Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa, nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng, tái tạo sức lao động và tìm hiểu tự nhiên ngày càng gia tăng. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sở hữu vị trí địa lý thuận lợi tại hạ lưu lưu vực sông Mê Kông cùng hệ sinh thái đa dạng gồm ba vùng sinh thái mặn, ngọt, lợ, tạo tiền đề vững chắc cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch sông nước, du lịch nông nghiệp và du lịch văn hóa. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với những tác động tiêu cực nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng, sạt lở bờ sông, bờ biển và hiện tượng xâm nhập mặn gia tăng vào mùa khô. Bên cạnh đó, các hoạt động thủy điện ở thượng nguồn lưu vực sông Mê Kông đang làm thay đổi đáng kể chế độ thủy văn và nguồn phù sa của vùng. Thực tế phát triển du lịch tại ĐBSCL còn bộc lộ sự trùng lặp về sản phẩm giữa các địa phương, thiếu tính liên kết chuỗi giá trị và chưa có nhiều công trình nghiên cứu hệ thống hóa tác động hai chiều của các nhân tố tự nhiên đối với hoạt động du lịch. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả Nguyễn Trần Minh Đăng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến phát triển du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long".

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến phát triển du lịch ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể để phát triển du lịch của vùng trong giai đoạn 2023 – 2030.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến phát triển du lịch.
  2. Phân tích, đánh giá ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  3. Phân tích những định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ tương tác giữa các điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật) và sự phát triển du lịch vùng ĐBSCL.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSCL; trong đó tập trung khảo sát thực địa tại các điểm tài nguyên trọng điểm như Chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), cống đập Ba Lai (Bến Tre), Đất Mũi (Cà Mau), Thạch Động, Hòn Phụ Tử, đảo Phú Quốc, Hòn Thơm (Kiên Giang), Hồ Tà Pạ, vùng Bảy Núi (An Giang) và Vườn quốc gia (VQG) Tràm Chim (Đồng Tháp).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thống kê thứ cấp được thu thập và phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2010 – 2022 (kết hợp chuỗi số liệu so sánh các mốc 2000, 2010, 2019, 2020 và 2022); các đề xuất định hướng áp dụng cho giai đoạn 2023 – 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm vận dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng các lý luận chuyên ngành Địa lí du lịch và Quản lý du lịch:

  • Khái niệm du lịch: Tiếp cận định nghĩa học thuật của nhà Địa lí Belarus – Pirojnik và định nghĩa pháp lý tại Điều 3 Chương I Luật Du lịch Việt Nam năm 2017.
  • Du lịch bền vững: Vận dụng định nghĩa của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Quốc tế (WTTC, 1996) với 3 trụ cột phát triển: Bền vững về kinh tế (thu nhập lớn hơn chi phí, tăng trưởng ổn định dài hạn), bền vững về môi trường (bảo vệ, tái tạo tài nguyên, duy trì đa dạng sinh học) và bền vững về xã hội (thu hút cộng đồng địa phương, tạo việc làm, đảm bảo công bằng xã hội).
  • Phân loại khách du lịch: Hệ thống hóa tiêu chuẩn của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Luật Du lịch Việt Nam 2017, Tuyên bố La Haye về Du lịch (1989), cùng các tiêu chí phân định khách nội địa theo cự ly và thời gian lưu trú tại Mỹ (cách nơi cư trú ít nhất 50 dặm / 80 km), Canada (ít nhất 25 dặm / 40 km) và Pháp (lưu trú từ 24 giờ đến dưới 4 tháng).
  • Đặc trưng ngành du lịch: Phân tích 6 đặc trưng cơ bản (tính đa ngành, tính đa thành phần, tính đa mục tiêu, tính liên vùng, tính chi phí, tính xã hội hóa) và 3 đặc điểm riêng biệt của du lịch sinh thái (tính giáo dục môi trường cao, góp phần bảo tồn tài nguyên - đa dạng sinh học, thu hút sự tham gia của cộng đồng bản địa).
  • Khung tài nguyên du lịch đặc thù: Đánh giá các dạng tài nguyên như "Văn minh miệt vườn", hệ sinh thái sân chim, 34 khu rừng di tích lịch sử - văn hóa Việt Nam và các cơ sở bảo tồn/thuần dưỡng sinh vật.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu địa lý truyền thống và hiện đại:

