Tác động bất cân xứng của cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái của việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2015

90
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TÓM TẮT

2. CHƯƠNG 2: NỀN TẢNG NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái Việt Nam

Cú sốc thị trường dầu thô đã trở thành một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Sự biến động của giá dầu không chỉ tác động đến các chỉ số kinh tế vĩ mô mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái. Nghiên cứu này sẽ phân tích các kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến tỷ giá hối đoái, từ đó làm rõ mối quan hệ giữa chúng.

1.1. Cú sốc thị trường dầu thô và vai trò của nó trong nền kinh tế

Cú sốc thị trường dầu thô có thể được hiểu là những biến động lớn về giá dầu, ảnh hưởng đến các yếu tố kinh tế như lạm phát, tăng trưởng GDP và tỷ giá hối đoái. Theo nghiên cứu của Hamilton (1983), giá dầu tăng có thể dẫn đến suy thoái kinh tế, đặc biệt là ở các quốc gia phụ thuộc vào nhập khẩu dầu.

1.2. Tỷ giá hối đoái Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng

Tỷ giá hối đoái của Việt Nam chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, bao gồm chính sách tiền tệ, cán cân thương mại và đặc biệt là giá dầu. Sự biến động của giá dầu có thể làm thay đổi cán cân thương mại, từ đó tác động đến tỷ giá hối đoái.

II. Vấn đề và thách thức từ cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái

Việc phụ thuộc vào dầu thô khiến Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức khi giá dầu biến động. Các cú sốc giá dầu có thể gây ra sự bất ổn trong tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài.

2.1. Tác động tiêu cực của cú sốc giá dầu đến tỷ giá hối đoái

Khi giá dầu tăng, chi phí nhập khẩu tăng theo, dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại. Điều này có thể làm giảm giá trị đồng tiền Việt Nam so với các ngoại tệ khác, gây áp lực lên tỷ giá hối đoái.

2.2. Nguy cơ lạm phát do cú sốc giá dầu

Giá dầu tăng có thể dẫn đến lạm phát, làm giảm sức mua của người tiêu dùng. Lạm phát cao có thể khiến Ngân hàng Nhà nước phải điều chỉnh chính sách tiền tệ, từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của cú sốc dầu đến tỷ giá hối đoái

Nghiên cứu sử dụng mô hình SVAR để phân tích tác động của các cú sốc thị trường dầu đến tỷ giá hối đoái. Phương pháp này cho phép tách biệt các cú sốc cung và cầu, từ đó đánh giá chính xác hơn về tác động của chúng.

3.1. Mô hình SVAR và cách thức hoạt động

Mô hình SVAR (Structural Vector Autoregressive) cho phép phân tích mối quan hệ giữa các biến kinh tế trong một hệ thống. Bằng cách tách biệt các cú sốc cung và cầu, mô hình này giúp hiểu rõ hơn về cách mà giá dầu ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.

3.2. Dữ liệu và phương pháp thu thập

Dữ liệu được thu thập từ tháng 09/1994 đến tháng 12/2014, bao gồm các biến như giá dầu, tỷ giá hối đoái và các chỉ số kinh tế vĩ mô khác. Phương pháp nghiên cứu định lượng được áp dụng để kiểm định các giả thuyết.

IV. Kết quả nghiên cứu về tác động của cú sốc dầu đến tỷ giá hối đoái

Kết quả nghiên cứu cho thấy cú sốc cầu dầu có tác động nghịch chiều đến tỷ giá hối đoái, trong khi cú sốc cung dầu không có tác động đáng kể. Điều này cho thấy sự bất cân xứng trong tác động của các cú sốc thị trường dầu.

4.1. Phân tích hàm phản ứng xung dồn tích CIRF

Hàm phản ứng xung dồn tích cho thấy rằng cú sốc cầu dầu có tác động mạnh mẽ đến tỷ giá hối đoái, trong khi cú sốc cung dầu không tạo ra sự thay đổi đáng kể. Điều này cho thấy rằng các nhà hoạch định chính sách cần chú ý đến các cú sốc cầu khi điều chỉnh chính sách tiền tệ.

