Luận án tiến sĩ về đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Luận án tiến sĩ phân tích vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

171
3
1

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1. Các nghiên cứu lý thuyết về quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.2. Các nghiên cứu lý thuyết về quyết định đầu tư của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.3. Các nghiên cứu lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.4. Các nghiên cứu về tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế các nƣớc nhận đầu tƣ

1.5. Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.6. Các nghiên cứu ở trong nước

1.7. Đánh giá kết quả của những nghiên cứu trƣớc và khoảng trống nghiên cứu đặt ra cho luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA MỘT ĐỊA PHƢƠNG

2.1. Khái niệm về đầu tư

2.2. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.3. Khái niệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.4. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của địa phƣơng

2.5. Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở cấp độ địa phương

2.6. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở địa phương

2.7. Các tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.8. Tác động của FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.8.1. Tác động trực tiếp

2.8.2. Tác động gián tiếp (tác động tràn)

2.8.3. Tác động tích cực

2.8.4. Tác động tiêu cực

2.9. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phƣơng

2.9.1. Các nhân tố bên ngoài

2.9.2. Các nhân tố bên trong

2.10. Kinh nghiệm của một số địa phương trong thu hút FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và bài học cho thành phố Hồ Chí Minh

2.10.1. Kinh nghiệm của một số địa phương trong thu hút FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.10.2. Những bài học kinh nghiệm cho thành phố Hồ Chí Minh

2.11. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2012 – 2020

3.1. Khái quát về thành phố Hồ Chí Minh

3.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

3.2.1. Kết quả chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

3.2.2. Những hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh

3.3. Thực trạng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh

3.3.1. Quy mô và tốc độ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

3.3.2. Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài

3.3.3. Tình hình thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

3.3.4. Kết quả đạt được trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế TP. Hồ Chí Minh

3.3.5. Những hạn chế trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI THÚC ĐẨY HƠN NỮA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.1. Bối cảnh quốc tế và trong nƣớc có ảnh hƣởng tới thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh

4.1.1. Bối cảnh quốc tế

4.1.2. Bối cảnh trong nước

4.2. Quan điểm và định hƣớng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030

4.3. Một số giải pháp chủ yếu thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030

4.3.1. Hoàn thiện quy hoạch phát triển các ngành các lĩnh vực của thành phố Hồ Chí Minh

4.3.2. Xây dựng chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh

4.3.3. Hoàn thiện cơ chế chính sách để khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thúc đẩy hơn nữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh

4.3.4. Đổi mới công tác xúc tiến đầu tư để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của TP.Hồ Chí Minh

4.3.5. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính của thành phố Hồ Chí Minh

4.3.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

4.3.7. Cải thiện cơ sở hạ tầng

4.3.8. Tăng cường chuyển giao khoa học công nghệ

4.3.9. Nhóm giải pháp hậu COVID-19 cho Chính quyền thành phố Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam

4.3.10. Một số giải pháp khác

4.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại TP. Hồ Chí Minh. Thành phố này, với vị trí địa lý thuận lợi và hạ tầng phát triển, đã thu hút một lượng lớn vốn FDI từ nhiều quốc gia. Sự gia tăng này không chỉ tạo ra việc làm mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế địa phương. Theo nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, FDI đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển bền vững của TP.HCM.

1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và vai trò của nó trong kinh tế TP. Hồ Chí Minh

FDI không chỉ mang lại nguồn vốn mà còn chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý cho các doanh nghiệp trong nước. Điều này giúp nâng cao năng suất lao động và cải thiện chất lượng sản phẩm. Theo số liệu từ Cục Thống kê TP.HCM, tỷ lệ FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng lên đáng kể trong những năm qua.

1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và những thay đổi tích cực từ FDI

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của TP. Hồ Chí Minh đã diễn ra mạnh mẽ nhờ vào sự gia tăng của FDI. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ đã có sự phát triển vượt bậc, trong khi tỷ trọng nông nghiệp giảm dần. Điều này phản ánh sự chuyển mình của nền kinh tế theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

II. Những thách thức trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại TP

Mặc dù FDI đã mang lại nhiều lợi ích, nhưng TP. Hồ Chí Minh cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này. Các vấn đề như cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, chính sách ưu đãi chưa đủ hấp dẫn và sự cạnh tranh từ các địa phương khác đang gây khó khăn cho thành phố trong việc duy trì vị thế của mình.

2.1. Cơ sở hạ tầng và những hạn chế trong thu hút FDI

Cơ sở hạ tầng giao thông, logistics và công nghệ thông tin tại TP. Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thu hút FDI, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao và dịch vụ. Nhiều nhà đầu tư đã bày tỏ lo ngại về tình trạng ùn tắc giao thông và thiếu hụt các khu công nghiệp hiện đại.