  • Phương pháp thu thập tài liệu: Tổng hợp tài liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê Việt Nam 2022, Tổng cục Thống kê, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh ĐBSCL cùng các cơ quan báo chí (Thanh Niên, Tiền Phong).
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội, biến động lượt khách, cơ cấu doanh thu du lịch giai đoạn 2000 – 2020 để lượng hóa xu hướng phát triển.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Thực hiện từ tháng 05/2023 đến tháng 06/2023 theo tuyến lộ trình: TP.HCM – Cần Thơ – Bạc Liêu – Kiên Giang – An Giang – Đồng Tháp – Tây Ninh – TP.HCM nhằm đối soát hiện trạng phân bố tài nguyên, tính chính xác của dữ liệu bản đồ và ghi nhận cảnh quan thực tế.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn từ cán bộ, nhà khoa học tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường, Viện Sinh học Nhiệt đới và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương để nâng cao độ tin cậy của các nhận định.
  • Phương pháp bản đồ và GIS: Khai thác dữ liệu không gian, phân tích lãnh thổ và thành lập hệ thống bản đồ số (Bản đồ hành chính vùng ĐBSCL năm 2022, Bản đồ du lịch các tỉnh ĐBSCL năm 2022).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng điều kiện tự nhiên đến phát triển du lịch

Chương này tập trung làm rõ vai trò tác động đa chiều của các thành phần tự nhiên đến ngành du lịch:

  • Địa hình: Tạo ra cảnh quan du lịch đặc trưng (vùng đồi núi nghỉ dưỡng, hang động, thắng cảnh núi sót). Địa hình chia cắt vừa tạo sự tương phản cảnh quan hấp dẫn, vừa gây khó khăn cho phát triển giao thông tiếp cận.
  • Khí hậu: Nguồn tài nguyên quyết định tính mùa vụ du lịch, nhu cầu nghỉ dưỡng và triển khai các loại hình du lịch thể thao, giải trí ngoài trời. BĐKH cùng hiện tượng thời tiết cực đoan (bão, lũ, nắng nóng kéo dài) gây rủi ro an toàn cho du khách và làm suy giảm chất lượng điểm đến.
  • Thủy văn: Hệ thống mặt nước bãi biển, sông hồ tạo không gian du lịch thể thao, nghỉ dưỡng; suối khoáng nóng phục vụ chữa bệnh. Tuy nhiên, sự chênh lệch lớn về lưu lượng giữa mùa lũ (chiếm 80% tổng lượng nước năm) và mùa kiệt tạo ra tình trạng ngập úng hoặc khô hạn, cản trở lịch trình du lịch.
  • Cơ sở thực tiễn tại Việt Nam: Phân tích đặc trưng địa hình (3/4 diện tích là đồi núi, 1/4 đồng bằng; 335 biểu hiện di sản địa chất phân bố tại 8 khu vực), khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nội chí tuyến (8°30'B – 23°23'B; biên độ nhiệt năm ở Hà Nội là 12,5°C, Huế là 9,4°C, TP.HCM là 3,1°C), mạng lưới 2.360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên (tổng lượng nước 839 tỷ m³/năm, hệ thống sông Mê Kông chiếm 60,43%), hệ thống thổ nhưỡng feralit và sinh vật đa dạng. Từ đó, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro BĐKH, xây dựng tuyến du lịch liên vùng và đẩy mạnh du lịch sinh thái có trách nhiệm.

Chương II: Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Chương II là phần nội dung trọng tâm của công trình, đánh giá toàn diện mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng du lịch vùng:

