tầng trở ngại cho sự tăng trưởng của rễ cao su như lớp thủy cấp treo, lớp kết von dầy đặc, lớp đá tảng. Tuy nhiên trên thực tế, các loại đất có chiều sâu tầng đất canh tác từ 1,0 m trở lên có thê xem là đạt yêu câu đề trông cao su.

Cây cao su phù hợp với đất thịt nặng đến sét, đất có thể trồng cao su phải có thành phan sét ở lớp đất mặt (0 — 30cm) tối thiểu 20% và lớp đất sâu hon (> 30cm) tối thiểu là 25%. Ở nơi có mùa khô kéo dai đất phải có thành phần sét 30 — 40%, ở các vùng khí hậu khô hạn đất có tỉ lệ sét từ 20 — 25% được xem là giới hạn cho cây cao su (Nguyễn Thị Huệ, 2006).2 Cấu tạo giải phẫu vỏ và hệ thống mạch mủ 1.1 Cấu tạo giải phẫu vỏ Thân cây cao su được chia làm 3 phần rõ rệt được sắp xếp từ trong ra ngoài là: g6, tượng tầng, vỏ. - Gỗ: Gồm các tế bào có màng hóa gỗ dày cứng giữ vững cho thân cây đứng vững dẫn nhựa nguyên. Cau tao phần gỗ bao gồm chủ yếu là các sợi gỗ, tracheid và các ống mà hai loại này chịu trách nhiệm dẫn truyền nhựa nguyên (nước và muối khoáng) từ hệ thống rễ lên dé nuôi cây.

- Tượng tầng: Gồm những tế bào phần vỏ và gỗ là nơi phát sinh ra tế bào mới cả 2 phía. Bên trong là gỗ, bên ngoài là vỏ. Các mạch gỗ đưa dinh dưỡng và muối khoáng trừ trong đất lên. Bên ngoài tạo mạch libe và vùng mạch dùng chứa nhựa luyện nuôi thân cây.

- Vỏ: Gồm có 3 lớp: lớp vỏ ban, lớp trung bì và lớp nội bì + Lớp vỏ ban (lớp da me): Là lớp vỏ ngoài cùng cứng gồm các tế bào đã hóa ban. Tầng này dày 1/2 đến 1/3 bề day vỏ gồm những tế bào khô, cứng, sù xì, nứt nẻ. Chức năng bảo vệ phân vỏ mêm bên trong. + Lớp trung bì (lớp da cát): Gồm hai phan rõ rệt, lớp bên ngoài gọi là da cát thô, lớp bên trong gọi là da cát nhuyễn.

Lớp da cát thô có nhiều tế bào đá. Lớp da cát nhuyễn có it tế bào đá hơn, có chứa một ít ống mủ nhưng ít hoạt động. + Lớp nội bì (lớp da lụa): Có cấu tạo bởi các tế bào libe (ống sàng và sợi libe), các hệ thống ống mủ và rất ít tế bào đá. Càng sát tượng tầng càng nhiều ống mủ, càng non trẻ càng nhiêu ông mủ.2 Hệ thống mạch mủ Ong mủ là những tế bào không vách ngăn, nằm nối tiếp nhau trong nội bì, càng sát tượng tang và càng gần về phía góc thì số lượng ống mủ càng nhiều (cây trồng thực sinh).

Ong mủ được xếp thành những vòng đồng tâm vì chúng được biệt hóa từ tượng tang theo những khoảng thời gian nhất định, thường thì 1 — 2 vòng trong một năm. Khi cây lớn lên với sự gia tăng vanh đã đây các vòng này ra phía ngoài, vòng bị đứt khúc và mat chức năng hoạt động. Các ống mủ được sắp xếp theo một góc khoảng 2,1° - 7,1° so với trục thăng đứng của thân cây, hơi nghiêng từ phải trên cao xuống trái. Do vậy, miệng cạo thường dốc theo chiều ngược lại chiều nghiêng của ống mủ nhằm cắt được hêt các ông mủ.

