Chương 1 chỉ ra tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc phân tích các yếu tố tác động đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, đề tài đưa ra 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được giải quyết thông qua 03 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Tiếp theo, đề tài trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là 27 NHTM tại Việt Nam trong 10 năm, giai đoạn từ 2009 – 2019. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, hồi quy với dữ liệu bảng để phân tích các yếu tố, trong đó có yếu tố đa dạng hóa thu nhập và lợi nhuận của các NHTM.
Cuối cùng, chương này trình bày kết cấu khóa luận gồm 05 chương và sơ lược về nội dung chính của mỗi chương. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm trong và ngoài nước về sự tác động của đa dạng hóa thu nhập đến lợi nhuận tại các NHTM, qua đó chương này sẽ thảo luận kết quả của một số nghiên cứu trước đây và thiết kế mô hình nghiên cứu cho đề tài với trường hợp các NHTM. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Thu nhập của ngân hàng thương mại Hiện nay ngoài các sản phẩm truyền thống thì ngân hàng thương mại đang thực hiện gia tăng cung ứng nhiêu sản phẩm, dịch vụ hơn với mục đích là đạt được mức lợi nhuận tối đa nhất.
Căn cứ vào các loại sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng thương mại, để đạt được mức thu nhập cao nhất thì vẫn đề chủ yếu ở đây là quản lý thật tốt hai thành phần thu nhập chính gồm: thu nhập thuần từ lãi (hay thu nhập thuần từ hoạt động tín dụng) và thu nhập thuần ngoài lãi (hay thu nhập thuần từ hoạt động ngoài tín dụng). Thu nhập thuần lãi Theo Dương Thị Thảo Nguyên (2019) cho rằng số tiền nhàn rỗi của mỗi cá nhân, tổ chức được các NHTM huy động gữi tại ngân hàng dưới hình thức tiền gửi, động thời các NHTM sẽ trả cho họ một khoản lãi sau một thời gian giữ vốn. Sau khi huy động, các NHTM sẽ dùng khoản vốn huy động được cho vay lại các khách hàng thiếu vốn và yêu cầu họ phải trả lãi vay cho ngân hàng. Với cơ chế hoạt động đó, để có lợi nhuận ngân hàng phải thiết lập lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động, phần chênh lệch giữa hai mức lãi suất này sẽ tạo nên thu nhập thuần từ lãi cho ngân hàng.
Theo Dương Thị Thảo Nguyên (2019) thu nhập từ hoạt động tín dụng bao gồm: thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu lãi từ đầu tư chứng khoán, thu lãi cho thuê tài chính. Có thể hiểu đơn giản, thu nhập thuần từ lãi sẽ được tính toán bằng các khoản thu nhập từ lãi và có tính chất như lãi trong hoạt động cho vay, đầu tư trừ đi chi phí trả lãi đầu vào của nguồn huy động tương ứng. 8 Thu nhập thuần ngoài lãi Theo Dương Thị Thảo Nguyên (2019) cho rằng khoản thu nhập của ngân hàng được khi khách hàng trả một chi phí từ hoạt động cung ứng sản phẩm, dịch vụ khác ngoài tín dụng và chi phí khách hàng bỏ ra để thực hiện các sản phẩm dịch vụ đó không có tính chất lãi, được gọi là thu nhập thuần ngoài lãi (Non_interest income). Thu nhập từ hoạt động ngoài tín dụng bao gồm thu từ hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối, thu từ kinh doanh chứng khoán, thu từ sản phẩm các công cụ tài chính phái sinh và thu từ các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác.
Thu nhập thuần từ hoạt động ngoài tín dụng hay thu nhập thuần ngoài lãi được tính toán bằng cách lấy các khoản thu nhập kể trên trừ đi các chi phí phát sinh tương ứng cho các khoản thu này. Đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng thương mại Theo Markowitz (1952), đa dạng hóa là ý tưởng trong đó tiền được nhà đầu tư phân bổ vào nhiều loại đầu tư khác nhau. Trong khi một lĩnh vực bị sụt giảm và lĩnh vực khác tăng trường thì đa dạng hóa trong đầu tư giúp giảm thiểu rủi ro của nhà đầu tư. (1957), thuật ngữ đa dạng hóa thường được gắn liền với sự thay đổi những đặc điểm dòng sản phẩm của công ty hoặc thị trường, trái ngược với sự thâm nhập thị trường, phát triển thị trường hay phát triển sản phẩm, đa dạng hóa đại diện cho sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm.
Đối với doanh nghiệp nói chung, đa dạng hóa là việc mà một công ty mở rộng kinh doanh cốt lõi của mình vào thị trường sản phẩm khác. Các doanh nghiệp đa dạng hóa khi mong muốn kinh doanh đồng thời từ hai lĩnh vực khác nhau trở lên. Trong ngành ngân hàng, đa dạng hóa xảy ra khi các ngân hàng mở rộng thị trường sản phẩm dịch vụ khác hoặc lĩnh vực kinh doanh như bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán, … không tập trung vào việc kinh doanh cốt lõi của mình là thu nhập từ lãi. Theo Sanya & Wolfe (2011), đa dạng hóa là một chiến lược đầu tư được thiết kế bằng cách kết hợp một loạt các khoản đầu tư khác nhau nhằm giảm bớt rủi ro.