  • Tổng quan vùng ĐBSCL:
    • Vị trí và phạm vi: Gồm 13 tỉnh/thành phố, diện tích 40.843 km² (chiếm 12,2% diện tích cả nước), trải dài từ 8°30' đến 11° vĩ độ Bắc và từ 103°50' đến 106°50' kinh độ Đông.
    • Địa hình - Thổ nhưỡng: Đồng bằng bồi tụ thấp (độ cao 1 – 5 m), có các vùng trũng ngập (Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên), vùng núi sót Thất Sơn (An Giang, đỉnh Bồ Hong cao 716 m) và đảo Phú Quốc (99 ngọn núi đồi). Đất đai gồm 2,5 triệu ha đất phèn, 1,2 triệu ha đất phù sa ngọt và đất mặn. Bán đảo Cà Mau hàng năm lấn biển từ 60 – 80 m.
    • Khí hậu - Thủy văn - Sinh vật: Nhiệt độ trung bình 24 – 27°C, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Diện tích rừng trên 347.500 ha (53.700 ha rừng tự nhiên), sở hữu 5 Vườn quốc gia tiêu biểu (Tràm Chim, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Mũi Cà Mau, Phú Quốc) cùng nhiều loài quý hiếm trong Sách Đỏ như Sếu đầu đỏ, Cò nhạn, Cá linh, hệ thực vật ngập mặn (mắm, sú, đước, vẹt).
    • Kinh tế - Xã hội: Dân số năm 2022 là 17,97 triệu người (mật độ 588 người/km²; trong đó có 4 cộng đồng dân tộc: Kinh, Chăm, Khmer, Hoa). GRDP vùng năm 2020 đạt khoảng 970 nghìn tỷ đồng (chiếm 11,95% GDP cả nước, giảm so với mức 31,5% năm 1988). Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều là 4,36% (sơ bộ 2021).
  • Hiện trạng phát triển du lịch:
    • Lượng khách du lịch: Giai đoạn 2000 – 2020, tổng lượng khách toàn vùng tăng khoảng 13 triệu lượt. Kiên Giang có tốc độ tăng trưởng khách mạnh nhất (tăng 5.286.680 lượt khách, năm 2020 gấp gần 60 lần năm 2000); Cần Thơ năm 2010 đón 4,8 triệu lượt (tăng 38 lần so với 2000); Đồng Tháp năm 2010 đạt 1,2 triệu lượt (tăng 33 lần so với 2000). Hậu Giang tăng thấp nhất vùng (chỉ tăng 222.824 lượt khách sau 20 năm).
    • Doanh thu du lịch: Doanh thu toàn vùng tăng thêm hơn 20.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2000 – 2020. Thứ tự tăng trưởng doanh thu giữa các tỉnh lần lượt là: (1) Kiên Giang, (2) An Giang, (3) Cần Thơ, (4) Cà Mau, (5) Bạc Liêu, (6) Đồng Tháp, (7) Sóc Trăng, (8) Long An, (9) Bến Tre, (10) Trà Vinh, (11) Vĩnh Long, (12) Tiền Giang, (13) Hậu Giang. Kiên Giang dẫn đầu về doanh thu (năm 2010 đạt 575 tỷ đồng, năm 2020 vượt 7.000 tỷ đồng, gấp 80 lần Hậu Giang). Doanh thu trung bình qua 3 giai đoạn của Hậu Giang chỉ đạt 53,7 tỷ đồng.
    • Tác động của đại dịch COVID-19: Năm 2020, lượng khách và doanh thu sụt giảm mạnh trên toàn vùng:
Chỉ số so sánh (2019 – 2020) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long Vùng Đông Nam Bộ
Lượng khách du lịch 46,4 triệu (2019) xuống 28 triệu (2020) (Giảm 40%) 38,7 triệu (2020) (Giảm 38%)
Doanh thu du lịch 23.838 tỷ đồng (2019) (Giảm 42%) 221.664 tỷ đồng (2019) (Giảm 45%)
  • Tồn tại và khó khăn từ điều kiện tự nhiên và hạ tầng:
    • Tiềm năng thủy điện thượng lưu sông Mê Kông đạt khoảng 53.000 MW (Trung Quốc chiếm 23.000 MW, các đập dòng chính 13.000 MW, phụ lưu 17.900 MW; Lào chiếm 70% công suất hạ lưu). Việc xây đập làm thay đổi 55% diện tích lưu vực thành hồ chứa, giữ lại bùn cát phù sa, gây hạ thấp mực nước mùa khô và gia tăng xâm nhập mặn ở ĐBSCL.
    • Tình trạng thiếu nước sạch sinh hoạt tại các hải đảo; đảo Phú Quốc dự báo nhu cầu nước sạch đạt 70.000 m³/ngày vào năm 2020 và đối mặt áp lực lớn khi dân số đô thị dự kiến chạm mốc 400.000 người vào năm 2030.
    • Hạ tầng du lịch tại các cụm đảo hoang sơ như Quần đảo Hải Tặc (>16 đảo, lớn nhất là đảo Hòn Tre) và Quần đảo Bà Lụa (43 hòn đảo) còn thiếu thốn, công tác thống kê chỉ tiêu du lịch gặp khó khăn.