2.2. Chính sách ưu đãi và sự cạnh tranh từ các địa phương khác

Chính sách ưu đãi thu hút FDI của TP. Hồ Chí Minh chưa đủ hấp dẫn so với các tỉnh thành khác. Nhiều địa phương đã đưa ra các gói hỗ trợ và ưu đãi thuế mạnh mẽ hơn, khiến TP. Hồ Chí Minh gặp khó khăn trong việc giữ chân các nhà đầu tư. Cần có những cải cách mạnh mẽ để nâng cao sức hấp dẫn của thành phố.

III. Phương pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI hiệu quả cho TP

Để thu hút FDI hiệu quả, TP. Hồ Chí Minh cần áp dụng các phương pháp và chiến lược phù hợp. Việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển cơ sở hạ tầng là những yếu tố then chốt. Ngoài ra, việc xây dựng các chính sách khuyến khích đầu tư cũng cần được chú trọng.

3.1. Cải thiện môi trường đầu tư và thủ tục hành chính

Cải cách thủ tục hành chính là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút FDI. TP. Hồ Chí Minh cần đơn giản hóa các quy trình và giảm thiểu thời gian xử lý hồ sơ đầu tư. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

3.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển cơ sở hạ tầng

Đầu tư vào giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư. Đồng thời, phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ sẽ giúp TP. Hồ Chí Minh trở thành điểm đến hấp dẫn cho các dự án FDI.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về FDI tại TP

Nghiên cứu về tác động của FDI đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Các ngành công nghiệp và dịch vụ đã có sự phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, vẫn cần có những biện pháp để khắc phục các hạn chế hiện tại.

4.1. Kết quả đạt được từ việc thu hút FDI

Sự gia tăng FDI đã giúp TP. Hồ Chí Minh cải thiện đáng kể chỉ số phát triển kinh tế. Nhiều dự án lớn đã được triển khai, tạo ra hàng triệu việc làm và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Theo báo cáo của Cục Thống kê, GRDP của thành phố đã tăng trưởng ổn định trong những năm qua.

4.2. Những hạn chế và bài học kinh nghiệm

Mặc dù có nhiều thành công, nhưng TP. Hồ Chí Minh vẫn gặp phải những hạn chế trong việc thu hút và sử dụng FDI. Cần rút ra bài học từ các địa phương khác để cải thiện chiến lược thu hút đầu tư, đồng thời khắc phục những điểm yếu hiện tại.

V. Kết luận và tương lai của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại TP

Tương lai của FDI tại TP. Hồ Chí Minh phụ thuộc vào khả năng cải cách và đổi mới của chính quyền địa phương. Việc xây dựng một môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của thành phố. Cần có những chính sách dài hạn để duy trì và phát triển nguồn vốn FDI trong thời gian tới.

5.1. Tầm nhìn phát triển bền vững cho TP. Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh cần xây dựng một tầm nhìn phát triển bền vững, trong đó FDI đóng vai trò quan trọng. Việc kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sẽ giúp thành phố phát triển một cách toàn diện.

5.2. Định hướng chính sách thu hút FDI trong tương lai

Chính quyền TP. Hồ Chí Minh cần định hướng các chính sách thu hút FDI theo hướng bền vững, chú trọng vào các lĩnh vực công nghệ cao và dịch vụ. Điều này sẽ giúp thành phố không chỉ thu hút được nhiều vốn mà còn nâng cao chất lượng đầu tư.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Luận án tiến sĩ đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến FDI thúc đẩy CDCCKT của TP. Chương 2: Cơ sở lý luận về FDI thúc đẩy CDCC ngành kinh tế của một địa phương. Chương 3: Thực trạng FDI thúc đẩy CDCC ngành kinh tế của TP.HCM giai đoạn 2012 – 2020. Chương 4: Quan điểm và giải pháp để FDI thúc đẩy hơn nữa CDCC ngành kinh tế của TP.

