Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giữ vai trò động lực then chốt của nền kinh tế Việt Nam khi chiếm hơn 93% tổng số doanh nghiệp, đóng góp trên 40% GDP và tạo việc làm cho gần 50% lực lượng lao động xã hội. Mặc dù quy mô GDP của Việt Nam năm 2014 đã tăng gấp 30 lần so với thời điểm Đổi Mới năm 1986, năng suất lao động bình quân vẫn thuộc nhóm thấp trong khu vực, chỉ bằng 1/3 so với Thái Lan, 1/12 so với Nhật Bản và 1/18 so với Singapore. Đứng trước sức ép hội nhập kinh tế quốc tế, việc đẩy mạnh đầu tư công nghệ thông tin (CNTT) được xem là giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.

Vấn đề đặt ra là phần lớn các chính sách hỗ trợ phát triển CNTT từ sau năm 2005, tiêu biểu như Chỉ thị số 58-CT/TW và Quyết định số 1755/QĐ-TTg, chủ yếu được đánh giá qua các phân tích định tính hoặc ước lượng vĩ mô. Thực tế cho thấy Việt Nam vẫn thiếu vắng những nghiên cứu định lượng chuyên sâu để đo lường chính xác mức độ tác động của từng cấp độ đầu tư CNTT đến hiệu quả tài chính của DNVVN. Luận văn thạc sĩ chính sách công này được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật trên, với mục tiêu đo lường tác động của đầu tư hạ tầng CNTT đến năng suất lao động của các DNVVN tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2013.

Phạm vi nghiên cứu bao quát mẫu dữ liệu thực nghiệm gồm 1.632 DNVVN hoạt động trên phạm vi toàn quốc. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm vững chắc, giúp các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp lượng hóa giá trị kinh tế của CNTT với mức cải thiện năng suất lao động đạt từ 5% đến 7%, từ đó tối ưu hóa nguồn lực đầu tư trong giai đoạn chuyển đổi số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các lý thuyết hành vi tổ chức và mô hình kinh tế lượng vi mô. Cơ sở nền tảng khởi nguồn từ Lý thuyết Hành động Hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen (1975) cùng Mô hình Hoạch định Hành vi (TPB) của Mathieson (1991), giải thích cách thức nhận thức và chuẩn mực chủ quan định hình ý định đầu tư công nghệ. Tiếp đó, Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM) của Davis (1989) được vận dụng để làm rõ hai tiền đề quyết định: nhận thức về tính hữu ích và nhận thức về sự dễ sử dụng. Khung phân tích nhân tố của Akkeren và Cavaye (1999) cùng Manueli (2003) được tích hợp nhằm kiểm soát đồng thời các đặc tính của chủ doanh nghiệp, đặc trưng nội tại của tổ chức và áp lực từ thị trường.

Để lượng hóa hiệu quả kinh tế, đề tài mở rộng hàm sản xuất Cobb-Douglas với giả định hệ số công nghệ chịu tác động trực tiếp từ mức độ đầu tư CNTT theo đề xuất của Torero (2011). Mô hình đo lường hiệu quả tài chính thông qua chỉ số năng suất lao động bình quân, được xác định bằng tỷ số giữa giá trị gia tăng và tổng số lao động toàn thời gian theo tiêu chuẩn của Santos và Brito (2012). Mức độ đầu tư CNTT được phân tách theo 5 cấp độ phát triển của M. Skok (2000) và Quoc Trung Pham (2010), trải rộng trên 4 khía cạnh: hạ tầng, nhân lực, ứng dụng và chính sách. Nghiên cứu tập trung lượng hóa 4 biến can thiệp hạ tầng thực tế gồm: trang bị máy tính cá nhân (cấp độ căn bản), kết nối mạng Internet (cấp độ mở rộng), xây dựng website (cấp độ ứng dụng web) và triển khai thương mại điện tử (cấp độ hướng tri thức).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ bộ điều tra DNVVN định kỳ các năm 2009, 2011 và 2013 do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA), Khoa Kinh tế - Đại học Copenhagen và Viện Nghiên cứu Kinh tế Phát triển Thế giới (UNU-WIDER) phối hợp thực hiện. Bộ dữ liệu bảng khảo sát tại 10 tỉnh thành đại diện cho các vùng kinh tế trọng điểm.

