CHƯƠNG I: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nội dung tổng quan 1. Các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của đại dịch covid -19 tới việc thu hút nguồn vốn FDI ở một số nước đang phát triển. Với vai trò và sự ảnh hưởng sâu rộng, FDI nhận được sự quan tâm cả ở tầm quốc gia và quốc tế.
Trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về FDI. Sau đây tác giả xin nêu một số nghiên cứu điển hình liên quan đến các yêu tô thu hút FDI vào nước sở tại. Có một sự thống nhất chung rang FDI có quan hệ mật thiết, thúc day tăng trưởng kinh tế nhưng không có sự thống nhất về yếu tố nào thu hút FDI vào nước sở tại. Một số nghiên cứu trên thé giới đã đi sâu tìm hiểu yếu tố nào giúp nước sở tại thu hút FDI.
Chăng hạn, các nghiên cứu của Nghiên cứu của Qamar (2019), “Macroeconomic Factors of FDI in Asian Economies: a study of 14 Asian Countries / Các yếu tô kinh tế vĩ mô của FDI trong các nền kinh tế châu A: một nghiên cứu về 14 quốc gia châu Á”, phân tích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nền kinh tế châu A giai đoạn 2003 đến 2017. Kết qua cho thay GDP, độ mở thương mai và tỷ giá hối đoái có tác động đáng ké đến dòng FDI vào Trung Quốc, An Độ Jordan, Pakistan và Việt Nam. Trong khi đó, chỉ phí lao động và thuế suất có ý nghĩa tích cực đối với FDI vào Hồng Kông và Philippines. Dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển không đồng đều cả về số lượng và chất lượng.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rang, các nền kinh tế đang phát triển nhanh ở châu Á với dân số lớn đã và đang thúc đây sự gia tăng trong vài thập kỷ qua, quan trọng nhất là Trung Quốc, mà còn cả Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. Dòng vốn đầu tư vào các quốc gia này các nước chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất và dịch vụ. Tổng hợp lại, điều này có thé cho thấy rằng chúng ta đang thay sự bắt đầu của sự phục hồi hoạt động kinh doanh trên toàn cầu theo hình chữ V và giả sử các quốc gia khác phục hồi, thi sự sụt giảm FDI trên toàn cầu sẽ không nghiêm trọng như dự đoán của một số người. Hoặc, nó có thể chỉ ra rang các công ty Trung Quốc đang sử dụng cuộc khủng hoảng này như một cơ hội để mở rộng hơn nữa ảnh hưởng toàn cầu của họ.
Trên thực tế, dòng vốn FDI từ khu vực Nam toàn cầu, chủ yếu là Trung Quốc, đã gia tăng trong một số năm nay. Dé khôi phục sau COVID-19, thế giới - nói riêng và các nước đang phát triển sẽ đòi hỏi một lượng lớn các nguồn lực. Dòng vốn FDI có thé mang lại một sé nguồn lực đó, nhưng các chính phủ sẽ cần đưa ra các điều kiện dé giúp thu hút và duy trì các khoản dau tư hiệu quả và quan trọng hơn là dé tối đa hóa lợi ích phát triển của họ. Cuộc khủng hoảng này có thé tạo cơ hội cho các chính phủ kiểm tra lại cách tiếp cận của họ đối với việc thu hút và duy trì đầu tư, nhằm tăng cường sự gan bó của FDI vào các nền kinh tế địa phương của họ.
Trong khi đó, các nghiên cứu của của Jonathan Gregson (2021) “FDI During Covid-19: Up, Down and Sideways/ FDI trong thời kỳ Covid- 19: kiểu tăng, giảm và ngang”, cho rằng, dau tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc đã tăng lên mức cao kỷ lục vào năm 2020 nhờ tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong 5 năm bất chấp những gián đoạn do đại dịch coronavirus gây ra. Dự kiến vốn FDI trong năm dat 1 nghìn tỷ nhân dân tệ, tương đương 160 tỷ USD và tăng từ năm 2020 lên 163 tỷ USD, đây vẫn là dòng vốn lớn nhất trong năm. Con số này cao hơn so với Mỹ vốn chỉ thu hút được 143 tỷ USD (dựa trên báo cáo của Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc.) Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn đang rất thận trọng với kỳ vọng này, mặc dù FDI tốt hơn dự kiến nhưng vẫn phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng khi xét đến đại dịch COVID-19 đang phát triển, việc tái thiết các chuỗi cung ứng công nghiệp toàn cầu và các yếu tố phi tài chính bao gồm phân tách và thiết lập rào cản. Trong cả việc xử lý cuộc khủng hoảng Covid-19 và khả năng tiếp tục thu hút FDI, Trung Quốc đã làm tốt hơn nhiều so với bất kỳ nước nào cùng ngành.
Trung Quốc đã trở thành một điểm đến an toàn cho nguồn vốn toàn cầu, không chỉ cho FDI mà còn cho các nhà đầu tư danh mục đầu tư. Dữ liệu cũng cho thấy các chính sách tài khóa và tiền tệ mạnh mẽ đã thúc đây sự phục hồi kinh tế của đất nước. Các chính sách này, bao gồm giảm thuế và hỗ trợ tín dụng, nhằm vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các ngành và khu vực bị thiệt hại nặng nề, đã giúp tạo việc làm, khuyến khích sản xuất và đầu tư. Tổng hợp lại, điều này có thể cho thấy rằng chúng ta đang thấy sự bắt đầu của sự phục hồi hoạt động kinh doanh trên toàn cầu theo hình chữ V và giả sử các quốc gia khác phục hồi, thì sự sụt giảm FDI trên toàn cầu sẽ không nghiêm trọng như dự đoán của một số người.