Chương III: Định hướng phát triển du lịch ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Chương III đề ra các phương hướng và giải pháp phát triển đến năm 2030 dựa trên các căn cứ thực tiễn:

  • 3.1 Những quan điểm, mục tiêu, định hướng chiến lược phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long: Định hướng phát triển du lịch sinh thái, sông nước, biển đảo gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên; tăng cường liên kết nội vùng và liên kết với vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ.
  • 3.2 Những giải pháp nhằm phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030:
    • Đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm du lịch đặc thù nhằm khắc phục tính đơn điệu, trùng lặp giữa 13 tỉnh/thành.
    • Nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông kết nối các tour, tuyến du lịch trọng điểm; giải quyết bài toán cấp nước sạch tại các trung tâm du lịch biển đảo (nhất là TP. Phú Quốc).
    • Chủ động triển khai các mô hình du lịch thích ứng với BĐKH, nước biển dâng và xâm nhập mặn; gắn phát triển du lịch với bảo vệ 5 VQG và các khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước.
    • Tăng cường liên kết công - tư, xúc tiến đầu tư và nâng cao năng lực quản lý của các doanh nghiệp du lịch địa phương (đặc biệt tại các tỉnh có điểm xuất phát thấp như Hậu Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long).

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Đánh giá hệ thống tiềm năng tài nguyên: Khẳng định ĐBSCL có lợi thế vượt trội về hệ sinh thái ngập mặn, ngập phèn, hệ thống 5 VQG (Tràm Chim, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Mũi Cà Mau, Phú Quốc) cùng mạng lưới sông ngòi dày đặc (mật độ sông ngòi đồng bằng đạt 2,0 – 4,0 km/km²), tạo nền tảng vững chắc cho du lịch sinh thái và du lịch văn minh miệt vườn.
  • Lượng hóa sự phân hóa không gian du lịch giai đoạn 2000 – 2020: Phân tích rõ sự chênh lệch phát triển giữa các cực tăng trưởng. Kiên Giang là địa phương dẫn đầu tuyệt đối về lượng khách (tăng 5.286.680 lượt) và doanh thu (tăng 7.851,4 tỷ đồng, gấp 80 lần Hậu Giang). Trong khi đó, Hậu Giang có mức tăng trưởng thấp nhất (doanh thu bình quân chỉ đạt 53,7 tỷ đồng).
  • Chỉ ra tác động tiêu cực của các yếu tố ngoại sinh và tự nhiên: Làm rõ nguy cơ suy thoái tài nguyên nước và phù sa từ 53.000 MW thủy điện lưu vực sông Mê Kông, hiện tượng sụt lún, sạt lở bờ sông bờ biển, thiếu nước ngọt (nhu cầu 70.000 m³/ngày tại Phú Quốc) và mức suy giảm du lịch trong đại dịch COVID-19 (lượng khách giảm 40%, doanh thu giảm 42% trong năm 2020).

Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp học thuật: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố tự nhiên và hoạt động du lịch trong bối cảnh BĐKH tại một vùng đồng bằng châu thổ hạ lưu sông quốc tế.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp chuỗi số liệu thống kê chi tiết, các bản đồ GIS chuyên đề du lịch năm 2022 và đề xuất hệ thống giải pháp định hướng đến năm 2030, hỗ trợ trực tiếp cho các nhà quản lý trong việc khắc phục tính trùng lặp sản phẩm và tăng cường liên kết tour tuyến liên tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Công tác thống kê và thu thập dữ liệu tiêu chí du lịch tại một số địa bàn hải đảo, vùng sâu vùng xa (như quần đảo Hải Tặc, quần đảo Bà Lụa) còn gặp khó khăn trong việc phân tách chính xác giữa khách du lịch thuần túy và cư dân địa phương di chuyển.
    • Chuỗi số liệu phân tích doanh thu và lượt khách bị đứt gãy cục bộ trong giai đoạn 2020 – 2021 do tác động bất khả kháng của đại dịch COVID-19.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đi sâu lượng hóa sức chứa du lịch (carrying capacity) của từng Vườn quốc gia và các khu bảo tồn đất ngập nước trước tác động của hiện tượng xâm nhập mặn.
    • Mở rộng phân tích các kịch bản thích ứng cụ thể của từng mô hình kinh doanh du lịch cộng đồng nông nghiệp theo từng tiểu vùng sinh thái (vùng ngọt, vùng lợ, vùng mặn) đến năm 2030 và tầm nhìn 2050.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên cao học: Chuyên ngành Sư phạm Địa lí, Địa lí học, Quản trị Dịch vụ Du lịch & Lữ hành, Quản trị Tài nguyên & Môi trường cần tài liệu tham khảo về cấu trúc nghiên cứu địa lý du lịch vùng, phương pháp xử lý bản đồ GIS và số liệu thống kê du lịch địa phương.
  • Nhà nghiên cứu và giảng viên: Vận dụng khung lý luận về văn minh miệt vườn, phân loại khách du lịch quốc tế/nội địa và phân tích tác động của các đập thủy điện thượng nguồn Mê Kông đối với kinh tế - xã hội hạ lưu.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp lữ hành: Các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Xúc tiến Du lịch 13 tỉnh ĐBSCL có thể tham khảo ma trận phân hóa doanh thu - lượt khách và định hướng liên kết tour tuyến để khắc phục tính trùng lắp sản phẩm du lịch vùng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể nào và tuyến thực địa được triển khai ra sao? Khóa luận sử dụng 5 phương pháp chính: Thu thập tài liệu thứ cấp, phân tích và tổng hợp số liệu, khảo sát thực địa, tham vấn chuyên gia (Đại học Tài nguyên và Môi trường, Viện Sinh học Nhiệt đới, Sở VH-TT&DL) và phương pháp Bản đồ - GIS. Tuyến khảo sát thực địa được thực hiện từ tháng 05/2023 đến tháng 06/2023 theo lộ trình: TP.HCM – Cần Thơ – Bạc Liêu – Kiên Giang – An Giang – Đồng Tháp – Tây Ninh – TP.HCM qua các điểm mấu chốt như Cống đập Ba Lai, Chợ nổi Cái Răng, Đất Mũi, Thạch Động, Hòn Phụ Tử, Đảo Phú Quốc, Hồ Tà Pạ và VQG Tràm Chim.

