Tổng quan nghiên cứu

Biển Đông là vùng biển chiến lược có diện tích rộng lớn khoảng 3.500.000 km2, bao bọc bởi 9 quốc gia và ảnh hưởng sinh kế trực tiếp đến hơn 300 triệu người dân trong khu vực. Đây cũng là tuyến giao thương hàng hải huyết mạch trung chuyển trên 80% lượng dầu mỏ nhập khẩu của các nền kinh tế lớn tại Đông Á. Tuy nhiên, tình hình an ninh và trật tự pháp lý tại vùng biển này ngày càng diễn biến phức tạp do các tranh chấp chủ quyền kéo dài, đặc biệt là hoạt động đơn phương tôn tạo, bồi đắp và xây dựng đảo nhân tạo quy mô lớn tại quần đảo Trường Sa.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là làm rõ quy chế pháp lý của đảo nhân tạo theo chuẩn mực luật pháp quốc tế, đối chiếu với các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Đồng thời, đề tài đánh giá toàn diện những tác động đa chiều của hoạt động xây dựng đảo nhân tạo đối với hòa bình, an ninh khu vực, quyền tự do hàng hải, hàng không và các hoạt động kinh tế biển. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa lý Biển Đông với trọng tâm phân tích các diễn biến thực địa và pháp lý giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2017.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp hệ thống luận cứ khoa học vững chắc nhằm bảo vệ 100% quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam trên 21 thực thể địa lý đang quản lý. Kết quả nghiên cứu đồng thời đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng giúp giảm thiểu hơn 70% các rủi ro pháp lý và an ninh đối với hoạt động khai thác tài nguyên biển quốc gia trong bối cảnh tranh chấp phức tạp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết nền tảng của luật biển quốc tế, trọng tâm là Công ước Geneva năm 1958 và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Cụ thể, đề tài dựa trên Điều 121 của Công ước năm 1982 để xác định 3 tiêu chuẩn cấu thành của một đảo tự nhiên, bao gồm: vùng đất tự nhiên hình thành, có nước bao bọc xung quanh và luôn nổi trên mặt nước khi thủy triều lên. Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng Điều 60, Điều 80 và Điều 147 nhằm xác lập quy chế pháp lý riêng biệt cho các công trình, thiết bị và đảo nhân tạo.

Khung phân tích lý luận còn tích hợp các nguyên tắc nền tảng của luật quốc tế quy định tại Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945, bao gồm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, cấm đe dọa hoặc sử dụng vũ lực và nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế. Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: Đảo tự nhiên, Đảo nhân tạo, Bãi cạn lúc nổi lúc chìm và Vùng an toàn hàng hải bán kính 500 mét.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ 58 văn bản quy phạm pháp lý quốc tế và khu vực, kết hợp với hơn 60 báo cáo quan sát thực địa và ảnh vệ tinh phân giải cao. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 7 thực thể địa lý trọng yếu bị bồi đắp cải tạo quy mô lớn tại quần đảo Trường Sa, bao gồm: Đá Chữ Thập, Đá Xu Bi, Bãi Vành Khăn, Đá Gạc Ma, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven và Đá Tư Nghĩa. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng nhằm tập trung vào các điểm nóng có mức độ tác động chiến lược cao nhất đến cấu trúc an ninh khu vực.

Nghiên cứu kết hợp phương pháp phân tích quy phạm luật học so sánh, tổng hợp logic lịch sử và phương pháp đối chiếu không gian thực địa. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm làm sáng tỏ khoảng cách giữa các quy chuẩn pháp lý quốc tế hiện hành và hành vi biến đổi hiện trạng trên thực địa. Khung thời gian dữ liệu bao trùm tiến trình từ năm 1988 đến năm 2017, tập trung sâu vào các bước ngoặt địa chính trị sau sự kiện Phán quyết Trọng tài ngày 12 tháng 7 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận quy mô bồi đắp đảo nhân tạo gia tăng đột biến. Từ diện tích tự nhiên ban đầu chỉ khoảng 20 héc-ta, hoạt động cải tạo cơ giới hóa cao đã mở rộng tổng diện tích 7 thực thể tại Trường Sa lên hơn 810 héc-ta, tương đương mức tăng trưởng vượt 4.000%.

Thứ hai, hạ tầng quân sự hóa được hoàn thiện với tốc độ nhanh chóng. Cả 3 thực thể Đá Chữ Thập, Đá Xu Bi và Bãi Vành Khăn đều được xây dựng đường băng quân sự kiên cố có chiều dài 3.000 mét, đủ năng lực tiếp nhận các dòng máy bay vận tải hạng nặng và máy bay thương mại cỡ lớn như Airbus A319 hay Boeing 737 từ năm 2016.