Cỡ mẫu phân tích hoàn chỉnh bao gồm 1.632 DNVVN được theo dõi xuyên suốt từ năm 2008 đến năm 2012. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các ngành sản xuất cấp thấp, cấp trung và cấp cao theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP.

Về phương pháp phân tích, tác giả kết hợp mô hình hồi quy đa biến OLS với phương pháp Ghép điểm xu hướng kết hợp Sai biệt kép (PSM-DiD). Lý do lựa chọn mô hình PSM-DiD xuất phát từ việc các quyết định đầu tư công nghệ thường mang tính tự lựa chọn, khiến giả định chọn mẫu ngẫu nhiên bị vi phạm. Bằng cách sử dụng mô hình Logit để ước lượng điểm xu hướng, phương pháp PSM thiết lập nhóm đối chứng tương đồng nhất trong vùng hỗ trợ chung. Kỹ thuật DiD tiếp tục triệt tiêu hoàn toàn các yếu tố không quan sát được cố định theo thời gian, giúp giải quyết triệt để vấn đề biến nội sinh và đem lại ước lượng tác động can thiệp bình quân (TOT) khách quan, chuẩn xác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ mô hình thực nghiệm mang lại 4 phát hiện cốt lõi về thực trạng và hiệu quả đầu tư CNTT trong DNVVN Việt Nam:

  • Tác động tích cực đến năng suất lao động: Việc đầu tư CNTT giúp nâng cao năng suất lao động bình quân của DNVVN từ 5% đến 7%. Giá trị gia tăng bình quân trên một lao động toàn thời gian trong mẫu nghiên cứu đã tăng từ 16.612,9 nghìn đồng năm 2008 lên 18.295,7 nghìn đồng năm 2012.
  • Sự phân hóa rõ nét giữa các cấp độ đầu tư: Lợi ích kinh tế chỉ xuất hiện rõ rệt ở các giai đoạn đầu tư sơ khởi. Tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư thêm máy tính đạt khoảng 18% và đầu tư kết nối Internet đạt 9%, nâng tỷ lệ DNVVN kết nối mạng lên 35% vào năm 2012. Ngược lại, các hình thức đầu tư nâng cao như xây dựng website và bán hàng qua mạng chỉ chiếm vỏn vẹn hơn 3% tổng số doanh nghiệp và chưa mang lại tác động có ý nghĩa thống kê lên năng suất.
  • Gia tăng cường độ vốn nhưng sụt giảm quy mô nhân sự: Tổng tài sản bình quân trên mỗi lao động tăng từ 87.261,4 nghìn đồng năm 2008 lên 108.416,01 nghìn đồng năm 2012. Tuy nhiên, quy mô lao động toàn thời gian bình quân lại giảm từ 14,1 người xuống còn 11,9 người, phản ánh xu hướng tinh gọn nhân sự khi bắt đầu ứng dụng máy móc và công nghệ.
  • Khoảng cách lớn theo trình độ chủ doanh nghiệp và địa bàn: Có tới 34,51% chủ doanh nghiệp có trình độ đại học quyết định đầu tư thêm máy tính, trong khi tỷ lệ này ở nhóm dưới đại học chỉ là 13%. Đồng thời, tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư CNTT tại các đô thị trực thuộc Trung ương đạt 30%, cao gấp 3 lần so với mức 10% tại các tỉnh thành còn lại.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua các biểu đồ phân phối mật độ điểm xu hướng trước và sau ghép cặp, sự cân bằng giữa nhóm doanh nghiệp can thiệp và nhóm đối chứng được bảo đảm chặt chẽ. Bảng so sánh năng suất giữa các cấp độ công nghệ chỉ ra rằng đường cong lợi nhuận biên của CNTT có xu hướng giảm dần khi chuyển từ giai đoạn tin học hóa cơ bản sang thương mại điện tử phức tạp.

Mức tăng năng suất 5% đến 7% của DNVVN Việt Nam tương đương với mức ghi nhận tại Vương quốc Anh và Phần Lan trong giai đoạn thập niên 1990 - 2000. Tuy nhiên, tỷ suất này thấp hơn đáng kể so với mức tăng trên 10% của các doanh nghiệp Thái Lan cùng thời kỳ nghiên cứu.

