chương 1 Các vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu được trình bày cụ thể, là cơ sở tiền đề trong công tác nghiên cứu tác động của di cư đối với thu nhập bình quân người/hộ gia đình. Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài sẽ được trình bày tiếp theo. Sự khác biệt so các nghiên cứu trước và kết cấu luận văn cũng được trình bày ở phần cuối của chương này. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày tiếp theo ở chương 2.
HV thực hiện: Nguyễn Như Tiên Trang 8 Luận văn Kinh tế học GVHD: TS. Lê Thị Thanh Loan CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày lý thuyết về di cư, thu nhập, hộ gia đình và thu nhập hộ gia đình. Phân tích đặc điểm di cư, tác động di cư và các nguồn hình thành thu nhập hộ gia đình nông thôn, từ đó phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và di cư. Chương này cũng trình bày tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến tác động của di cư và thu nhập của gia đình.
Trên cơ sở đó sẽ xác định được các yếu tố di cư tác động đến thu nhập hộ gia đình nông thôn.1 Khái niệm và đặc điểm của di cư Hiện nay, vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất chung một định nghĩa về di cư. Một số định nghĩa phổ biến được đưa ra như sau: Di cư là một hiện tượng đa diện nói chung liên quan đến việc di chuyển từ nơi này sang nơi khác, một sự thay đổi nơi cư trú vĩnh viễn hoặc tạm thời. Di cư có thể được xác định theo ranh giới không gian là di cư trong nước và di cư quốc tế (Beneberu và cộng sự, 2012). Theo IOM (2005), di cư là sự dịch chuyển dân số, bao gồm bất kỳ sự dịch chuyển nào của một người hay một nhóm người kể cả qua biên giới quốc gia hay trong một quốc gia.
Di cư là một sự di chuyển của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân, bao gồm di cư của người tị nạn, người di cư kinh tế và người di chuyển vì mục đích khác (trong đó có đoàn tụ gia đình). Di cư là một hình thức di chuyển của con người từ đơn vị địa lý hành chính này đến đơn vị địa lý hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chổ ở thường xuyên trong khoảng thời gian xác định. Định nghĩa này đã loại bỏ những trường hợp người sống lang thang, không nhà cửa, di dân mang tính mùa vụ rồi lại về (Huỳnh Ngọc Xuân, 2014). HV thực hiện: Nguyễn Như Tiên Trang 9 Luận văn Kinh tế học GVHD: TS.
Lê Thị Thanh Loan Theo lý thuyết cổ điển của kinh tế học, di cư là kết quả của sự vận hành những quy luật của thị trường lao động. Người lao động ở nơi thừa lao động sẽ di chuyển đến nơi thiếu lao động (Phạm Như Hồ và Nguyễn Bảo Thanh, 2014). Đối với Việt Nam, di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc là quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập vào một đơn vị hành chính - địa lý nhất định. Di cư là sự di chuyển của con người từ nơi này đến nơi khác, đó là chuyển đến một huyện khác, thành phố khác, một tỉnh khác hay một nước khác trong khoảng thời gian nhất định (Tổng cục Thống kê, 2011).
Đối với các nhà nghiên cứu, khái niệm di cư thường được định nghĩa không giống nhau. Mangalam và Morgan (1968) cho rằng, di cư là sự di chuyển vĩnh viễn tương đối của người di cư ra khỏi cộng đồng đang sống đến một đơn vị địa lý khác. Timalsina (2007) xác định di cư là sự thay đổi vĩnh viễn hoặc tạm thời của một cá nhân hoặc một nhóm người, là sự chuyển động vật lý của những người từ nơi này đến nơi khác nhằm cải thiện cuộc sống. Đặng Nguyên Anh (2006) thì cho rằng, di cư thực tế là sự dịch chuyển của dân số đến nơi “đất lành chim đậu” thông qua khối lượng tiền hàng mà người lao động di cư mang, chuyển, gửi về cho gia đình.
Di cư là một chiến lược sống của các hộ gia đình để đối phó với những rủi ro cũng như để tận dụng những cơ hội thu nhập bằng cách phân phối lao động gia đình ở nhiều không gian khác nhau, nhằm đa dạng hóa các nguồn thu nhập gia đình và giảm thiểu những rủi ro. Do vậy, tiền hay hàng hóa gửi về nhà cần được nhìn nhận như một phần không thể tách rời trong chiến lược sinh kế của hộ gia đình (Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm, 2011). Theo cách tiếp cận sinh kế, di cư có thể được giải thích như là một chiến lược gia đình để cải thiện và đa dạng hóa sinh kế của họ và để giảm sự tổn thương trước những cú sốc và căng thẳng (Ellis, 2003). Cũng theo quan điểm lý thuyết này, di cư lao động là một chiến lược kinh tế thực hiện bởi các hộ gia đình để phân bổ nguồn nhân lực hợp lý, để tăng dòng chảy của thu nhập và giảm phạm vi rủi ro kinh tế (Kanaiaupuni, 1999).
