chương I Luật Du lịch (năm 2017) như sau “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyền di của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình trong thời gian không qua | năm liên tục, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tải nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác." Tính đến nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế - xã hội phức tạp, liên quan đến nhiều thành phần như khách du lịch, phương tiện giao thông, cũng như các dịch vụ liên quan. Đồng thời, nó cũng tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia trên toàn thé giới, không chi trong việc phát triển kinh tế mà còn trong việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa, tự nhiên của mỗi địa phương. Như vậy du lịch là một ngành liên quan đến rất nhiều thanh phần khách du lịch, phương tiện giao thông, đoàn đón khách trong đó điển ra các hoạt động du lịch cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội khác có liên quan đến du lịch. Phát triển du lịch bền vững Các khái niệm vẻ du lịch bền vững 6 Khái niệm về du lịch bền vững mới xuất hiện trên cơ sở cải tiễn và nâng cấp khái niệm về du lịch mềm của những năm 90 và thực sự gây được chú ý rộng rãi trong những năm gan đây.
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế (WTTC), 1996 thì: “Du lịch bên vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo dam những khả năng đáp ứng các nhu cầu cho các thẻ hệ du lịch tương lai”. Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các đạng tải nguyên theo cách nào đó dé chúng ta có thé đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thầm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sông., 1998) Mục tiêu của Du lịch bên vững là: Phát triển bèn vững vẻ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, nên phát triển du lịch bền vững cần phái bền vững vẻ kinh tế, thu nhập phải lớn hơn chi phi, phải đạt được sự tăng trưởng cao, ôn định trong thời gian dài, tối ưu hóa đóng góp của ngành du lịch vào thu nhập quốc dân, góp phan thúc đây các ngành kinh tế khác phát trién. Phát triển bền vững vẻ môi trường: Phải sử dụng và bao vệ tài nguyên và môi trường du lịch theo hướng tiết kiệm, bên vững, đảm bảo sự tái tạo và phục hồi của tài nguyên, nâng cao chất lượng của tài nguyên và môi trường, thu hút cộng đông va du khách vao các hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên. Phát trién bền vững về xã hội: Thu hút cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch, tạo nhiều việc làm góp phan nâng cao chat lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương.
cải thiện tính công bằng xã hội, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách. các nhà quy hoạch trong quá trình quy hoạch du lịch cần xem xét đến việc đáp ứng các mục tiêu phát triển du lịch bền vững của các hệ thong lãnh thé được quy hoạch. Dé đạt được sự phát triển du lịch bền vững, trong quá trình phát triển du lịch và quy hoạch du lịch cần phải thực hiện có nguyên tắc. Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững: Các khái niệm về du lịch bền vững đã tiếp tục phát triển và trở thành một phần quan trọng trong lĩnh vực du lịch từ những năm 90 và đặc biệt là trong những năm gần đây.
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế (WTTC). năm 1996, du lịch bền vững được định nghĩa là việc đáp ứng nhu cau hiện tại của du khách và địa phương du lịch mà vẫn đảm bảo có kha năng đáp ứng nhu cau cho các thế hệ du khách tương lai. Du lịch bền vững đặt ra yêu cầu quản lý toàn điện các nguôn lực dé đảm bao rang chúng ta có thé đáp ứng các nhu cau kinh tế, xã hội và môi trường,, trong khi vẫn đuy trì bảo tôn bản sắc văn hóa, sinh thái cơ bản và đa đạng sinh học. Mục tiêu của du lịch bền vững bao gồm: © Phát trién kinh tế bèn vững: Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng, vì vậy, phát triển du lịch bền vững can đảm bảo thu nhập lớn hơn chi phi, đạt được sự tăng trưởng ôn định và ben vững trong thời gian dài, và tối ưu hóa đóng góp của ngành du lịch vào thu nhập quốc dân.
¢ Bao vệ môi trường bền vững: Cần sử dụng và bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch theo cách tiết kiệm và bèn vững, đảm bảo tái tạo và phục hồi tài nguyên, nâng cao chất lượng môi trường và thu hút cộng đồng và du khách tham gia vào các hoạt động bảo tôn môi trường. © Phát triển xã hội bên vững: Can thu hút cộng đồng tham gia vào du lich, tao việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sông của cộng đồng địa phương, cải thiện công bằng xã hội và đa dạng hóa sản phâm du lịch đẻ đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách. Do đó, trong quá trình quy hoạch du lịch, các nhà quy hoạch can xem xét việc đáp ứng các mục tiêu phát triển du lịch bền vững. đông thời tuân thủ nguyên tắc trong quá trình phát triển và quy hoạch du lịch.
