Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương này bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, đối tượng kháo sát và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Co' sở' ỉý thuyết và khung phân tích. Chương này trình bày các cơ sở của nghiên cứu bao gôm các khái niệm, tông quan lý thuyêt vê các biên phụ thuộc và các biến độc lập, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan.
Đây cũng là nền tảng lý thuyết để nhóm tác giá đề xuất khung phân lích. Chương 3: Phuơng pháp nghiên cứu. Chương này trình bày chi tiết vồ dừ liệu và phương pháp nghiên cún, trong đó mỏ tả chi tiẻt vê tập dừ liệu, phương pháp nghiên cửu và mô hình thực nghiệm cũng như mô tá các biển được sử dụng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương này trình bày chi tiết kết quá nghiên cứu thực nghiệm Chương 5: Kốt luận và kiến nghị. Chương này kết thúc nghiên cứu với một bán tóm tắt các phát hiện chỉnh và khuyến nghị chính sách cũng như bao gồm một số nhận xét về nhừng hạn che của nghiên cứu. 4 CHƯƠNG 2: co SỎ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 2. Các khái niệm chính trong nghiên cứu 2.
Di cu Hiện nay, định nghía về di CU’ chưa cỏ sự thong nhất và được xác định dựa trên những lĩnh vực hoặc góc độ nghiên cửu khác nhau. Theo Liên hiệp quốc, di cư là sự di chuyển từ một đơn vị lành thổ này lới một đon vị lãnh thố khác, hoặc là sự di chuyển về khoáng cách tối thiêu quy định. Sự di chuyên này diền ra trong một khoảng thời gian nhất định và được đặc trưng bời nơi cư trú. Di cư có thê được thành nhiều hình thức khác nhau tuỳ vào khía cạnh nghiên cứu cụ thế là gỉ.
Theo khoảng cách lành thổ có di cư quôc tế và di cư nội địa; theo hướng di chuyên có di cư nông thôn - thành thị, di cư nông thôn - nông thôn, di cư thành thị - nông thôn, di cư thành thị - thành thị; theo độ dài nơi cư trú chia thành di cư lâu dài, di cư tạm thời, di cư mùa vụ, di cư con lắc; theo tính chất pháp lý chia thành di cư hợp pháp và di cư bất hợp pháp; theo đặc trưng di cư có thể phân thành di cư có lổ chức và di cư tự phát. Lao động di CU’ Theo Tô chức Lao động Ọuốc tế (ILO), lao động di cư được định nghía là sự di chuyến của con người lừ vị trí địa lý này đến vị trí địa lý khác nhàm tìm kiếm việc làm mang lại lợi ích cho bản thân. Một định nghĩa khác từ Tô chức Di cư Quốc tc (IOM) rằng, di cư lao động là việc những người di chuyên khỏi chồ ở cùa mình tới một quốc gia khác hoặc một vùng khác trong quốc gia vỉ mục tiêu tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên, thuật ngừ này hiện vần chưa có sự nhất quán một cách chính xác, theo IOM.
Có thế hiếu lao động di cư diễn ra vi các lỷ do, bao gồm cơ hội làm viộc tốt hơn, thu nhập cao hơn, điều kiện sống tổt hơn, thay vì mục đích di cư đê tim một nơi ờ mới. Tô chức IOM đôi khi sừ dụng thuật ngừ di cư kinh tể đê hàm ý cho lao động di cư. Tuy nhiên trong khi lao động di cư nhăm chi răng di cư vi mục đích việc làm thi di cư kinh tế còn cỏ một nghĩa rộng hơn là di cư vỉ các mục đích kinh tế khác như đâu tư, công tác. Chính vì thế cần hiêu rõ ngừ cánh để sử dụng các khái niệm này một cách chính xác.
Lao động di CU' nông thôn Lao động di cư nông thôn là khái niệm được kết hợp từ hai khái niệm đã được trinh bày ở trên: di cư và lao động di cư. Theo đó, thuật ngữ này được hiểu là nhưng người di chuyến từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị với mục đích là tỉm kiếm cơ hội làm việc tốt hơn, thu nhập caơ hơn, và một cuộc sống có chất lượng hơn. Lao động di cư nông thôn là một phàn cúa quá trinh đô thị hỏa và sự phát triên kinh tế, phán ánh của sự chuyên động từ nền kinh tế nông nghiệp đến nền kinh tế công nghiệp hoặc dịch vụ. Lý thuyết về các nhân tố hút - đẩy (Push - Pull Factors) Lý thuyết của Everett S.Lee (1966) về di cư lả mô hình “lực hút và lực đấy” được mở rộng từ “Quy luật di dân” cùa Ravenstein.
Lee đà chỉ ra rằng “lực đây xuất hiện tại nơi ờ gốc chăng hạn sự nghèo đói, thất nghiệp, gia tăng dân sổ nhanh, địa vị xà hội thấp và đàn áp chính trị. Các lực kéo thỉ lại xuất hiện tại nơi đển như thu nhập và triên vọng công việc tôt hơn, hệ thông giáo dục chât lượng và phúc lợi xã hội tôt, môi trường và điều kiện sổng tôt, tự do chính trị,. sẽ tác động đến quyết định di dân cùa mồi các nhân”. Tức là di cư được quyết định bời các yếu tố mang lính “hút” và “đấy”.