Hoặc, nó có thê chỉ ra rằng các công ty Trung Quốc đang sử dụng cuộc khủng hoảng này như một cơ hội dé mở rộng hơn nữa ảnh hưởng toàn cầu của họ. Trên thực tế, dòng vốn FDI là nguồn vốn đầu tư nước ngoài quan trọng cho các nước đang phát triển và đóng góp đáng kể vào sự phát triển lâu dài của nền kinh tế. Có thể nói, thành tựu kinh tế và sự tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc trong vài thập kỷ qua một phần nhờ FDI. Tiếp đến, Srijita Nundy and Tapas K.
Mallicka (2020) “How India is dealing with COVID-19 pandemic / Cách An Độ đối phó với dai dịch COVID-19”. Bài viết đã phản ánh nền kinh tế An Độ, một thị trường đang phát triển đã rơi vào giai đoạn khủng hoảng kể từ năm ngoái khi nền kinh tế của nước bị ảnh hưởng bởi dịch Covid 19. Trong khi chính sách FDI của Ấn Độ nêu rõ rằng FDI vào các lĩnh vực thuộc lộ trình tự động sẽ phải tuân theo luật hiện hành, bao gồm các điều kiện an ninh, chính phủ đã không sử dụng rõ ràng quyền quyết định của mình dé ngăn chặn FDI vào các lĩnh vực đó vi ly do an ninh. Trong khi dòng vốn FDI giảm ở những nơi khác thì An Độ đã ghi nhận mức tăng trưởng 13% về vốn FDI vào năm 2020 bat chấp đại dịch COVID- 19, dẫn đầu là các khoản đầu tư vào lĩnh vực kỹ thuật số.
Đồng thời, quy trình phê duyệt FDI theo chế độ hiện hành (trong đó bộ ngành là cơ quan có liên quan) tốn nhiều thời gian hơn so với trước đây của Ban xúc tiến đầu tư nước ngoài va do đó, cần phải được sắp xếp hợp lý dé loại bỏ tình trạng kém hiệu quả. Chính phủ cũng có thể xem xét thiết lập một cơ chế tham vấn trước khi nộp đơn, tương tự như Ủy ban Cạnh tranh của An Độ, dé tạo điều kiện sớm xác định yêu cầu phê duyệt và giảm gánh nặng hành chính. Nó cũng có thê xem xét tiễn hành rà soát nhanh chóng các ứng dụng FDI trong hau hết các lĩnh vực, ngoại trừ các lĩnh vực được xác định có tầm quan trọng quốc gia như cơ sở hạ tầng quan trọng, ngân hàng, chăm sóc sức khỏe và viễn thông. Nghiên cứu của nhóm tác giả Fragkikos Filippaios, Fatima Annan-Diab (2019) “Political Governance, Civil Liberties and Human Capital: Evaluating their effect on Foreign Direct Investment in Emerging and Developing Economies / Quản tri chính tri, Tự do dân sự va Vốn con người: Đánh giá tác động của chúng đối với Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nền kinh tế mới noi va đang phát triển”, đã đưa ra các yêu tô về rủi ro chính trị như tham nhũng, thiếu dân chủ, bat 6n.
có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến dòng vốn FDI, đặc biệt của các quốc gia đang phát triển, khan hiếm vốn. Song lại không chỉ ra duoc tỷ lệ lạm phát, rủi ro chính trị và phát triển cơ sở hạ tang có tam quan trọng ảnh hưởng đến dòng vốn FDI. Tác giả cũng khang định, chế độ thé chế có ảnh hưởng đến sức hấp dẫn vốn đầu tư nước ngoài, tùy thuộc theo mục đích đầu tư của từng doanh nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho rằng quy mô thị trường mà cụ thé là GDP, được xếp hạng rủi ro quốc gia tác động cùng chiều lên FDI, còn khoảng cách và chi phí lao động tác động ngược chiều với FDI.
10 Nghiên cứu cũng đã có những phân tích cụ thé về biến động của dòng FDI theo từng khu vực nhỏ thuộc châu Á, tuy nhiên, các yêu tố ảnh hưởng tới dòng FDI vào khu vực này chưa được thể hiện rõ. Trong bối cảnh khủng hoảng, dòng vốn FDI trên toàn cầu cũng như ở các khu vực và các nền kinh tế có xu hướng giảm. Tat cả các lĩnh vực đều bị ảnh hưởng; tuy nhiên, FDI giảm mạnh và rõ rang trong các lĩnh vực dich vụ liên quan đến tiêu ding như: hàng không, khách sạn, nhà hang, các ngành sản xuất và lĩnh vực năng lượng. Việc thu hep FDI ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nước dang phát triển, đặc biệt là các nước chịu ảnh hưởng nặng nề từ khủng hoảng.
Và gần đây là Nghiên cứu của FutureLearn (2020) “The Philippines Economy and the Impact of Covid — 19 / Nền kinh tế Philippines và tác động của Covid - 19”. Trong bài viết này, tác giả cho rằng Covid-19 đã ngăn cản xu hướng tăng lương. Thực tế này, gây ra những tác động tiêu cực đối với việc xóa đói giảm nghèo ở Philippines. Tiếp tục tăng trưởng có thể đảo ngược xu hướng tiêu cực này một lần nữa bởi vào thang 1 năm 2020, trường hợp COVID-19 đầu tiên của quốc gia này đã được ghi nhận và đến tháng 3, quốc gia này đã được đặt trong tình trạng kiểm dịch cộng đồng nghiêm ngặt, hạn chế khả năng di chuyền và hoạt động thương mại.
Mặc dù những hành động này đã làm trì hoãn sự lây lan của COVID-19, nhưng chúng đã gây ra những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng đối với thu nhập gia đình, việc làm, giáo dục, an ninh lương thực và doanh nghiệp.