10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Các nghiên cứu lý thuyết về quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Các nghiên cứu lý thuyết về quyết định đầu tư của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài Đã có nhiều lý thuyết về đầu tư quốc tế được phát triển từ những năm 1930 cho đến nay. Tuy có sự khác biệt về cách tiếp cận, nhưng nhìn chung các lý thuyết này tập trung vào trả lời ba câu hỏi chính là (i) Động cơ nào dẫn đến một doanh nghiệp tiến hành hoạt động FDI? (ii) Tại sao các doanh nghiệp tiến hành hoạt động FDI chứ không phải là hoạt động khác như xuất khẩu hoặc cấp giấy phép? (iii) Những yếu tố nào của nước nhận đầu tư sẽ tác động tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư của các công ty đa quốc gia? Trong phần này, luận án sẽ tổng quan các lý thuyết chính về FDI như: Lý thuyết về lợi thế sở hữu của Hymer; Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm của Vernon; Và lý thuyết chiết trung của Dunning.1 Lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài về lợi thế sở hữu Lý thuyết này được đề xuất bởi nhà nghiên cứu Hymer vào năm 1960 trong nỗ lực đưa ra một lý thuyết độc lập nhằm giải thích xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Hymer khẳng định rằng một công ty muốn vượt rào cản quốc tế, tham gia vào quá trình sản xuất tại nước đầu tư thì phải có lợi thế độc quyền. Theo Hymer (1960), có 2 yếu tố quan trọng để một doanh nghiệp tiến hành đầu tư ra nước ngoài. Yếu tố thứ nhất, doanh nghiệp phải sở hữu lợi thế cạnh tranh như: Lợi thế kinh tế theo quy mô, lợi thế khác biệt sản phẩm, lợi thế về công nghệ hiện đại, kiến thức quản trị, tài chính hoặc marketing cao 11 cấp [81]. Những lợi thế này giúp công ty đa quốc gia vượt qua những khó khăn, trở ngại khi đầu tư.

Hymer cũng đề cập về việc các doanh nghiệp có thể bán lợi thế của họ thông qua việc cấp phép. Tuy nhiên, theo Ball và cộng sự (2008), hình thức này lại tạo ra lợi nhuận ít hơn, cũng như liên quan tới những rủi ro về kiểm soát chất lượng [59] Yếu tố thứ hai để doanh nghiệp đầu tư ở quốc gia khác là vượt qua những rào cản trên thị trường quốc tế. Nếu một doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh đã thành lập ở thị trường nước ngoài hoặc cố thâm nhập vào thị trường, công ty đa quốc gia này có thể hợp tác, chia sẻ thị trường với đối thủ cạnh tranh hoặc có thể trực tiếp kiểm soát quy trình sản xuất ở thị trường nước ngoài [81]. Lý thuyết của Hymer cho thấy để làm được điều này thị trường phải là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và việc đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp loại bỏ rào cản và có thể khai thác lợi thế thị trường nước ngoài.2 Lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài về chu kỳ sản phẩm Lý thuyết chu kỳ sản phẩm được phát triển bởi Vernon (1966).

Lý thuyết này cho phép giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh của họ từ xuất khẩu sang đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vernon cho rằng một chu kỳ sản phẩm phải trải qua bốn giai đoạn bao gồm: giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy thoái. Ở giai đoạn giới thiệu, sản phẩm đa phần ở lại trong nước phát minh bởi vì sản lượng sản xuất còn ít, giá thành cao. Trong giai đoạn phát triển, sản lượng sản xuất và tiêu thụ tăng mạnh, nhiều nhà sản xuất cùng tham gia sản xuất các sản phẩm tương tự dẫn đến cạnh tranh tăng, các nhà sản xuất bắt đầu xuất khẩu sản phẩm, đồng thời tìm cách di chuyển sản xuất sang quốc gia có sự tương đồng về mức sống và văn hóa.

Giai đoạn ba là giai đoạn chín muồi, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ, giá sản phẩm giảm nhiều, thị phần cũng giảm. Sau khi cải tiến, thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, nhà sản xuất tìm cách phát triển thị trường mới, di chuyển địa điểm sản xuất sang các nước kém phát triển. Vào giai đoạn cuối là giai đoạn suy thoái, 12 sản phẩm chỉ còn lại ở nước kém phát triển và có xu hướng xuất khẩu ngược sang các nước công nghiệp phát triển do có một bộ phận dân cư vẫn còn có nhu cầu sản phẩm [104]. Lý thuyết này chỉ giải thích cho việc đầu tư nước ngoài của một số doanh nghiệp theo nguyên lý vòng đời quốc tế của sản phẩm mà không giải thích tại sao các dạng thâm nhập thị trường khác lại không hiệu quả hoặc kém hiệu quả hơn.3 Lý thuyết chiết trung Lý thuyết chiết trung của Dunning hay còn gọi là lý thuyết OLI được ra đời vào năm 1977.

Theo Dunning (1977), một công ty dự định tham gia vào các hoạt động FDI cần có 3 lợi thế, đó là: O – Ownership advantages – lợi thế về sở hữu; L – Locational advantages – lợi thế về địa điểm; I – Internalisation advantages – Lợi thế nội bộ hóa. Lợi thế về sở hữu được biết đến như công ty đang sở hữu những lợi thế so với công ty khác là công nghệ, bằng sáng chế, thương hiệu, kỹ năng quản lý…Lợi thế này là tiền đề cho hoạt động FDI. Lợi thế địa điểm là lợi thế vị trí địa lý giúp công ty thuận lợi hơn so với đối thủ cạnh tranh. Nội bộ hóa là lợi thế tương tác giữa hai lợi thế trên với nhau nhằm giảm chi phí giao dịch [72].

