chương 1, đề tài giới thiệu tổng quan và vấn đề nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu mối quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Mục đích của chương này là cung cấp cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương này được chia làm ba phần. Phần đầu tiên của chương trình bày các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Phần thứ hai của chương cung cấp bằng chứng thực nghiệm nước ngoài và trong nước liên quan đến đề tài. Cuối cùng là đưa ra khung phân tích cho vấn đề nghiên cứu. Các lý thuyết về tăng trƣởng Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đã tồn tại trong nhiều năm và cung cấp một cơ sở để hiểu vai trò của tiết kiệm và đầu tư trong sự phát triển công nghiệp của nền kinh tế. Trong số này là các lý thuyết tăng trưởng của Keynes được mô tả bởi mô hình tăng trưởng của Harrod – Domar.
Tiếp theo là các lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển và lý thuyết tăng trưởng mới (nội sinh). Các khái niệm, quan niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế thể hiện ở quy mô tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, được thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ.
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn. Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức: y= (2.1) Trong đó Y là quy mô của nền kinh tế, y là tốc độ tăng trưởng. Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế. Thông thường, tốc độ tăng trưởng kinh tế dùng chỉ thiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa.
Một số mô hình tăng trưởng kinh tế Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đã tồn tại trong nhiều năm và cung cấp một cơ sở để hiểu vai trò của tiết kiệm và đầu tư trong sự phát triển công nghiệp của nền kinh tế. Trong số đó là các lý thuyết tăng trưởng của Keynes được mô tả bởi mô hình tăng trưởng của Harrod – Domar sẽ được trình bày trong phần tới. Tiếp theo là các lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển và lý thuyết tăng trưởng nội sinh. Mô hình Harrod – Domar Mô hình tăng trưởng của Harrod-Domar đại diện cho trường phái tư tưởng kinh tế học Keynes.
Mô hình này như một kết quả của sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư. Mô hình Harrod – Domar là kết quả nghiên cứu độc lập của các nhà kinh tế Roy F.Harrod và Evsey Domar. Giả thiết quan trọng của mô hình Harrod - Domar là coi sản lượng như một hàm của đầu vào tư bản. Theo Nafziger (1997), mô hình Harrod – Domar chỉ có một yếu tố sản xuất duy nhất là vốn, không có lao động, không có tiến bộ công nghệ.
Các biến cơ bản trong mô LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hình bao gồm tích lũy vốn và tỷ lệ sản lượng tăng lên trong tổng đầu tư. Sự thay đổi trong sản lượng đầu ra là kết quả của sự thay đổi trong vốn cổ phần. Mô hình Harrod – Domar tổng quát có dạng sau: Y = δK (2.2) Trong đó: Y: là kết quả sản xuất đầu ra chỉ phụ thuộc vào vốn K δ: là hệ số hiệu quả của 1 đơn vị vốn và giả thiết là 1 hằng số Nghịch đảo của δ là hệ số tỷ lệ giữa vốn K và đầu ra Y: = Mô hình tăng trưởng được trình bày dưới dạng hệ phương trình sau: Y = δK (2.6) Hệ phương trình trên được giải thích như sau: (1) Kết quả đầu ra Y phụ thuộc vào vốn K với hệ số hiệu quả δ là một hằng số (2) là vi phân của K theo thời gian biểu thị sự gia tăng của tư bản do đầu tư I với giả thiết không có khấu hao. (3) Giả định tiết kiệm S bằng đầu tư I (4) Tiết kiệm S tỷ lệ với đầu ra Y và s là tỷ lệ tiết kiệm tính theo Y.
Để chứng minh, chúng ta cần lấy vi phân theo t: Từ (2.3) suy ra: =δ nhưng vì = I (2. Từ đó suy ra = δ.I LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Suy ra:( )/I = s.8) Tương tự, ta chứng minh được:( )/K = s.9) cho ra kết quả: ( )/Y = ( )/K = ( )/I = s.10) Như vậy, tỷ lệ tăng trưởng đầu ra Y, tăng trưởng vốn K và tăng trưởng đầu tư I là cân bằng nhau và đều tăng cùng một tỷ lệ như nhau là s.δ là một hằng số). Trong thực hành ta có thể tính gần đúng qua các giá trị gia tăng tại thời điểm t như sau: = = = s.11) Khi đó: = có thể viết lại thành = = k (2.12) Trong công thức (2.12) k chính là hệ số gia tăng tư bản đầu ra (Incremental capital output ratio – hệ số ICOR). Nếu gọi g là tốc độ tăng trưởng sản lượng đầu ra Y, nghĩa là g = , thì rõ ràng g = δ.13) cho ra kết quả: g = s/k (2.