2. Sự phân hóa về lượt khách và doanh thu du lịch giữa các tỉnh ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2020 thể hiện như thế nào? Tỉnh Kiên Giang dẫn đầu toàn diện về tăng trưởng với lượng khách tăng thêm 5.286.680 lượt (năm 2020 tăng gần 60 lần so với năm 2000) và doanh thu tăng 7.851,4 tỷ đồng (năm 2020 đạt trên 7.000 tỷ đồng, gấp 80 lần tỉnh Hậu Giang). Cần Thơ và Đồng Tháp có lượng khách năm 2010 tăng lần lượt 38 lần và 33 lần so với năm 2000. Ngược lại, Hậu Giang là tỉnh tăng trưởng thấp nhất vùng với mức tăng khách chỉ đạt 222.824 lượt và doanh thu du lịch trung bình 3 giai đoạn đạt 53,7 tỷ đồng.

3. Hoạt động phát triển thủy điện trên lưu vực sông Mê Kông tác động tiêu cực ra sao đến ĐBSCL? Lưu vực Mê Kông có tổng công suất thủy điện ước tính khoảng 53.000 MW (Trung Quốc chiếm 23.000 MW, dòng chính hạ lưu 13.000 MW, phụ lưu 17.900 MW; Lào chiếm 70% công suất hạ lưu). Việc xây dựng chuỗi đập này làm biến đổi 55% diện tích lưu vực thành hồ chứa, khiến mực nước hạ lưu sụt giảm nghiêm trọng trong mùa khô, giữ lại lượng phù sa màu mỡ và kết hợp với BĐKH làm gia tăng xâm nhập mặn, đe dọa sinh thái và hoạt động du lịch tại ĐBSCL.

4. Đại dịch COVID-19 đã làm biến động các chỉ số du lịch ĐBSCL năm 2020 so với năm 2019 như thế nào? Năm 2020, lượng khách đến ĐBSCL giảm từ 46,4 triệu lượt (2019) xuống còn 28 triệu lượt (giảm 40%), trong khi vùng Đông Nam Bộ giảm 38%. Doanh thu du lịch ĐBSCL năm 2020 sụt giảm 42% (từ mức 23.838 tỷ đồng năm 2019), trong khi Đông Nam Bộ giảm 45% (từ 221.664 tỷ đồng).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trần Minh Đăng đã phân tích một cách toàn diện và khoa học ảnh hưởng hai chiều của điều kiện tự nhiên đến phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bằng việc kết hợp hiệu quả giữa lý luận Địa lí du lịch, kỹ thuật bản đồ GIS, khảo sát thực địa và phân tích chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2000 – 2022, tác giả đã làm rõ bức tranh phân hóa không gian du lịch giữa 13 tỉnh thành cũng như các áp lực lớn từ biến đổi khí hậu và thủy điện thượng nguồn. Các định hướng và giải pháp được đề xuất trong công trình là cơ sở tham khảo có giá trị thực tiễn cho việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái bền vững của vùng ĐBSCL đến năm 2030.