Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các công trình nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Mô hình và dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 5 CHƢƠNG II. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Các c ng tr nh nghiên cứu kết luận cung tiền có ảnh hƣởng đến lạm phát: Imran Sharif Chaudhry (2010) Tác giả nghiên cứu tại Pakistan sử dụng dữ liệu từ 1972 đến 2010 để xem xét cung tiền có ảnh hưởng đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế hay không? Trong đề tài, tác giả kiểm định tính dừng, đồng liên kết đều thỏa với các biến Real GDP, M2, Exchange Rate, vay nợ nội địa %/GDP, lãi suất, thâm hụt Ngân sách, CPI, kiểm định Granger (nhân quả) kết quả chỉ có Real Exchange rate có mối liên hệ với Real GDP còn lại các biến đều không có mối liên hệ này sau đó tác giả sử dụng mô hình VECM để ước lượng mô hình. Tác giả đã kết luận như sau: “Trong ngắn và dài hạn CS tiền tệ (trong đó có biến cung tiển) có mối quan hệ với lạm phát và tăng trưởng KT tại Pakistan 1972 – 2010”. “Chủ yếu CSTT tại Pakistan góp phần kiểm soát lạm phát”.
Enang Bassey Udah (2005) Theo tác giả nghiên cứu dữ liệu từ 1970 – 2004 tại Nigieria. Theo tác giả nghiên cứu sự tăng trưởng cung tiền M2 do thâm hụt Ngân Sách sẽ làm GDP và lạm phát sẽ không ổn định theo. Tác giả sử dụng mô hình OLS và VECM để khảo sát tác động của cung tiền, lạm phát và tăng trưởng KT sau khi đã tiến hành các bước kiểm định tính dừng, kiểm định đồng liên kết đều thỏa mãn yêu cầu của mô hình. Tác giả kết luận có sự đánh đổi giữa tăng trưởng KT và lạm phát tại Nigeria, sự giảm cung tiền từ 20% trở lên sẽ tác động giảm lạm phát nhanh hơn sự giảm cung tiền dưới 10%.
Georgantopoulos1 and Anastasios D. Tsamis (2010) Nghiên cứu được tiến hành tại đảo Cyprus với dữ liệu từ năm từ 1980 – 2009 về cung tiền, LP, chi tiêu của Chính Phủ (CP) và tăng trưởng KT. Tác giả sử dụng mô hình VECM sau khi đã tiến hành các kiểm định Johansen, Granger đều thỏa mãn yêu cầu của mô hình. Các biến M2, real GDP, CPI, GE (Goverment Expenditure).
Nếu các biến dừng tại sai phân bậc 1 áp dụng mô hình VAR, nếu các biến không dừng tại sai phân bậc 1 mà có đồng liên kết => sử dụng VECM. Tác giả kết luận tăng trưởng cung tiền M2 ảnh hưởng tăng trưởng KT, đồng thời làm tăng lạm phát. Chính phủ Cyprus 6 thành công trong việc thúc đẩy tăng trưởng KT bằng chi tiêu CP. Tuy nhiên để kìm lạm phát, chính phủ nên có chính sách chi tiêu công hợp lý hơn.
Nguyễn Thị Thu Hằng – Nguyễn Đức Thành (VEPR 2011): Đã xây dựng mô hình VECM với các biến CPI, sản lượng công nghiệp, cung tiền M2, lãi suất, tỷ giá, giá dầu quốc tế, tín dụng, chỉ số giá bán của người sản xuất, thâm hụt ngân sách, giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán, chỉ số giá nhập khẩu và giá gạo quốc tế. Dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 2000-2010. Kết luận của mô hình : quán tính lạm phát của Việt Nam là cao và là một nhân tố quan trọng quyết định lạm phát của Việt Nam trong hiện tại; tốc độ điều chỉnh là rất thấp trên cả thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, mức chuyển tỷ giá vào lạm phát là đáng kể trong ngắn hạn cung tiền và lãi suất có tác động đến lạm phát nhưng với độ trễ; và mức chuyển trong ngắn hạn của giá quốc tế đến giá nội địa cũng có vai trò nhất định. Christian Regobeth Kofi Ahortor (2007) Tác giả nghiên cứu tại 30 nước đang phát triển từ 1970 – 2006 sử dụng mô hình Panel VAR và Panel VECM với các biến LP, cung tiền, output gap, đầu tư, tỷ giá hối đoái, NK.
