Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến FDI thúc đẩy CDCCKT của TP. Chương 2: Cơ sở lý luận về FDI thúc đẩy CDCC ngành kinh tế của một địa phương. Chương 3: Thực trạng FDI thúc đẩy CDCC ngành kinh tế của TP.HCM giai đoạn 2012 – 2020. Chương 4: Quan điểm và giải pháp để FDI thúc đẩy hơn nữa CDCC ngành kinh tế của TP.
10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Các nghiên cứu lý thuyết về quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Các nghiên cứu lý thuyết về quyết định đầu tư của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài Đã có nhiều lý thuyết về đầu tư quốc tế được phát triển từ những năm 1930 cho đến nay. Tuy có sự khác biệt về cách tiếp cận, nhưng nhìn chung các lý thuyết này tập trung vào trả lời ba câu hỏi chính là (i) Động cơ nào dẫn đến một doanh nghiệp tiến hành hoạt động FDI? (ii) Tại sao các doanh nghiệp tiến hành hoạt động FDI chứ không phải là hoạt động khác như xuất khẩu hoặc cấp giấy phép? (iii) Những yếu tố nào của nước nhận đầu tư sẽ tác động tới việc lựa chọn địa điểm đầu tư của các công ty đa quốc gia? Trong phần này, luận án sẽ tổng quan các lý thuyết chính về FDI như: Lý thuyết về lợi thế sở hữu của Hymer; Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm của Vernon; Và lý thuyết chiết trung của Dunning.1 Lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài về lợi thế sở hữu Lý thuyết này được đề xuất bởi nhà nghiên cứu Hymer vào năm 1960 trong nỗ lực đưa ra một lý thuyết độc lập nhằm giải thích xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Hymer khẳng định rằng một công ty muốn vượt rào cản quốc tế, tham gia vào quá trình sản xuất tại nước đầu tư thì phải có lợi thế độc quyền. Theo Hymer (1960), có 2 yếu tố quan trọng để một doanh nghiệp tiến hành đầu tư ra nước ngoài. Yếu tố thứ nhất, doanh nghiệp phải sở hữu lợi thế cạnh tranh như: Lợi thế kinh tế theo quy mô, lợi thế khác biệt sản phẩm, lợi thế về công nghệ hiện đại, kiến thức quản trị, tài chính hoặc marketing cao 11 cấp [81]. Những lợi thế này giúp công ty đa quốc gia vượt qua những khó khăn, trở ngại khi đầu tư.
Hymer cũng đề cập về việc các doanh nghiệp có thể bán lợi thế của họ thông qua việc cấp phép. Tuy nhiên, theo Ball và cộng sự (2008), hình thức này lại tạo ra lợi nhuận ít hơn, cũng như liên quan tới những rủi ro về kiểm soát chất lượng [59] Yếu tố thứ hai để doanh nghiệp đầu tư ở quốc gia khác là vượt qua những rào cản trên thị trường quốc tế. Nếu một doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh đã thành lập ở thị trường nước ngoài hoặc cố thâm nhập vào thị trường, công ty đa quốc gia này có thể hợp tác, chia sẻ thị trường với đối thủ cạnh tranh hoặc có thể trực tiếp kiểm soát quy trình sản xuất ở thị trường nước ngoài [81]. Lý thuyết của Hymer cho thấy để làm được điều này thị trường phải là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và việc đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp loại bỏ rào cản và có thể khai thác lợi thế thị trường nước ngoài.2 Lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài về chu kỳ sản phẩm Lý thuyết chu kỳ sản phẩm được phát triển bởi Vernon (1966).
Lý thuyết này cho phép giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh của họ từ xuất khẩu sang đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vernon cho rằng một chu kỳ sản phẩm phải trải qua bốn giai đoạn bao gồm: giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy thoái. Ở giai đoạn giới thiệu, sản phẩm đa phần ở lại trong nước phát minh bởi vì sản lượng sản xuất còn ít, giá thành cao. Trong giai đoạn phát triển, sản lượng sản xuất và tiêu thụ tăng mạnh, nhiều nhà sản xuất cùng tham gia sản xuất các sản phẩm tương tự dẫn đến cạnh tranh tăng, các nhà sản xuất bắt đầu xuất khẩu sản phẩm, đồng thời tìm cách di chuyển sản xuất sang quốc gia có sự tương đồng về mức sống và văn hóa.
Giai đoạn ba là giai đoạn chín muồi, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ, giá sản phẩm giảm nhiều, thị phần cũng giảm. Sau khi cải tiến, thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, nhà sản xuất tìm cách phát triển thị trường mới, di chuyển địa điểm sản xuất sang các nước kém phát triển. Vào giai đoạn cuối là giai đoạn suy thoái, 12 sản phẩm chỉ còn lại ở nước kém phát triển và có xu hướng xuất khẩu ngược sang các nước công nghiệp phát triển do có một bộ phận dân cư vẫn còn có nhu cầu sản phẩm [104]. Lý thuyết này chỉ giải thích cho việc đầu tư nước ngoài của một số doanh nghiệp theo nguyên lý vòng đời quốc tế của sản phẩm mà không giải thích tại sao các dạng thâm nhập thị trường khác lại không hiệu quả hoặc kém hiệu quả hơn.3 Lý thuyết chiết trung Lý thuyết chiết trung của Dunning hay còn gọi là lý thuyết OLI được ra đời vào năm 1977.
