chương 1: Giới thiệu đề tài, tóm tắt bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đặt câu hỏi nghiên cứu và đưa ra đối tượng nghiên cứu. Chương 2: Khảo sát các mô hình lý thuyết, trong đó tìm hiểu định nghĩa CNTT, hiệu quả hoạt động trong DNVVN, thực trạng về CNTT ở Việt Nam, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đầu tư CNTT để tìm ra nhóm đối chưng và cuối cùng là khảo sát các mô hình đánh giá tác động. Chương 3: Khung phân tích và mô hình đề xuất giới thiệu các mô hình đánh giá tác động, từ đó đề xuất 2 7 mô hình được sử dụng trong luận văn này là mô hình hồi quy đa biến và mô hình kết hợp PSM- DiD. Chương 4: Kết quả và thảo luận xem xét các kết quả từ 2 mô hình đề xuất và thảo luận dựa trên kết quả tìm được.
Chương 5: kết luận và khuyến nghị gồm phần kết luận tóm tắt lại những ý chính của luận văn, phần khuyến nghị dựa trên kết quả tìm được và nêu ra những hạn chế của đề tài. KHẢO SÁT CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT Chương 2 khảo sát các lý thuyết liên quan đến đánh giá tác động của đầu tư CNTT lên hiệu quả hoạt động DNVVN.1 trình bày định nghĩa về CNTT và DNVVN, so sánh tương quan giữa Việt Nam và thế giới.2 nói về các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động và mức độ đầu tư CNTT trong DNVVN.3 trình bày thực trạng CNTT trong DNVVN ở VN cùng với các chính sách can thiệp của Nhà nước giai đoạn sau 2008.4 sơ lược về các mô hình chấp nhận và ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp.5 tổng hợp các phương pháp đánh giá đầu tư CNTT lên hiệu quả hoạt động của DNVVN trên thế giới.1 Định nghĩa DNVVN và CNTT 2.1 Định nghĩa DNVVN 2.1 Thế giới Đa số các Quốc gia trên thế giới đều phân chia DNVVN theo số lượng lao động và tổng doanh thu hàng năm. Tiêu biểu như các định nghĩa sau: Tổ chức Ủy ban châu Âu (2015) cho rằng DNVVN là ''những doanh nghiệp có ít hơn 250 công nhân viên, tổng doanh thu hàng năm không quá 50 triệu đô la''. Ứng với từng Quốc gia và tùy vào từng ngành khác nhau, định nghĩa về DNVVN tương tự nhưng thay đổi về giới hạn.
Ví dụ ở Nam Phi (RSA, 2004) thì DNVVN có ít hơn 200 công nhân viên, (hoặc 100 trong lĩnh vực nông nghiệp), doanh thu hàng năm ít hơn 64. Hiện nay, Ủy ban châu Âu còn cho rằng khả năng tiếp cận nguồn lực cũng là một thang đo để đánh giá DNVVN. Do một vài doanh nghiệp tuy có ít nhân lực và doanh thu nhưng nhờ các mối quan hệ, liên kết nên có khả năng tiếp cận nguồn lực lớn, do vậy các doanh nghiệp này không phải đối mặt với các vấn đề của DNVVN. Thước đo hiện đại được đề xuất là phân loại DNVVN dựa vào kích thước (số lượng công nhân viên, doanh thu hàng năm) và khả năng tiếp cận nguồn lực (sở hữu, các đối tác, liên kết.
1 Rand: đơn vị tiền tệ của Nam Phi. Viết tắt là R, hoặc ZA, ZAF.2 Việt Nam Tương đồng với thế giới, Việt Nam cũng chia DNVVN2 theo số lượng lao động (nhỏ hơn 300 lao động) và tổng nguồn vốn (dưới 100 tỉ VND), ứng với từng khu vực, cụ thể trong Bảng 2-1. Bảng 2-1: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Số lao động Tổng nguồn Số lao Tổng Số lao động vốn động nguồn vốn Khu vực I.
Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng trở Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và xuống xuống người đến tỷ đồng đến người đến 300 thủy sản 200 người 100 tỷ đồng người II. Công 10 người trở 20 tỷ đồng trở Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và xây xuống xuống người đến tỷ đồng đến người đến 300 dựng 200 người 100 tỷ đồng người III. Thương 10 người trở 10 tỷ đồng trở Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 mại và dịch xuống xuống người đến tỷ đồng đến người đến 100 vụ 50 người 50 tỷ đồng người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính Phủ3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/06/2009 quy định ''Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm''. 2 Ở Việt Nam trong các văn bản luật từ sau 2009 sử dụng từ doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
Bài nghiên cứu này sử dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) với ý nghĩa tương đương. 10 Quy định và phân loại của DNVVN của Việt Nam khá tương đồng với các tổ chức trên thế giới. Tuy nhiên đặc thù ở Việt Nam về khả năng tiếp cận nguồn lực thì lại không được nhắc đến. Do đó tồn tại vấn đề về việc các công ty con của các doanh nghiệp lớn hoặc có mối liên kết mật thiết với nhà nước được lập ra để hưởng các chính sách ưu đãi cho DNVVN.