Sau khi tiến hành các kiểm định nghiệm đơn vị và đồng liên kết thỏa yêu cầu của các mô hình, và tiến hành chạy mô hình tác giả đã đưa ra kết quả như sau: trong dài hạn tập trung vốn và tăng trưởng KT không ảnh hưởng đến LP, cung tiền và tỷ lệ phụ thuộc nhập khẩu ảnh hưởng đến LP. Tỷ giá hối đoái thực và LP không có ảnh hưởng. Cung tiền trong dài hạn ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Trong ngắn hạn, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng lạm phát và tăng trưởng KT căn cứ vào mức độ phụ thuộc NK của các nước đang phát triển.
Mr Chor Foon Tang (2010) Tác giả nghiên cứu tại Malaysia sử dụng mô hình VAR cho chuỗi dữ liệu tháng từ 1971M1 - 2008M11 với dữ liệu cung tiền (M2), lạm phát (CPI), chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI), tỷ giá hối đoái danh nghĩa (Nomial Exchange Rate). Tác giả đã kết luận khi có cú sốc về lạm phát xảy ra tại Malysia thì cung tiền M2 cũng bị ảnh hưởng theo. Tại mức ý nghĩa 1% cung tiền và lạm phát có ảnh hưởng lẫn nhau nhưng tỷ giá hối đoái danh nghĩa thì hầu như không ảnh hưởng đến lạm phát tại mức ý nghĩa này. Lạm phát bị ảnh hưởng không chỉ bởi cung tiền M2 gây ra.
7 Phan Thanh Vinh (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng lạm phát tại Việt Nam tác giả sử dụng mô hình VAR với 7 biến: giá dầu thế giới, chênh lệch sản lượng GDP trong nước (output gap), lãi suất tiền gửi VND, tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu dụng (NEER), chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá bán nhà SX, chỉ số giá tiêu dùng trong nước dữ liệu theo quí từ 2000 – 2011 tác giả kết luận: Mức giá cả thế giới (OIL) và giá nhập khẩu (IMP) có khuynh hướng gây ảnh hưởng lên mức giá thấp hơn các nhân tố khác trong nền kinh tế. CPI phản ứng mạnh với cú sốc PPI. Khoảng cách sản lượng (Output Gap) là nhân tố quan trọng gây nên áp lực làm tăng lạm phát. Mối quan hệ giữa Output gap và CPI là cùng chiều.
Chính sách tiền tệ (đại diện là biến lãi suất IR) có tác động đến lạm phát nhưng với độ trễ. Có sự chuyển dịch của các cú sốc tỷ giá hối đoái hiệu dụng danh nghĩa (NEER) đến các chỉ số giá nội địa nhưng với mức độ khác nhau. Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến IMP là lớn nhất, thứ hai là PPI và ít ảnh hưởng đến CPI. Akhtar Hossain (1989) Đề tài nghiên cứu được khảo sát tại Nam Á gồm: Bangladesh, Ấn Độ, Nepal, Srilanca, Pakistan theo dữ liệu năm từ 1961 -1988.
Tác giả sử dụng mô hình OLS và kiểm định Durbin Watson cho kết quả như sau: ngoại trừ Bangladesh, các nước còn lại đều có kết quả đối lập với tân học thuyết Keynes, trái phiếu tiêu dùng của chính phủ không có sự độc lập trong ảnh hưởng đến lạm phát và sự thay đổi cân bằng tiền tệ (trong đó có biến cung tiền) ảnh hưởng nhanh chóng đến lạm phát. Amedeo Strano (2003) Bài nghiên cứu tiến hành trên dữ liệu từ 1972 – 2002 tại 11 quốc gia (Argentina, Austria, Bolivia, Brazil, Israel,Iceland, Japan, Mexico, Switzerland, Netherlands and Thailand.) và tác giả thấy có mối liên hệ chặt chẽ trong dài hạn giữa tăng trưởng tiền tệ và lạm phát dù quốc gia đó có tỷ lệ lạm phát (LP) cao hay thấp. Các nước có tỷ lệ LP thấp là Austria, Japan, Netherlands, Switzerland and Thailand. Các nước có tỷ lệ LP cao đến rất cao trong thập niên 80 => 90 là Argentina, Bolivia, Brazil and Israel.