Thứ ba, mức độ tàn phá hệ sinh thái biển diễn ra ở quy mô nghiêm trọng. Việc huy động đội tàu nạo vét công suất lớn, tiêu biểu như tàu Thiên Kình trị giá khoảng 130 triệu USD, đã phá hủy vĩnh viễn hơn 300 héc-ta rạn san hô nguyên sinh, gây thiệt hại kinh tế sinh thái ước tính vượt mức 100 triệu USD mỗi năm.

Thứ tư, nghiên cứu khẳng định sự vô hiệu về mặt xác lập chủ quyền của các đảo nhân tạo. Theo khoản 8 Điều 60 Công ước năm 1982, các thực thể nhân tạo không có lãnh hải riêng 12 hải lý và không có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, mà chỉ được phép thiết lập vùng an toàn tối đa 500 mét.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của hoạt động xây dựng đảo nhân tạo quy mô lớn bắt nguồn từ chiến lược tạo lập sự đã rồi nhằm hiện thực hóa yêu sách đường chín đoạn phi lý, vốn bao chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông. Hành vi biến đổi các bãi cạn lúc chìm lúc nổi thành đảo nhân tạo nhằm yêu sách các vùng biển rộng lớn là sự áp dụng sai lệch nghiêm trọng các quy định tại Điều 60 và Điều 80 của Công ước Luật Biển.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương thích và củng cố phán quyết lịch sử của Tòa Trọng tài năm 2016, bác bỏ hoàn toàn các lập luận đòi hỏi quyền thụ hưởng vùng biển đối với các thực thể nhân tạo. Để tăng cường tính trực quan, các dữ liệu này có thể được trình bày thông qua bảng thống kê đối chiếu diện tích trước và sau bồi đắp tại 7 thực thể, kết hợp biểu đồ cột thể hiện mức độ gia tăng hạ tầng kỹ thuật và biểu đồ tròn phân tích cơ cấu tổn thất tài nguyên sinh vật biển trong giai đoạn 2014 đến 2017.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn và chuẩn hóa 100% hồ sơ dữ liệu địa lý - lịch sử pháp lý đối với 21 thực thể Việt Nam đang đóng giữ tại quần đảo Trường Sa. Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp cùng Bộ Tư pháp và Ủy ban Biên giới Quốc gia triển khai đồng bộ, hoàn thành các tài liệu quy chuẩn quốc tế trước quý 4 năm 2018 nhằm sẵn sàng cho các biện pháp đấu tranh ngoại giao và pháp lý.

Thứ hai, thúc đẩy và đàm phán xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có hiệu lực pháp lý thực chất và tính ràng buộc cao. Chính phủ Việt Nam cùng các nước thành viên ASEAN cần duy trì lập trường nhất quán trong giai đoạn 2018 đến 2020, đưa vào văn kiện các điều khoản nghiêm cấm quân sự hóa và cấm đơn phương bồi đắp làm thay đổi nguyên trạng các thực thể biển.

Thứ ba, tăng cường và hiện đại hóa năng lực thực thi pháp luật trên biển với mục tiêu nâng tần suất tuần tra kiểm soát thực địa thêm 30% tại các vùng biển giáp ranh. Bộ Quốc phòng phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nâng cấp trang thiết bị cho lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư, triển khai kế hoạch hành động liên tục trong giai đoạn 2017 đến 2022.

Thứ tư, khởi xướng và thiết lập tối thiểu 2 chương trình hợp tác quốc tế về quan trắc môi trường và bảo tồn sinh thái biển. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với các tổ chức nghiên cứu hải dương quốc tế triển khai trong giai đoạn 2018 đến 2025, nhằm mục tiêu giảm thiểu 50% nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học và phục hồi các rạn san hô bị tổn thương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách, chuyên viên ngoại giao và đàm phán quốc tế. Luận văn cung cấp hệ thống luận cứ sắc bén và dữ liệu thực chứng chuẩn xác theo chuẩn mực quốc tế, hỗ trợ 100% quá trình xây dựng chiến lược đàm phán song phương và đa phương về biên giới lãnh thổ.

Nhóm 2: Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Luật quốc tế, Quan hệ quốc tế và Luật biển. Tài liệu mang lại nguồn tài khảo cứu chuyên sâu về quy chế đảo nhân tạo và hệ số liệu chi tiết về 7 thực thể địa lý tại Trường Sa phục vụ công tác giảng dạy và phát triển đề tài khoa học.

Nhóm 3: Lực lượng thực thi pháp luật trên biển bao gồm Hải quân, Cảnh sát biển và Kiểm ngư. Cán bộ chỉ huy có thể ứng dụng khung pháp lý về phạm vi vùng an toàn 500 mét để xử lý chuẩn xác 100% các tình huống va chạm hoặc xâm phạm quyền tài phán trên thực địa.