Độ dây vỏ nguyên sinh và số vòng ống mủ gia tăng theo tuổi cây. Số vòng ống mủ tùy thuộc vào dòng vô tính, nhưng sự biệt hóa chúng từ tượng tầng cũng tùy thuộc vào tốc độ sinh trưởng của cây. Trung bình có 26 vòng ống mủ.3 Cơ sở khoa học cho việc sử dụng chất kích thích mủ cho cây cao su Abraham và cộng sự (1968) đã thực hiện nghiên cứu trên 89 hợp chat dé tìm ra chất có khả năng kích thích mủ cao su hữu hiệu nhất và họ đã nhận thấy chỉ có 2,4-C-5 FPA là hiệu quả hơn 2. Trước đó vài năm, etylen oxit, một loại khí có tác dụng tiệt trùng đã có hiệu quả rất hữu hiệu nhưng theo sau đó làm tăng sự hủy hoại nhanh của mô ống mủ và mô chứa mủ hoàn toàn bị khô.

Clorofom va ête, một hợp chất chống hô hấp, mang những nhóm như muối phenylmercuric, phân tử như là hydro, nivaquin, molipdat amôn và những chất diệt khuân như tyfomicin đã được nhét vào thân, kết quả đưa đến sản lượng không ổn định. Nhóm nghiên cứu đã tiếp tục thử nghiệm khí axetylen, picloram, moryphactins, và một phân tử mới được giới thiệu bởi AMCHEM: 2-Chloroethyl phosphonic acid (“CEPA”, Ethrel” và “Ethephon”) chất này khi phân hủy tạo ra khí etylen đã kích thích ra hoa ở cây nho. (1969) đã xác định axetylen, etylen, CEPA va B-hydroxyl hydrazine, một chất mang phân tử etylen khác có hiệu qua kích thích hữu hiệu đối với sản lượng và ít nhất tương đương với những hợp chất auxin truyền thống. Từ những thí nghiệm khác nhau đã được tiến hành, những chất kích thích đều tác động san sinh ra etylen nội sinh trong tế bào.

Điều đó khang định những sự quan sát trước của Abraham xác định ảnh hưởng của nhiều loại chấn thương (cơ học, hoá học và hooc môn) về sản lượng mủ bởi hooc môn tự nhiên mà trong đó bao gồm etylen là đúng dan. Sau những nghiên cứu mở rộng về ảnh hưởng của Ethrel, axetylen và picloram so sánh với 2,4,5-T ca về phương pháp và vị trí áp dung. Một sự kết luận được chú ý là không giống như 2,4,5-T, Ethrel tỏ ra không gây hại đến vỏ tái sinh. Tuy nhiên, với nồng độ cao như là 6,7%; 10% và 13% trong dầu hạt cho đáp ứng tốt nhất và nồng độ thấp hơn không thích được sử dụng.

Vì lẽ đó, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành dé trắc nghiệm những phân tử khác mà giá thấp hơn Ethrel.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề Tác động của Ethephon 2,5% đến năng suất mủ cao su RRIV 124 tại Kampong Thom, Campuchia cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của Ethephon, một chất kích thích sinh trưởng, đến năng suất mủ cao su. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng Ethephon 2,5% có thể cải thiện đáng kể năng suất mủ, từ đó mang lại lợi ích kinh tế cho người trồng cao su tại khu vực Kampong Thom. Tài liệu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất cao su mà còn mở ra hướng đi mới cho việc tối ưu hóa năng suất trong ngành nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất mủ cao su, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của nhịp độ cạo số lần bôi kích thích đến năng suất mủ năng suất lao động và chỉ tiêu sinh lý mủ trên dòng vô tính cao su riiv 114. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà nhịp độ cạo và số lần bôi kích thích có thể tác động đến năng suất mủ, từ đó cung cấp thêm thông tin hữu ích cho việc áp dụng các biện pháp cải thiện năng suất trong sản xuất cao su.