Cụ thể, lực đấy mang tính tiêu cực khiến cho người lao động có xu hướng rời khói nơi họ đang sống đô tim kiếm cơ hội và cải thiện cuộc sống; lực hút mang tính tích cực, hấp dần khiến cho người lao động muốn chuyên tới một nơi khác - nơi có triên vọng về công việc, phúc lợi, môi trường.Trong hai yếu tố, yếu tổ “lực đây” có vai trò quan trọng quyết định hơn. Trong nhiều trường hợp thực tế, người lao động quyết định di cư chí đơn thuần do họ bị đây khỏi nơi cư trú dù có the nơi đến không mang lại nhiều lợi ích hơn khu vực sinh sổng hiện tại. Bên cạnh đó, Lee cũng đề cập đến nhũng trở ngại trung gian tác động đến di dân như khoảng cách địa lý, chi phí cúa việc di cư, rào càn văn hóa như ngôn ngữ hoặc cách sống, rào cán chính trị như chính sách hạn chế nhập cư. và đặc biệt là phản ứng của cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định di cư cúa mồi người, Lee đà khắng định trong một số trường hợp cụ the thi người này có the SC chuyên đi nhưng người khác lại quyết định ớ lại.
Lý thuyết kinh tế mói về di CU' lao động Lý thuyết kinh tể mới về di CU' lao động (Stark và các cộng sự) chú ý đến vai trò cùa các mối quan hệ gia đỉnh trong quyết định di cư. Lý thuyết này cho ràng là quyết định di cư không phái do một cá nhân đơn lé đưa ra mà do một gia đình hoặc hộ gia đình thực hiện nhằm tổi đa hóa lợi nhuận dự kiến và giảm thiêu rủi ro liên quan đến thất bại thị trường. Thông qua di cư, các hộ gia đình đa dạng hóa nguồn lực của họ, chắng hạn như lao động, đế khắc phục tình trạng mất thu nhập và giâm thiểu rủi ro thu nhập (Stark và Bloom, 1985). Hơn nừa, di cư còn được coi là một chiến lược nhằm khắc phục nhừng hạn chế thị trường khác nhau, bao gồm thị trường tín dụng (vốn) và rủi ro (báo hiêm) không hoàn háo phô biên ờ các nước đang phát triôn (Taylor, 1986).
Lý thuyỗt của Stark và các cộng sự đà đóng góp một cách quan trọng cho việc hiỗu về động cơ và tác động của di cư lao động, đặc biệt là bằng cách đưa vào yếu tố gia đình và mổi quan hệ xã hội vào quá trình ra quyết định. Tổng quan nghiên cún 2. Mối quan hệ giữa di CU' và chi tiêu ăn uống của hộ gia đình Theo nhiều nghiên cứu có liên quan, tiền gửi di cư giúp tăng chi tiêu ăn uống của hộ gia đinh. Chăng hạn, kết quá nghiên cứu của Công và Paul (2011) chí ra rằng di cư ngan hạn có tác động tích cực den chi lieu lương thực bình quân đầu người nói chung.
Di cư dài hạn dường như cũng có tác động tích cực đến liêu dùng, nhưng lác động thường không đáng kê và ờ mửc độ nhô hơn so với di cư ngắn hạn. Hay nghiên cứu của Kakhkharov và cộng sự (2020) cùng cho biết các hộ gia đình có xu hướng chi phần lớn thu nhập từ di cư cho thực phâm hàng ngày. Tuy nhiên, cũng có những bài nghiên cứu khác đưa ra kết quá ngược lại. Phân tích của Mahapatro và cộng sự (2015) cho thấy so với các hộ không nhận tiền gửi di cư, các hộ nhận tiền gửi về sẽ chi tiêu ít hơn cho thực phấm và nhiều hơn cho giáo dục và chăm sóc sức khỏe.
Như vậy, tiền gứi di cư có thể có mối quan hệ thuận chiều hoặc cũng có thê cỏ mối quan hệ ngược chiều với chi tiêu ăn uổng của hộ gia đinh. Mối quan hệ giũa di CU' và chi tiêu y tế của hộ gia đình Tiền gửi di cư có thể ánh hường đến hành vi chi tiêu y tế của hộ gia đinh, tùy mức độ phụ thuộc vào nguồn thu nhập này, sự ôn định của nó, nhừng kỳ vọng và thái độ cùa người gứi và người nhận tiền. Một nghiên cứu cúa (Tabuga, 2007) đã chi ra rằng 7 các hộ gia đinh nhận được tiên gửi di cư cỏ xu hướng chi tiêu nhiều hơn cho y tế. Nghiên cứu của Taylor và Mora (2006) cũng chi ra các hộ gia đinh có người di cư trong nước có tỷ lệ ngân sách cận biên tương đổi lớn cho y tế.
Tiền gửi di cư có thê giúp hộ gia đinh có them thu nhập đe chi trá cho các dịch vụ y tế khi cần thiết, đặc biệt là khi họ không có bào hiêm y tế hoặc bảo hiỗm y tế không đu chi trả. Một sô nghiên cứu được thực hiện ờ Bangladesh đã chi ra rằng di cư được coi là một biện pháp cái thiện phúc lợi hộ gia đình (Raihan và cộng sự, 2009; Sharma và Zaman, 2009; Wadood và Hossain, 2017). Khi đó, hộ gia đỉnh sẽ có khá năng lài chính đê chi tiêu cho y tế. Như vậy, tiền gửi di cư có quan hệ thuận chiều với chi tiêu y tế cùa hộ gia đinh.
Mối quan hệ giữa di CU’ và chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Tiền gừi di cư đà được nhiều nhà nghiên cứu phân tích rằng chúng có ánh hường đến chi tiêu giáo dục. Theo Adam Jr và Cuecuecha (2010), các hộ gia đình khi nhận được tiền gửi (trong nước và quốc tế) đều có xu hướng chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục so với các hộ khác. Trong một nghiên cứu khác của Randazzo và Piracha (2019), các tác giả đã phân chi tiêu hộ gia đinh thành báy nhóm và nhận thấy tác động đáng kê cúa tiên gửi di cư lên chi tiêu giáo dục.