Theo Dunning, trước khi tiến hành đầu tư thì các công ty phải thỏa mãn ba điều kiện trên. Những lợi thế này không cố định mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển của nước nhận đầu tư [72]. Các nghiên cứu lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1.1 Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M.Syrquin Lịch sử phát triển của kinh tế thế giới đã cho thấy quá trình phát triển kinh tế cũng đồng nghĩa với quá trình CDCCKT, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên một nền kinh tế công nghiệp hoá và dần chuyển sang một nền kinh tế mà trong đó dịch vụ đóng vai trò quan trọng nhất hay còn gọi là một nền kinh tế đã phát triển. Có thể tóm tắt lý thuyết chuyển dịch cơ cấu 13 kinh tế của M.Syrquin gồm ba giai đoạn: (1) Sản xuất nông nghiệp, (2) Công nghiệp hoá, và (3) Nền kinh tế phát triển [91].

Giai đoạn 1: có đặc trưng chính là sự thống trị của các hoạt động của khu vực khai thác, đặc biệt là nông nghiệp, như là nguồn lực chính trong việc gia tăng sản lượng của các hàng hoá khả thương (tradables). Mặc dù khu vực khai thác thông thường có tốc độ tăng trưởng chậm hơn khu vực chế biến nhưng ở mức thu nhập bình quân đầu người thấp, thì sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng đó được bù trừ hoàn toàn bởi nhu cầu hạn chế về các mặt hàng công nghiệp chế biến [91]. Trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng kinh tế nhìn chung khá chậm mà một trong những nguyên nhân chính là do tỷ trọng tương đối cao của khu vực nông nghiệp trong tổng giá trị gia tăng (hay GDP). Nếu xét ở mặt cung, thì trong giai đoạn 1 có những đặc trưng chính là tỷ lệ tích luỹ tư bản còn khiêm tốn nên tỷ lệ đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng cao của lực lượng lao động, và tốc độ tăng trưởng tổng năng suất nhân tố (TFP) rất thấp, và nhân tố sau cùng này tác động mạnh đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chung hơn là yếu tố tỷ lệ đầu tư thấp.

Giai đoạn 2 hay là giai đoạn công nghiệp hoá: có đặc điểm nổi bật là tầm quan trọng trong nền kinh tế đã được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chế biến trong đóng góp và tăng trưởng kinh tế chung ngày càng tăng lên [91]. Sự dịch chuyển này xuất hiện ở các nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn hay thấp hơn, phụ thuộc vào yếu tố nguồn tài nguyên sẵn có cũng như chính sách ngoại thương của các nước đó. Xét ở mặt cung, sự đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tích luỹ tư bản vẫn được giữ ở mức cao trong hầu hết giai đoạn 2 do có sự gia tăng mạnh của tỷ lệ đầu tư. Giai đoạn 3: là giai đoạn của một nền kinh tế phát triển [91].

Sự chuyển tiếp từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 có thể được hiểu theo nhiều cách. Nếu xét về mặt cầu, thì trong giai đoạn này độ co giãn theo thu nhập của hàng công nghiệp chế biến đã giảm đi; Và ở một thời điểm nào đó, tỷ trọng của khu vực công 14 nghiệp trong cơ cấu nhu cầu nội địa bắt đầu giảm xuống. Mặc dù xu hướng này có thể bị lấn át ở một giai đoạn nào đó bởi xuất khẩu vẫn tiếp tục gia tăng ở mức cao, nhưng cuối cùng nó đều được phản ảnh qua việc giảm sút tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơ cấu GDP hay trong cơ cấu lực lượng lao động. Khu vực dịch vụ trở thành khu vực quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như cơ cấu lao động.

Sự thay đổi này xuất hiện rất rõ ràng ở tất cả các nước công nghiệp phát triển trong suốt 20 năm qua. Ở mặt cung, sự khác biệt chủ yếu giữa giai đoạn 2 và giai đoạn 3 là sự suy giảm trong đóng góp vào tăng trưởng của cả 2 nhân tố sản xuất tư bản và lao động theo các tính quy ước. Đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tư bản (vốn) giảm xuống bởi cả 2 yếu tố tốc độ tăng trưởng chậm hơn và tỷ trọng ngày càng thấp hơn. Hơn nữa, vì có sự suy giảm trong tốc độ gia tăng dân số, chỉ có một vài nước phát triển là có sự gia tăng đáng kể trong lực lượng lao động.

Như vậy, trong giai đoạn này, nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tố tổng năng suất nhân tố (Total Factor Productivity – TFP).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