Đây là quan hệ cơ bản Harrod – Domar phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng của sản lượng đầu ra với tiết kiệm và đầu tư. Vốn là nhân tố chính được tạo ra bởi đầu tư và tiết kiệm là nguồn để đầu tư tạo vốn cho tăng trưởng kinh tế. Khi đó với k cho trước, tốc độ tăng trưởng kinh tế (g) sẽ phụ thuộc vào tiết kiệm và đầu tư cần thiết để đạt được mức tăng trưởng đó. Mô hình trên đây mới chỉ là cách xem xét vấn đề một cách đơn giản trên cơ sở một nhân tố vốn.
Hơn nữa, tiết kiệm và đầu tư mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ để thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế. Để phân bố và sử dụng vốn có hiệu quả cần phải có thị trường hàng hóa, thị trường tài chính tiền tệ phát triển và có mức độ liên kết cao, hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển, lực lượng lao động được giáo dục và đào tạo tốt, Chính phủ hoạt động có hiệu quả…Tuy nhiên, rất nhiều trong số các yếu tố LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đã nêu các nước đang phát triển lại đang thiếu. Mô hình Harrod – Domar là một mô hình tăng trưởng kinh tế giản đơn, vì thế, không giải đáp được nhiều vấn đề liên quan đến tăng trưởng. Nhưng do tính đơn giản và xét về dài hạn, mô hình đã làm rõ được một cách khái quát mối quan hệ giữa nhu cầu vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Vì vậy, cho đến nay nó vẫn được sử dụng để phân tích và dự báo kinh tế cùng với các mô hình khác. Nhược điểm của mô hình Harrod-Domar : Mô hình Harrod-Domar, không chứa lao động và không chứa yếu tố tiến bộ công nghệ nên chưa phản ánh được đầy đủ các yếu tố cơ bản của tăng trưởng. Mô hình Solow – Swan Mô hình tăng trưởng tân cổ điển được phát triển bởi Robert Solow và Trevor Swan vào những năm 1950. Mô hình này cho biết rằng tỉ lệ tăng trưởng của GDP sẽ tăng nếu phần của GDP dành cho đầu tư tăng, giảm nếu tỷ lệ vốn hữu hình giảm và tăng lên bởi tốc độ phát triển của công nghệ hoặc của năng suất nhân tố tổng hợp (Solow 1962).
Trong khi mô hình Harrod-Domar không đề cập tới nhân tố lao động (ngầm định là tỷ lệ vốn/lao động không đổi), không xem xét đến tác động của tiến bộ công nghệ và sự thay thế các nhân tố sản xuất đến tăng trưởng, thì mô hình Solow-Swan cho phép giải quyết vấn đề này. Mô hình này cho rằng tiến bộ công nghệ được xác định là biến ngoại sinh và mức độ của nó là giống nhau ở các quốc gia. Mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow – Swan ban đầu coi sản lượng (Y) là một hàm của vốn tư bản (K) và lao động (L).Với giả thiết, thứ nhất, tốc độ tăng trưởng của lực lượng lao động là không đổi, thứ hai: tiết kiệm bằng đầu tư. Vậy phương trình sản xuất sẽ là: Y = f(K,L) (2.15) Hàm sản xuất (2.15) giả định rằng tỉ lệ lợi nhuận không đổi theo quy mô và lợi suất giảm dần theo quy mô của các yếu tố biến đổi, với điều kiện các yếu tố khác được giữ cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 không đổi (Mankiw, 2003).
Những giả thiết này sau đó sẽ được sử dụng để giải thích tại sao nền kinh tế đạt đến một mức trạng thái tăng trưởng ổn định trong khi vốn trên mỗi lao động và nhu cầu đầu tư thì ở trạng thái cân bằng. Mô hình này khẳng định rằng sự gia tăng trong lao động hoặc đầu tư vào máy móc sẽ làm tăng năng suất sản xuất. Thay đổi công nghệ được coi là một đóng góp lớn cho sản xuất, thông qua những phát minh và đổi mới (Burda & Wyplosz, 2011). Sự gia tăng trong tổng lượng vốn, trong đó tăng vốn vật chất hay vốn con người đều có khả năng làm tăng năng suất lao động.
Vốn vật chật bắt nguồn từ vốn đầu tư thực. Vốn con người liên quan đến đầu tư con người trong giáo dục và đào tạo (Becker & Barro, 1988). Vốn đầu tư bị “tiêu hao” theo thời gian. Máy móc và nhà xưởng bị hao mòn, xuống cấp là bằng chứng trực quan.