Hiện tượng nghịch lý năng suất này được giải thích bởi 3 nguyên nhân căn bản:

  • Thứ nhất, phần lớn DNVVN Việt Nam còn thụ động trong việc tối ưu hóa quy trình kinh doanh, việc đầu tư máy tính chủ yếu dừng lại ở công tác văn phòng đơn giản.
  • Thứ hai, trình độ nhân lực CNTT còn thiếu hụt trầm trọng, khiến việc vận hành các hệ thống bán hàng trực tuyến và phần mềm quản trị chuỗi cung ứng gặp nhiều trục trặc, làm đội chi phí vận hành.
  • Thứ ba, môi trường thể chế và khung pháp lý về bảo mật, an toàn dữ liệu giai đoạn này chưa hoàn thiện, tạo ra tâm lý e dè trong việc khai thác tối đa tiềm năng kinh tế số.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư CNTT cho DNVVN:

  • Thực thi gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ chuyển đổi số căn bản: Ngân hàng Nhà nước chủ trì phối hợp cùng Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư triển khai các gói vay lãi suất thấp dành riêng cho DNVVN đầu tư hạ tầng phần cứng và đường truyền Internet. Mục tiêu hành động là nâng tỷ lệ DNVVN trang bị máy tính từ 18% lên 60% và kết nối mạng từ 35% lên 80% trong lộ trình 5 năm tiếp theo.
  • Phát triển hạ tầng số đồng bộ và giảm bất bình đẳng vùng miền: Bộ Thông tin và Truyền thông kết hợp với Ủy ban nhân dân các địa phương đầu tư hạ tầng cáp quang băng rộng tại các khu công nghiệp ngoại thành và các tỉnh nhỏ. Target cụ thể là thu hẹp khoảng cách tỷ lệ ứng dụng CNTT giữa các tỉnh lẻ (hiện ở mức 10%) và các thành phố lớn (30%) xuống dưới mức chênh lệch 8% trong giai đoạn 3 năm.
  • Chuẩn hóa chương trình đào tạo nâng cao nhận thức quản trị công nghệ: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng các Hiệp hội ngành nghề đổi mới nội dung các khóa tập huấn, tập trung vào kỹ năng ứng dụng phần mềm quản lý quy trình và an toàn thông tin số. Đặt mục tiêu tiếp cận và phổ cập kỹ năng thực chiến cho tối thiểu 50.000 chủ doanh nghiệp và nhân sự chủ chốt trong vòng 4 năm.
  • Xây dựng mạng lưới chuyên gia tư vấn chuyển đổi số chuyên sâu: Bộ Công Thương chủ trì thành lập các trung tâm tư vấn công nghệ hỗ trợ DNVVN triển khai thương mại điện tử B2C và tích hợp hệ thống phần mềm nghiệp vụ. Giải pháp này hướng tới việc nâng tỷ lệ doanh nghiệp khai thác hiệu quả website và bán hàng đa kênh từ mức 3% lên tối thiểu 15% vào cuối chu kỳ kế hoạch.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Sử dụng phương pháp và kết quả lượng hóa để thẩm định tính khả thi của các chương trình mục tiêu quốc gia về công nghệ, hỗ trợ phân bổ ngân sách công đúng phân khúc doanh nghiệp có hiệu quả biên cao nhất.
  • Chủ doanh nghiệp và giám đốc điều hành DNVVN: Tham khảo khung phân cấp 5 giai đoạn đầu tư để xây dựng lộ trình số hóa phù hợp với quy mô vốn, tránh lãng phí ngân sách vào các ứng dụng thương mại điện tử đắt đỏ khi chưa hoàn thiện nền tảng quản trị nội bộ.
  • Các đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ và đơn vị tư vấn: Nắm bắt chân dung khách hàng mục tiêu với quy mô bình quân dưới 12 lao động để thiết kế các phần mềm quản lý gọn nhẹ, chi phí hợp lý, tập trung vào giải quyết bài toán năng suất lao động trực tiếp.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Khai thác mô hình kết hợp PSM-DiD như một tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp luận xử lý biến nội sinh và lựa chọn mẫu trong các đề tài đánh giá tác động chính sách kinh tế công.

Câu hỏi thường gặp

Đầu tư công nghệ thông tin có luôn mang lại hiệu quả ngay lập tức cho DNVVN không?