Theo Dunning (1977), một công ty dự định tham gia vào các hoạt động FDI cần có 3 lợi thế, đó là: O – Ownership advantages – lợi thế về sở hữu; L – Locational advantages – lợi thế về địa điểm; I – Internalisation advantages – Lợi thế nội bộ hóa. Lợi thế về sở hữu được biết đến như công ty đang sở hữu những lợi thế so với công ty khác là công nghệ, bằng sáng chế, thương hiệu, kỹ năng quản lý…Lợi thế này là tiền đề cho hoạt động FDI. Lợi thế địa điểm là lợi thế vị trí địa lý giúp công ty thuận lợi hơn so với đối thủ cạnh tranh. Nội bộ hóa là lợi thế tương tác giữa hai lợi thế trên với nhau nhằm giảm chi phí giao dịch [72].
Theo Dunning, trước khi tiến hành đầu tư thì các công ty phải thỏa mãn ba điều kiện trên. Những lợi thế này không cố định mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển của nước nhận đầu tư [72]. Các nghiên cứu lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1.1 Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M.Syrquin Lịch sử phát triển của kinh tế thế giới đã cho thấy quá trình phát triển kinh tế cũng đồng nghĩa với quá trình CDCCKT, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên một nền kinh tế công nghiệp hoá và dần chuyển sang một nền kinh tế mà trong đó dịch vụ đóng vai trò quan trọng nhất hay còn gọi là một nền kinh tế đã phát triển. Có thể tóm tắt lý thuyết chuyển dịch cơ cấu 13 kinh tế của M.Syrquin gồm ba giai đoạn: (1) Sản xuất nông nghiệp, (2) Công nghiệp hoá, và (3) Nền kinh tế phát triển [91].
Giai đoạn 1: có đặc trưng chính là sự thống trị của các hoạt động của khu vực khai thác, đặc biệt là nông nghiệp, như là nguồn lực chính trong việc gia tăng sản lượng của các hàng hoá khả thương (tradables). Mặc dù khu vực khai thác thông thường có tốc độ tăng trưởng chậm hơn khu vực chế biến nhưng ở mức thu nhập bình quân đầu người thấp, thì sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng đó được bù trừ hoàn toàn bởi nhu cầu hạn chế về các mặt hàng công nghiệp chế biến [91]. Trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng kinh tế nhìn chung khá chậm mà một trong những nguyên nhân chính là do tỷ trọng tương đối cao của khu vực nông nghiệp trong tổng giá trị gia tăng (hay GDP). Nếu xét ở mặt cung, thì trong giai đoạn 1 có những đặc trưng chính là tỷ lệ tích luỹ tư bản còn khiêm tốn nên tỷ lệ đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng cao của lực lượng lao động, và tốc độ tăng trưởng tổng năng suất nhân tố (TFP) rất thấp, và nhân tố sau cùng này tác động mạnh đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chung hơn là yếu tố tỷ lệ đầu tư thấp.
Giai đoạn 2 hay là giai đoạn công nghiệp hoá: có đặc điểm nổi bật là tầm quan trọng trong nền kinh tế đã được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chế biến trong đóng góp và tăng trưởng kinh tế chung ngày càng tăng lên [91]. Sự dịch chuyển này xuất hiện ở các nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn hay thấp hơn, phụ thuộc vào yếu tố nguồn tài nguyên sẵn có cũng như chính sách ngoại thương của các nước đó. Xét ở mặt cung, sự đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tích luỹ tư bản vẫn được giữ ở mức cao trong hầu hết giai đoạn 2 do có sự gia tăng mạnh của tỷ lệ đầu tư. Giai đoạn 3: là giai đoạn của một nền kinh tế phát triển [91].
Sự chuyển tiếp từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 có thể được hiểu theo nhiều cách. Nếu xét về mặt cầu, thì trong giai đoạn này độ co giãn theo thu nhập của hàng công nghiệp chế biến đã giảm đi; Và ở một thời điểm nào đó, tỷ trọng của khu vực công 14 nghiệp trong cơ cấu nhu cầu nội địa bắt đầu giảm xuống. Mặc dù xu hướng này có thể bị lấn át ở một giai đoạn nào đó bởi xuất khẩu vẫn tiếp tục gia tăng ở mức cao, nhưng cuối cùng nó đều được phản ảnh qua việc giảm sút tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơ cấu GDP hay trong cơ cấu lực lượng lao động. Khu vực dịch vụ trở thành khu vực quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như cơ cấu lao động.
Sự thay đổi này xuất hiện rất rõ ràng ở tất cả các nước công nghiệp phát triển trong suốt 20 năm qua. Ở mặt cung, sự khác biệt chủ yếu giữa giai đoạn 2 và giai đoạn 3 là sự suy giảm trong đóng góp vào tăng trưởng của cả 2 nhân tố sản xuất tư bản và lao động theo các tính quy ước. Đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tư bản (vốn) giảm xuống bởi cả 2 yếu tố tốc độ tăng trưởng chậm hơn và tỷ trọng ngày càng thấp hơn. Hơn nữa, vì có sự suy giảm trong tốc độ gia tăng dân số, chỉ có một vài nước phát triển là có sự gia tăng đáng kể trong lực lượng lao động.
Như vậy, trong giai đoạn này, nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tố tổng năng suất nhân tố (Total Factor Productivity – TFP).