Với kết hợp này một danh mục đầu tư được tạo ra theo nhiều hướng và tất cả các khoản đầu tư 9 không có khả năng di chuyển theo cùng một hướng. Mục tiêu đa dạng hóa trong lý thuyết danh mục đầu tư chính là làm giảm rủi ro. Các tài liệu nghiên cứu về đa dạng hóa ngân hàng phân tích lợi ích và hạn chế của chiến lược phát triển theo các loại hình đa dạng hóa. Đa dạng hóa có thể làm tăng hiệu suất qua việc tiết kiệm chi phí và đảy mạnh doanh thu nhờ việc kết hợp các dịch vụ tài chính (Llewellyn, 1996; Teece, 1980).
Hay ngược lại đa dạng hóa làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm sút, rủi ro tín dụng tăng khi gặp vấn đề về quy mô hay quản lý… (De Young và Roland, 2001; Lepetit và cộng sự, 2008; Stiroh, 2004) Theo phân loại của Mercieca, Schaeck & Wolfe (2007), trong lĩnh vực ngân hàng đa dạng hóa chia thành ba khía cạnh: (i) đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ tài chính, (ii) đa dạng hóa địa lý và (iii) kết hợp đa dạng hóa địa lý và sản phẩm dịch vụ tài chính. Mỗi ngân hàng có thể lựa chọn nhiều cách thức đa dạng hóa trong chiến lược kinh doanh của mình. Các quyết định lựa chọn ấy với mục tiêu cuối cùng là làm cách nào gia tăng doanh thu, chi phí được giảm thiểu tối đa, lợi nhuận thu về ngày càng nhiều, tìm kiếm nhiều khách hàng và đảm bảo sự tồn tại, phát triển ổn định, bền vững cho ngân hàng. Mục tiêu đó sẽ được thực hiện qua việc làm cho thu nhập ngân hàng tăng lên.
Do đó, đa dạng hóa thu nhập được xem là chỉ tiêu tốt nhất phản ánh kết quả của các chiến lược đa dạng hóa nhiều hơn là xem đó như một hình thức đa dạng hóa trong quá trình hoạt động của ngân hàng (Campa và Kedia 2002, Baele và cộng sự 2007, Chiorazzo và cộng sự 2008, Lepetit và cộng sự 2008). Theo Elsas và cộng sự (2010), các NHTM thường đa dạng hóa thu nhập bằng cách chuyển sang các hoạt động thu phí từ các hoạt động kinh doanh truyền thống như tiền gửi và tiền vay để thu lãi; sau đó các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động phi truyền thống khác như hoạt động đầu tư trên cơ sở thu nhập từ phí ổn định để gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập hoạt động. Tóm lại, đa dạng hóa thu nhập ngân hàng là việc nâng cao tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập ngân hàng, mảng kinh doanh truyền thống (hoạt động tín dung) được chuyển sang kinh doanh phi truyền thống nhờ từ thu phí dịch vụ như (dịch vụ 10 chuyển tiền trong và ngoài nước, dịch vụ thẻ, thanh toán xuất nhập khẩu, môi giới chứng khoán đầu tư, ngân hàng điện tử…) tạo thêm nguồn thu nhập cho ngân hàng. Những dịch vụ phi tín dụng cần đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng, nhiều tiện ích cáo, giao dịch nhanh, chính xác và liên kết chặt chẽ để phát triển một cách đồng bộ.
Như vậy, đa dạng hóa thu nhập ngân hàng chính là sự tăng thêm nguồn thu nhập ngoài lãi phát triển mảng kinh doanh phi truyền thống hay các sản phẩm tài chính của ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, dịch vụ thẻ, mua bán ngoại tê, thanh toán xuất nhập khẩu, môi giới đầu tư chứng khoán, hoa hồng đại lý, ngân hàng điện tử,… hay nói cách khác ngân hàng phân chia giữa thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập của ngân hàng thay vì tập trung vào hoạt động kinh doanh truyền thống để đáp ứng mọi nhu cầu khách hàng.3 Đo lường đa dạng hóa thu nhập Theo Asif và Akhter (2019), đa dạng hóa thu nhập trong ngân hàng chủ yếu được đo lường thông qua tỷ lệ thu nhập ngoài lãi và chỉ số Herfindahl Hirschman. Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi Thu nhập của ngân hàng chia thành 2 loại thu nhập chính là thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi (Gurbuz và cộng sự 2013). Theo nghị định 93/2017/NĐ-CP và thông tư 16/2018/TT-BTC, thu nhập ngân hàng là những khoản thu được từ hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự; thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán (trừ cổ phiếu), thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác. Trong đó, thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự là các khoản thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu lãi từ kinh doanh, đầu tư chứng khoán nợ, thu từ nghiệp vụ bảo lãnh, thu lãi cho thuê tài chính, thu lãi từ nghiệp vụ mua bán nợ, thu khác từ hoạt động tín dụng.
Thu nhập từ hoạt động dịch vụ là các hoạt động thu từ dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, hoạt động dịch vụ khác. Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng là thu từ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng, thu lãi chênh lệch tỷ giá, thu 11 từ công cụ tài chính phái sinh tiền tệ.