Không. Nghiên cứu chứng minh CNTT chỉ mang lại mức tăng năng suất 5% đến 7% ở các cấp độ cơ bản như trang bị máy tính và Internet. Đối với các cấp độ cao hơn như xây dựng website hay thương mại điện tử (vốn chỉ chiếm khoảng 3% doanh nghiệp tham gia), hiệu quả tài chính chưa thể hiện rõ ràng nếu thiếu đi sự đồng bộ về quy trình quản trị và năng lực chuyên môn của nhân sự.

Tại sao luận văn lại sử dụng mô hình kết hợp PSM và DiD thay vì phương pháp hồi quy OLS truyền thống?

Mô hình OLS thông thường dễ tạo ra ước lượng chệch do hiện tượng biến nội sinh và xu hướng tự lựa chọn mẫu của doanh nghiệp có tiềm lực. Phương pháp PSM tạo ra nhóm đối chứng tương đồng dựa trên các biến quan sát được từ 1.632 doanh nghiệp, trong khi DiD triệt tiêu toàn bộ các yếu tố không đổi theo thời gian, bảo đảm tính khách quan cho kết quả ước lượng.

Đặc điểm nào của người lãnh đạo có tác động mạnh nhất đến quyết định đầu tư công nghệ?

Trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp là yếu tố chi phối mạnh mẽ nhất. Bằng chứng thực nghiệm chỉ ra có tới 34,51% chủ doanh nghiệp có trình độ đại học thực hiện đầu tư thêm máy tính, cao gần gấp 3 lần so với tỷ lệ 13% ở nhóm chủ cơ sở có trình độ học vấn dưới đại học.

Năng suất lao động tăng từ 5% đến 7% nhờ CNTT tại Việt Nam mang ý nghĩa gì khi đặt trong bối cảnh quốc tế?

Mức tăng này cho thấy Việt Nam đã bước đầu khai thác được lợi ích của tin học hóa cơ bản, tương đương với các nước phát triển như Anh hay Phần Lan ở giai đoạn trước. Tuy nhiên, mức độ cải thiện này vẫn thấp hơn mức trên 10% của Thái Lan do xuất phát điểm năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn 3 lần.

Doanh nghiệp quy mô nhỏ với nguồn vốn hạn hẹp nên ưu tiên lộ trình số hóa như thế nào?

Doanh nghiệp nên tập trung trang bị máy tính cá nhân và mạng Internet để số hóa dữ liệu sổ sách, nâng cao năng suất xử lý công việc của từng cá nhân. Khi tài sản bình quân trên mỗi lao động chưa đạt ngưỡng 100 triệu đồng, doanh nghiệp không nên đầu tư dàn trải vào các phần mềm phức tạp nhằm hạn chế rủi ro thâm hụt dòng tiền.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thành việc đánh giá định lượng toàn diện tác động của 5 cấp độ đầu tư CNTT đến hiệu quả tài chính của 1.632 DNVVN Việt Nam giai đoạn 2008 - 2012.
  • Kết quả thực nghiệm khẳng định đầu tư CNTT giúp gia tăng năng suất lao động từ 5% đến 7%, tập trung chủ yếu ở giai đoạn trang bị máy tính và kết nối mạng Internet.
  • Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn trong việc khai thác ứng dụng web và thương mại điện tử khi tỷ lệ doanh nghiệp tham gia chỉ chiếm hơn 3% và chưa tạo ra hiệu ứng kinh tế tích cực.
  • Luận văn đề xuất 4 nhóm khuyến nghị chính sách đồng bộ: hỗ trợ vốn tín dụng, giảm khoảng cách công nghệ vùng miền, nâng cao nhận thức quản trị và xây dựng mạng lưới tư vấn cấp cao.
  • Đóng góp học thuật quan trọng của đề tài là ứng dụng thành công phương pháp tiếp cận kinh tế lượng hiện đại PSM-DiD để xử lý dứt điểm các sai lệch nội sinh trong đánh giá tác động chính sách.

Về định hướng tiếp theo, các nghiên cứu trong tương lai cần mở rộng khung phân tích sang giai đoạn kinh tế số bùng nổ sau năm 2015, bổ sung các thang đo phi tài chính và đánh giá tác động của điện toán đám mây. Các cấp quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp hãy chủ động ứng dụng các phát hiện từ công trình này để đưa ra những quyết sách đầu tư công nghệ chuẩn xác, tạo bước đột phá về năng suất trong bối cảnh toàn cầu hóa.