phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động của đầu tƣ công đến tăng trƣởng kinh tế Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 3: Thực trạng tác động của đầu tƣ công đến tăng trƣởng kinh tế của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2005 - 2013 Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tƣ công trên địa bàn Lào Cai giai đoạn 2014 - 2020 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1. Cơ sở lý luận về đầu tƣ công và tăng trƣởng kinh tế 1. Cơ sở lý luận về đầu tư công 1. Một số khái niệm a.
Đầu tư Theo ngân hàng thế giới: Đầu tƣ là sự bỏ vốn trong một thời gian dài vào một lĩnh vực nhất định (nhƣ thăm đò, khai thác, chế biến, sản xuất kinh doanh, dịch vụ .) và đƣa vốn vào hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều chu kỳ kế tiếp nhằm thu hồi vốn, đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tƣ và lợi ích kinh tế xã hội cho nƣớc nhận đầu tƣ. Theo luật đầu tƣ số 59/2005/QH11, đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 thì: “Đầu tƣ là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tƣ đƣợc hiểu là việc gia tăng tƣ bản nhằm tăng cƣờng năng lực sản xuất tƣơng lai. Đầu tƣ còn đƣợc gọi là hình thành tƣ bản hoặc tích lũy tƣ bản.
Tuy nhiên, chỉ có tăng tƣ bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới đƣợc tính vào quá trình đầu tƣ. Các hoạt động tăng tƣ bản khác bị loại trừ (ví dụ trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản). Việc gia tăng tƣ bản tƣ nhân (tăng thiết bị sản xuất) đƣợc gọi là đầu tƣ tƣ nhân. Việc gia tăng tƣ bản xã hội đƣợc gọi là đầu tƣ công cộng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Các hoạt động sử dụng nguồn lực để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế (nhƣ đƣờng giao thông, hệ thống cấp thoát nƣớc đô thị.) đƣợc gọi là đầu tƣ phát triền. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tƣ phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tƣ bao gồm tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên, khoa học công nghệ. Nhƣ vậy, đầu tƣ là hoạt động sử dụng các nguồn lực trong một thời gian nhất định ở hiện tại để thu đƣợc lợi nhuận kinh tế và lợi ích xã hội trong tƣơng lai.
Nguồn vốn đầu tư Nếu xét trên tổng thể nền kinh tế, nguồn vốn đầu tƣ bao gồm hai loại: nguồn trong nƣớc tiết kiệm đƣợc và nguồn từ nƣớc ngoài đƣa vào. Nguồn từ nƣớc ngoài đƣa vào có thể dƣới dạng: đầu tƣ trực tiếp, đầu tƣ gián tiếp, các khoản vay nợ và viện trợ, tiền kiều hối và thu nhập do nhân tố từ nƣớc ngoài chuyển về. Có thể chia vốn đầu tƣ làm 2 loại là đầu tƣ của khu vực doanh nghiệp và cá nhân (khu vực tƣ) và đầu tƣ của khu vực nhà nƣớc (khu vực công). - Nguồn vốn đầu tƣ của khu vực tƣ: trên lý thuyết thì nguồn đầu tƣ của khu vực tƣ (Ip) đƣợc hình thành từ tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và của cá nhân (Sp) và luồng vốn của nƣớc ngoài đổ vào khu vực này (Fp): Ip = Sp + Fp Sp = Ydp - Cp Trong đó: Ydp là thu nhập khả dụng; Cp là tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình Nguồn tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và cá nhân thƣờng là nguồn chủ yếu trong nền kinh tế.
Nguồn vốn của nƣớc ngoài đổ vào khu vực tƣ thƣờng ở các dạng nhƣ đầu tƣ trực tiếp (FDI) và các khoản nợ. - Nguồn vốn đầu tƣ của khu vực công: nguồn đầu tƣ của nhà nƣớc (Ig) đƣợc xác định theo công thức sau: Ig = (T - Cg) + Fg (1.1) Trong đó: T là các khoản thu của khu vực nhà nƣớc; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 Cg là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nƣớc không kể chi đầu tƣ. Chênh lệch giữa khoản thu và chi này là tiết kiệm của khu vực nhà nƣớc; Fg là các khoản viện trợ và vay nợ từ nƣớc ngoài vào khu vực nhà nƣớc. Dựa vào công thức (1.1) ta thấy đầu tƣ của khu vực nhà nƣớc gồm ba nguồn: Thứ nhất, khả năng huy động vốn của khu vực nhà nƣớc từ khu vực doanh nghiệp và cá nhân hoặc các tổ chức tài chính trung gian.
Hình thức huy động này đƣợc thực hiện bằng việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu của nhà nƣớc. Thứ hai, tiết kiệm của khu vực nhà nƣớc, bằng các khoản thu về ngân sách nhà nƣớc trừ cho các khoản chi thƣờng xuyên. Trong trƣờng hợp các nƣớc kém phát triển thì khoản tiết kiệm này rất khiêm tốn, không đủ đáp ứng nguồn vốn đầu tƣ lớn cho phát triển, nhất là vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng. Thứ ba, nguồn vốn giúp đỡ từ nƣớc ngoài.