Khách du lịch: Theo Tô chức Du lịch Thế giới đã định nghĩa khách du lich là những cá nhân có đặc trưng sau: Đây là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ. Không có mục đích kinh tế cụ thé trong chuyến đi của họ. Khoảng cách từ nơi cư trú đến điểm đến được xác định theo quan điểm của từng quốc gia. § Mặc dù các quốc gia có các định nghĩa riêng về khách du lịch, tuy nhiên, có điểm chung về cách hiểu khái niệm nay.
Khách du lịch thường là những người tạm thời rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ đề đến một địa điểm khác, với mục đích khác nhau như nghi ngơi, kinh doanh, tham dự hội nghị, hoặc thăm gia đình loại trừ trường hợp với mục dich làm công và nhân tht lao ở nơi đến. có thời gian ở lại lưu trú 24 giờ trở lên (hoặc có sử dụng địch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian một năm. Khách du lịch là những người tạm thời ở tại nơi họ đến du lịch với các mục đích như nghỉ ngơi, kinh doanh, hội nghị hoặc thăm gia đình. Theo Luật Du lịch Việt Nam: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề dé nhận thu nhập ở nơi đến.
Khách du lịch được phân chia làm 2 nhóm cơ bản: khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. Khách du lịch quốc tế ( International tourist) Năm 1973, Uy ban thông kê của Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hiệp Quốc ngày nay) đã đưa ra định nghĩa về khách du lịch quốc tế như sau: Theo định nghĩa này, về mặt thời gian, khách du lịch quốc tế được xác định là những người có thời gian lưu lại (thăm viếng) trong quốc gia đó ít nhất là 24h. Tuy nhiên, trong thực tế các đu khách đến một quốc gia khác và lưu trú qua đêm, mặc đù chưa đủ thời gian 24h vẫn được xem xét là khách du lịch quốc tế. Diéu nay ám chỉ rằng khách du lịch quốc tế có thẻ là người nước ngoài đến từ các quốc gia khác hoặc có thê là người Việt Nam định cư ở nước ngoai di du lịch vào Việt Nam, hoặc người nước ngoài thưởng tra tại Việt Nam đi du lịch ra nước ngoài.
Bên cạnh khách đi du lịch có lưu trú qua đêm, có nhóm khách chi đi du lịch trong ngảy. Đối tượng nay được gọi là khách tham quan. Khách du lịch quốc tế đi vào (Inbound tourist); Đây là những người nước ngoài hoặc người của một quốc gia nao đó định cư ở nước khác đến Việt Nam du lịch. Các khách du lịch này thường sử dụng ngoại tệ dé mua hàng hóa và dịch vị khi ở Việt Nam.
Ví dụ điền hình là người Mỹ và người Việt kiều Mỹ đến Việt Nam đề tham quan. Khách du lịch quốc tế di ra (Outbound tourist): Đây là công dân của một quốc gia và người nước ngoài dang cư trú tại quốc gia đó đi ra nước ngoài dé du lịch. Ví du, có thê ké đến người Việt Nam và người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch đến các quốc gia khác như Trung Quốc, Thái Lan và nhiều nơi khác. Khách tham quan ( Excursionist, Day-visitor): là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đẻ đến một địa điểm khác với các mục đích khác nhau, trừ mục đích làm việc vả nhận thủ lao ở địa điểm đó, họ có thời gian lưu lại ở địa điểm đó không quá 24h và không sử dụng các dịch vụ lưu trú qua đêm.
Năm 1963, tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về Du lịch tại Roma (Y), Uy ban thông kê của Liên Hợp Quốc đã đưa ra một định nghĩa về khách du lịch quốc tế như sau: "Khách du lịch quốc tế là người thăm viếng một hoặc nhiều quốc gia khác ngoài quốc gia mà họ thường cư trú, với bat kỳ mục đích nào ngoài việc làm, công việc dé kiếm thu nhập từ quốc gia được thăm.” Các định nghĩa trên cung cấp cái nhìn rõ rằng và chỉ tiết về khách du lịch, tuy nhiên, vẫn còn một số vẫn đề chưa được giải quyết, trong đó có giới hạn về thời gian lưu lại của khách du lịch tại các điểm đến.