Điều này là một thiếu sót của Việt Nam trong mối tương quan với thế giới.2 Định nghĩa CNTT 2.1 Thế giới Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về CNTT do quan điểm, phương thức và ứng dụng của CNTT thay đổi liên tục và khác nhau trên từng quốc gia, với từng lĩnh vực (kinh tế, kinh doanh, giáo dục, y tế. Sau đây là một vài định nghĩa tiêu biểu. OECD (2003) định nghĩa ''Sản phẩm CNTT là những sản phẩm được dùng để thực hiện các chức năng xử lý thông tin hoặc giao tiếp bằng các phương thức điện tử, bao gồm truyền tải và hiển thị. Hoặc dùng các tiến trình điện tử để xác định, đo lường, lưu trữ các hiện tượng vật lý, hoặc điều khiển kiểm soát các quá trình sản xuất''.
Đối với kinh doanh, Zuppo (2012) cho rằng ''CNTT là những công nghệ phục vụ cho nhu cầu xử lý và giao tiếp thông tin''. Zuppo (2012) chỉ ra nhiều tài liệu khoa học đồng ý với quan điểm CNTT là những công nghệ cho phép truy cập thông tin thông qua môi trường điện toán, và do đó nó bao gồm Internet, mạng wireless, các thiết bị phần cứng như điện thoại di động, máy tính cá nhân.2 Việt Nam Điều 4 Luật CNTT số 67/2006/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 29/06/2006: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.'' Trước đó khái niệm CNTT vẫn diễn giải theo nghị quyết số 49/CP của Chính phủ, kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi 11 lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội". Có thể thấy trong các văn bản luật của Việt Nam trước năm 2010 chưa định nghĩa và phân loại rõ ràng về CNTT và các quá trình phát triển cần thiết cho doanh nghiệp. Đối với từng ngành nghề khác nhau chưa có định nghĩa riêng biệt.2 Tại sao doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đầu tư công nghệ thông tin? Hầu hết các DNVVN đều có mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện năng lực cạnh tranh trong thị trường.
Đây cũng là nguyên nhân chính để DNVVN đầu tư CNTT. Rathakrishnan (2010), Dutton (2005) cho rằng để cải thiện hiệu quả hoạt động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải thường xuyên “học tập, đổi mới” và “ra quyết định” hợp lý, chất lượng thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong cả 02 hoạt động này. DNVVN có được lượng thông tin “đầy đủ, phù hợp, đúng lúc, chính xác” sẽ giúp cho quá trình học tập và ra quyết định được hiệu quả nhất. Những quyết định đúng sẽ điều chỉnh hoạt động doanh nghiệp, mang lại hiệu quả kinh doanh.
Trong khi chất lượng thông tin kém có thể dẫn đến những quyết định tồi làm doanh nghiệp phải lãng phí thời gian, tiền bạc và có thể phá sản. CNTT lúc này đóng vai trò quan trọng nhất đến chất lượng thông tin của doanh nghiệp. OECD (2004) nhận định ở cấp độ doanh nghiệp, CNTT sẽ giúp cho quá trình giao tiếp, trao đổi trong doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với khách hàng, nhà cung cấp được nhanh hơn, hiệu quả hơn, đưa chi phí giao dịch về mức tối thiểu. Những doanh nghiệp tận dụng được lợi thế này sẽ mở rộng thị trường, cải thiện được năng suất lao động và quy trình kinh doanh.
IRMA (2013) chỉ ra những lợi ích trực tiếp từ việc đầu tư CNTT như tăng doanh số, giảm chi phí, mở rộng thị trường… Đa phần các bài nghiên cứu đều đứng trên lập luận về khả năng nhận thức công nghệ của doanh nghiệp. Với cùng một đẳng phí K1L1, doanh nghiệp có thể đầu tư nhiều vốn (K3, L3) hoặc lao động (K2, L2) để tạo ra mức sản lượng Q2. Nếu giả sử đầu tư CNTT sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, giảm bớt chi phí sản xuất thì cùng với việc ứng dụng CNTT, sản lượng của doanh nghiệp sẽ tăng lên từ Q2 đến Q1. Lúc này doanh nghiệp sản xuất ở mức tối ưu (Hình 2-1).
Tuy nhiên, Cruz-Cunha (2010) cho rằng không nhất thiết doanh nghiệp đầu tư CNTT là sẽ mang lại hiệu quả, điều này còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận về hiệu quả, mức độ đầu tư CNTT, 12 đặc tính của doanh nghiệp và thị trường. Do vậy, phần tiếp theo sẽ xem xét về các loại hiệu quả hoạt động trong DNVVN, và các mức độ đầu tư CNTT trong doanh nghiệp. Hình 2-1: Đường nhận thức của doanh nghiệp về ứng dụng công nghệ thông tin K K1 Đường nhận thức của doanh nghiệp về ứng dụng công nghệ K3 thông tin. K* Q1 K2 Q2 L3 L* L2 L1 L Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 2.1 Các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, Cardinal (2015) đề xuất sử dụng các chỉ số về hiệu quả tài chính (lợi nhuận, tăng trưởng, giá trị thị trường.), tuy nhiên ông cho rằng hiệu quả chiến lược cũng đóng một vai trò quan trọng trong dài hạn.