Nguồn này có vai trò khá quan trọng đối với các nƣớc kém phát triển. Các nguồn từ nƣớc ngoài thƣờng dƣới dạng viện trợ hoặc vay nợ. Đối tượng đầu tư Trong một nền kinh tế, vốn đầu tƣ tồn tại dƣới nhiều hình thức và vì vậy cũng có nhiều cách đầu tƣ. Có 3 loại đầu tƣ chính sau: - Đầu tư vào tài sản cố định: là đầu tƣ vào nhà, xƣởng, máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận tải.
Đầu tƣ dƣới dạng này chính là đầu tƣ nâng cao năng lực sản xuất. Khả năng đạt tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào đầu tƣ loại này. - Đầu tư vào tài sản lưu động: tài sản lƣu động là những nguyên vật liệu thô, bán thành phẩm đƣợc sử dụng hết sau mỗi quá trình sản xuất. Ngoài ra, tài sản lƣu động cũng có thể là thành phẩm đƣợc đơn vị đó sản xuất ra mà chƣa đem đi tiêu thụ hết.
Nhƣ vậy, lƣợng đầu tƣ vào loại tài sản này chính là sự thay đổi về khối lƣợng của các hàng hoá đó trong một thời gian nhất định. - Đầu tư khác: là các khoản đầu tƣ nhằm gia tăng năng lực phát triển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 của xã hội, nâng cao trình độ dân trí, cải thiện chất lƣợng môi trƣờng. Xét trên tổng thể nền kinh tế, có một dạng đầu tƣ vào tài sản cố định rất quan trọng đó là cơ sở hạ tầng, phần lớn lƣợng đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng do nhà nƣớc đảm nhận. Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tƣ nhân và nƣớc ngoài cũng tham gia đầu tƣ, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình thức thích hợp (ví dụ nhƣ BOT, BTO, BT,.
Đặc điểm của đầu tƣ vào các loại hàng hoá công là nhu cầu vốn lớn, lâu thu hồi vốn nên thƣờng do nhà nƣớc đảm trách. Tuy nhiên, đầu tƣ vào kết cấu hạ tầng có tác động thúc đẩy đầu tƣ của các thành phần kinh tế khác phát triển. Khái niệm và đặc điểm đầu tư công a. Khái niệm đầu tư công Hiện nay, xung quanh việc xây dựng Dự thảo Luật Đầu tƣ công vẫn còn khá nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm của đầu tƣ công.
Mặc dù còn nhiều quan niệm khác nhau, song đa số thống nhất đầu tƣ công bao gồm: (i) vốn đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc; (ii) vốn trái phiếu chính phủ; (iii) vốn tín dụng đầu tƣ phát triển kinh tế; (iv) vốn đầu tƣ của các doanh nghiệp nhà nƣớc; (v) vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ƣu đãi của các nhà tài trợ. Có quan điểm cho rằng đầu tƣ công là đầu tƣ của Nhà nƣớc vào khu vực công. Theo quan điểm này, đầu tƣ công thoả mãn 2 yếu tố: chủ thể đầu tƣ là Nhà nƣớc và mục đích đầu tƣ là vì lợi ích công cộng. Quan điểm này chủ yếu nghiêng về mục tiêu của đầu tƣ, nếu một dự án đƣợc đầu tƣ bởi Nhà nƣớc, bằng nguồn vốn Nhà nƣớc nhƣng không vì mục đích công cộng thì không đƣợc coi là đầu tƣ công (ví dụ: cùng sử dụng vốn Nhà nƣớc: đầu tƣ của doanh nghiệp Nhà nƣớc nhằm tìm kiếm lợi nhuận không đƣợc coi là đầu tƣ công; đầu tƣ xây dựng đƣờng giao thông, bến cảng, trƣờng học và các chƣơng trình, dự án phục vụ lợi ích công cộng là đầu tƣ công).
Khái niệm này là hoàn toàn không chính xác vì doanh nghiệp Nhà nƣớc có nguồn vốn chủ yếu và quan trọng từ ngân sách Nhà nƣớc, do đó không thể coi đó là đầu tƣ tƣ nhân đƣợc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 Một quan điểm khác cho rằng, đầu tƣ công là quá trình Nhà nƣớc sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nƣớc đầu tƣ vào phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm này lại khẳng định đầu tƣ công phải thỏa mãn 3 yếu tố: chủ thể đầu tƣ là Nhà nƣớc, nguồn vốn đầu tƣ từ ngân sách Nhà nƣớc và mục đích đầu tƣ để phát triển kinh tế - xã hội. Nhƣ vậy, mục đích và phạm vi của đầu tƣ công theo quan điểm này rộng hơn so với quan điểm trên, không chỉ là đầu tƣ vào khu vực công, cơ cấu vốn đầu tƣ nhà nƣớc mà có thể vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận của Nhà nƣớc hoặc vì những lợi ích quốc gia khác, nhƣ: tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì cũng đƣợc coi là đầu tƣ công.
Đồng thời, quan niệm này xác định nguồn vốn để đầu tƣ công là ngân sách Nhà nƣớc. Để phù hợp với tình hình quản lý hiện tại, trƣớc khi khái niệm đầu tƣ công đƣợc luật hóa, luận văn sẽ dựa trên khái niệm đầy đủ, phổ biến, phản ánh đƣợc đúng bản chất của đầu tƣ công và thể hiện đầu tƣ công là đối tƣợng của chính sách đầu tƣ của nhà nƣớc. Theo đó, Đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế, xã hội.