Kết quả các nước có tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao thì LP cao (10 nước) ngoại trừ Iceland có tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ thấp thì LP cũng thấp. 8 Ajantha Madurapperuma (2008) Bài nghiên cứu được tiến hành tại Srilanca với dữ liệu quan sát theo năm từ 1950 – 2007 với các biến tăng trưởng KT, cung tiền M2, lạm phát nhằm khảo sát mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên. Tác giả sử dụng mô hình hồi qui để xác định tương quan giữa cung tiền và lạm phát. Với độ trễ 1 năm, tương quan giữa cung tiền và lạm phát 46%% cho thấy tương quan không chặt nhưng sự thay đổi của lạm phát ảnh hưởng đến cung tiền có độ tương quan đến 59%.
Liệu cung tiền có ảnh hưởng (thúc đẩy) tăng trưởng KT: mối quan hệ giữa GDP và cung tiền là 87%, nhưng ngược lại, tương quan giữa M2 và GDP là 47% chưa đủ để kết luận và đưa ra dự báo về chính sách. Bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa cung tiền làm tăng lạm phát. Đối với tăng cung tiền thì tỷ lệ tương quan không chặt (mối quan hệ yếu) giữa money supply và real GDP.2 Các công trình nghiên cứu kết luận cung tiền ít/kh ng ảnh hƣởng đến lạm phát: Henri Ngoa Tabi (2005) Tác giả nghiên cứu tác động của lạm phát, cung tiền, tăng trưởng KT từ 1960 – 2004 tại Cameroon sử dụng mô hình VAR trong phân tích. Kết quả mô hình cho thấy cung tiền ảnh hưởng tăng trưởng KT nhưng lạm phát không ảnh hưởng tăng trưởng KT (tăng trưởng KT lại ảnh hưởng lạm phát).
Theo tác giả thì cung tiền tăng thúc đẩy tăng trưởng KT nhưng lạm phát không phải một trong các lý do chính tác động đến tăng trưởng KT. Nếu LP tăng 1% về dài hạn sẽ làm giảm 0,025% tăng trưởng KT. Tăng cung tiền 1% sẽ làm tăng GDP 2%. Tóm lại tác giả kết luận cung tiền làm tăng trưởng KT và tăng trưởng KT làm tăng LP.
Tăng cung tiền không ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát. Wu Ge (伍戈) (2009) Nghiên cứu thực hiện tại Trung Quốc dữ liệu Quí từ Q1/1994 – Q2/2009 với các biến prices, money supply, output gap, exchange rate and international oil. Sau khi kiểm định ADF các biến đều dừng và Johansen các biến không đồng liên kết trong dài hạn đều thỏa điều kiện tác giả đã sử dụng mô hình VAR và VECM trên cơ sở đã lấy log các biến để đánh giá tác động trong dài hạn kết quả như sau: cung tiền ảnh hưởng không lớn đến lạm phát (vì nếu nền KT SX ra 9 nhiều sản phẩm thì cung tiền tăng tương ứng không gây lạm phát). Darat và Yousif K.
Al Yousif (1994) Nghiên cứu tiến hành tại UAE (các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất) từ 1775 – 1993 dữ liệu Quí.Tác giả sử dụng mô hình hồi qui OLS với các biến cho thấy kết quả sau: cung tiền không ảnh hưởng đến lạm phát nhưng không thể nói lạm phát không ảnh hưởng cung tiền. Bài nghiên cứu kết luận trong dài hạn cung tiền ảnh hưởng lạm phát đến 0. Theo bài nghiên cứu 3 năm là khoảng thời gian để lạm phát có tác động đầy đủ đến cung tiền. 10 Chƣơng III: MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 3.