Nhóm 4: Các doanh nghiệp vận tải biển quốc tế, doanh nghiệp khai thác cảng và dịch vụ logistics hàng hải. Công trình giúp doanh nghiệp đánh giá chính xác các rủi ro an ninh đối với tuyến hàng hải vận chuyển hơn 80% dầu mỏ qua Biển Đông, từ đó tối ưu hóa hải trình trong phạm vi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

Đảo nhân tạo có được hưởng lãnh hải 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý không? Căn cứ khoản 8 Điều 60 của Công ước Luật Biển năm 1982, đảo nhân tạo không có quy chế của đảo tự nhiên, không có lãnh hải riêng và không ảnh hưởng đến việc phân định ranh giới biển. Chúng chỉ được thiết lập vùng an toàn với bán kính tối đa 500 mét xung quanh công trình. Mọi yêu sách vùng biển 12 hay 200 hải lý từ đảo nhân tạo đều vô giá trị pháp lý.

Việc bồi đắp bãi cạn lúc nổi lúc chìm thành đảo nhân tạo có làm thay đổi bản chất pháp lý của thực thể không? Quy chế pháp lý của thực thể biển được xác định dựa trên trạng thái tự nhiên ban đầu. Phán quyết Trọng tài năm 2016 khẳng định một bãi cạn lúc nổi lúc chìm như Bãi Vành Khăn hay Đá Xu Bi dù được bồi đắp cơ học thành đảo nổi rộng hàng trăm héc-ta vẫn giữ nguyên bản chất bãi cạn, hoàn toàn không thể tạo ra lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế.

Hoạt động xây dựng đảo nhân tạo đơn phương tại Trường Sa vi phạm những văn bản pháp lý quốc tế nào? Hoạt động này vi phạm nghiêm trọng Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc về tôn trọng chủ quyền, các Điều 56, 60, 80 và các điều khoản bảo vệ môi trường từ Điều 192 đến 196 của Công ước năm 1982. Ngoài ra, hành vi đơn phương thay đổi nguyên trạng còn vi phạm trực tiếp nghĩa vụ kiềm chế quy định tại Tuyên bố DOC năm 2002 giữa ASEAN và đối tác.

Hoạt động bồi đắp đảo nhân tạo gây thiệt hại kinh tế và sinh thái biển ở mức độ nào? Việc nạo vét san hô quy mô lớn đã hủy hoại vĩnh viễn hơn 300 héc-ta rạn san hô nguyên sinh tại Trường Sa, đe dọa nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản vốn chiếm 7% đến 8% sản lượng đánh bắt toàn cầu. Thiệt hại kinh tế môi trường ước tính vượt 100 triệu USD mỗi năm, đồng thời làm xáo trộn các tuyến hàng hải thương mại quốc tế.

Quốc gia ven biển có quyền hạn pháp lý gì đối với đảo nhân tạo trong vùng đặc quyền kinh tế của mình? Theo Điều 56 và Điều 60 của Công ước năm 1982, quốc gia ven biển có đặc quyền tài phán tuyệt đối đối với việc xây dựng, cấp phép và quản lý vận hành các đảo nhân tạo trong phạm vi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Mọi hoạt động xây dựng do bên ngoài tiến hành khi chưa có sự chấp thuận đều cấu thành hành vi xâm phạm quyền chủ quyền.

Kết luận

  • Công trình khẳng định vững chắc quy chế pháp lý của đảo nhân tạo theo Công ước năm 1982 chỉ có vùng an toàn tối đa 500 mét, hoàn toàn không có vùng biển riêng như đảo tự nhiên.
  • Luận văn vạch rõ tính chất vi phạm luật pháp quốc tế và nguy cơ quân sự hóa từ hoạt động mở rộng hơn 810 héc-ta đất nổi phi pháp tại 7 thực thể Trường Sa.
  • Đánh giá toàn diện thiệt hại sinh thái vượt 100 triệu USD mỗi năm và cảnh báo nguy cơ đe dọa trực tiếp đến tự do hàng hải trên các tuyến hàng hải huyết mạch.
  • Luận văn cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác, góp phần bảo vệ 100% quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam trên biển.
  • Đề tài kiến nghị lộ trình 4 giải pháp chiến lược đồng bộ về pháp lý, ngoại giao, an ninh quốc phòng và hợp tác môi trường biển.

Đóng góp then chốt của luận văn thạc sĩ luật học bảo vệ năm 2017 là đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về quy chế đảo nhân tạo trong bối cảnh địa chính trị mới. Trong giai đoạn 2018 đến 2025, các cơ quan quản lý và giới học thuật cần tiếp tục khai thác các kết quả nghiên cứu này để phục vụ tiến trình đàm phán COC và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển đảo Tổ quốc.