HV thực hiện: Nguyễn Như Tiên Trang 10 Luận văn Kinh tế học GVHD: TS. Lê Thị Thanh Loan Theo lý thuyết di cư dựa trên những ý tưởng kinh tế kép của Lee (1966), di cư là kết quả của một sự kết hợp của các yếu tố thúc đẩy và kéo, dựa trên các quyết định hợp lý cá nhân của người di cư. Tuy nhiên, Stark & Bloom (1985) và Hoddinoot (1994) lại cho rằng di cư không phải là kết quả ra quyết định bởi một cá nhân riêng lẽ, mà quyết định di cư là hành động tập thể được thực hiện bởi những người di cư và gia đình của họ, nơi mà người đứng đầu gia đình có một sự chỉ dẫn trong quá trình ra quyết định di cư. Trọng tâm của nghiên cứu này không phân biệt riêng lẻ loại di cư nào, di cư vĩnh viễn hay tạm thời, mà chủ yếu nghiên cứu tác động của việc di cư đối với gia đình của họ.
Một hộ gia đình được gọi là một gia đình di cư khi có ít nhất một thành viên trong gia đình của mình di chuyển đến huyện khác, tỉnh khác, nước khác trong một thời gian nhất định nên khái niệm di cư của Tổng cục Thống kê (2011) sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này.2 Các hình thức di cư Theo Nguyễn Thị Thiềng và Lưu Bích Ngọc (2011) di cư có nhiều dạng và hình thức khác nhau như: Di cư theo độ dài thời gian cư trú, di cư theo khoảng cách di dân, di cư theo tính pháp lý, …Ngoài ra, còn có các hình thức di cư khác như: Di cư cá nhân hay hộ gia đình, di cư thành thị và nông thôn, di cư nông thôn và thành thị, di cư nông thôn và nông thôn… 2.3 Tác động của di cư Các tác động cụ thể của di cư, cho dù là tác động tích cực hay tiêu cực, sẽ phụ thuộc môi trường chính trị, KTXH, cũng như thái độ và nguồn lực của người di cư và gia đình họ. Do đó, di cư vừa là động lực thúc đẩy lại vừa là kết quả của sự phát triển KTXH của một địa phương, một quốc gia nên phải thật sự cần lưu ý, đặc biệt là trong quá trình phát triển kinh tế (IOM, 2005).1 Tác động tích cực Dòng người di cư giúp giải quyết được tình trạng thiếu lao động của các khu công nghiệp, đô thị hay giúp các nhà tuyển dụng tiếp cận nguồn lao động một cách có hiệu quả và thuận tiện hơn, nhờ vậy người di cư có việc làm góp phần tăng thu nhập cho bản thân và gia đình (Bùi Quang Bình, 2010). HV thực hiện: Nguyễn Như Tiên Trang 11 Luận văn Kinh tế học GVHD: TS. Lê Thị Thanh Loan Người di cư có thể học hỏi tiếp thu thêm những kiến thức mới, nghề mới, những kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh từ thành thị, không chỉ vận dụng cho bản thân mà còn có thể truyền tải về cho các thành viên hộ gia đình để mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm tăng thu nhập hộ gia đình (Nguyễn Đình Long và Nguyễn Thị Minh Phượng, 2013).
Di cư giúp điều tiết phân bổ lao động nông thôn, giảm bớt lao động dư thừa, giảm bớt sức ép về diện tích ruộng đất, đồng thời phát triển và hình thành các nguồn thu nhập đa dạng cho hộ gia đình (Bùi Quang Bình, 2010). Di cư cũng là một chiến lược cho các hộ gia đình để đa dạng hóa nguồn thu nhập, không những có được nguồn vốn đầu tư cho đồng ruộng, chăn nuôi, trồng trọt để tăng thu nhập, mà còn cung cấp bảo hiểm chống rủi ro trong sản xuất, mua nguyên vật liệu đầu vào, giúp tiếp thu công nghệ sản xuất mới và đẩy mạnh hơn việc tiêu thụ các sản phẩm sản xuất (Rosenzweig, 1986). Sâu xa hơn, có thể mở ra phương thức để chuyển đổi từ hệ thống sản xuất gia đình sang thương mại (De Brauw và cộng sự, 2001). Di cư giúp tiếp thu kiến thức mới và tích lũy vốn tạo sự tăng trưởng kinh tế nói chung và sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn (Ercolani và Wei, 2010).
Tiền gửi từ người di cư có thể tạo ra hiệu ứng số nhân ở các cộng đồng địa phương người di cư thông qua đầu tư. Thu nhập bổ sung được tạo ra bởi chi phí tiêu dùng của hộ gia đình đối với hàng hóa và dịch vụ được sản xuất tại địa phương, do đó thúc đẩy thu nhập của những người khác trong làng (Rozelle và cộng sự, 1999; De Brauw và cộng sự, 2001). Di cư đang góp phần đáng kể vào việc cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống, tạo vốn kiến thiết cho sự phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn hiện nay (Đặng Nguyên Anh, 1997).2 Tác động tiêu cực Hầu hết những người di cư là nguồn lực tinh tú (người lao động trẻ, khỏe, có trình độ văn hóa, tay nghề …) để lại nông thôn những người già, trẻ em dẫn đến thiếu lao động, tạo nên sự mất cân đối cục bộ, làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và những hoạt động nông thôn (Nguyễn Đình Long và Nguyễn Thị Minh Phượng, 2013). HV thực hiện: Nguyễn Như Tiên Trang 12 Luận văn Kinh tế học GVHD: TS.
Lê Thị Thanh Loan Di cư gây thiếu hụt lao động nông nghiệp, kéo theo giá trị lao động tăng lên, chi phí sản xuất tăng gây thiệt hại đến năng suất và thu nhập nông nghiệp của hộ gia đình nông thôn (Kirsten và cộng sự, 2002).