4.2. Tác động bất cân xứng của các cú sốc dầu

Nghiên cứu chỉ ra rằng cú sốc cung dầu âm và cú sốc cầu dầu dương có tác động khác nhau đến tỷ giá hối đoái. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chính sách ứng phó linh hoạt hơn trong bối cảnh biến động giá dầu.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về tỷ giá hối đoái Việt Nam

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy cú sốc thị trường dầu thô có tác động đáng kể đến tỷ giá hối đoái Việt Nam. Việc hiểu rõ mối quan hệ này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định phù hợp hơn trong việc quản lý tỷ giá.

5.1. Tầm quan trọng của việc theo dõi giá dầu

Việc theo dõi giá dầu là rất quan trọng để dự đoán các biến động trong tỷ giá hối đoái. Các nhà hoạch định chính sách cần có các công cụ và phương pháp để ứng phó kịp thời với các cú sốc giá dầu.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu có thể mở rộng để xem xét tác động của các yếu tố khác như chính sách tiền tệ và tình hình kinh tế toàn cầu đến tỷ giá hối đoái Việt Nam. Điều này sẽ giúp có cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái của việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Nền tảng nghiên cứu Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.

Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2. NỀN TẢNG NGHIÊN CỨU 2. Cú sốc giá dầu và tỷ giá hối đoái: 2.

Tổng kết lý thuyết: Từ góc độ lý thuyết, cú sốc dầu có thể được truyền dẫn tới tỷ giá thông qua nhiều kênh khác nhau như: tỷ giá thương mại, hiệu ứng tài sản, cán cân thương mại và tái phân bổ danh mục đầu tư (Atems và cộng sự, 2015). Một số nghiên cứu đã xây dựng các mô hình lý thuyết về việc xác định chiều hướng và cách thức tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái, có thể kể đến như là Krugman (1983)và Golub (1983). Hai tác giả này phát triển các mô hình ba quốc gia (hai quốc nhập khẩu dầu và một quốc gia xuất khẩu dầu) để phân tích cách mà giá dầu ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái giữa đồng USD với đồng Mark. Krugman (1983) xây dựng mô hình gồm ba quốc gia Mỹ, Đức và OPEC.

Trong đó, Mỹ và Đức xuất khẩu hàng hóa sản xuất cho OPEC và cho nhau, còn OPEC chỉ xuất khẩu dầu, giá các mặt hàng này giả định là bằng USD. Từ các phân tích và lập luận của mình, tác giả đi đến kết quả là tác động của giá dầu tăng đến tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào ba tham số chính:tỉ trọng đồng Mark trong danh mục đầu tư của OPEC (𝛼𝛼);tỉ trọng hàng hóa của Đức trong nhập khẩu của OPEC (𝛾𝛾); và tỉ trọng của Đức trong xuất khẩu dầu của OPEC (𝜎𝜎). Trong đó, tác động ngắn hạn tùy thuộc vào việc liệu 𝜎𝜎 lớn hơn hay nhỏ hơn 𝛼𝛼; còn tác động dài hạn phụ thuộc vào việc liệu 𝛾𝛾 lớn hơn hay nhỏ hơn 𝜎𝜎. Điều này được Krugman lý giải như sau: vì OPEC chi tiêu trễ hơn so với nhận được thu nhập, giá dầu tăng ban đầu làm nước công nghiệp tăng hóa đơn nhập khẩu mà chưa tăng xuất khẩu tương ứng.

Tuy nhiên, trong lúc tài khoản vãng lai của Mỹ và Đức đang thâm hụt đi, thì có một sự cải thiện trong tài khoản vốn do OPEC đầu tư thặng dư thương mại của nó vào đồng USD và đồng Mark. Ảnh hưởng ròng đến USD tích cực hay tiêu cực là tùy thuộc vào việc liệu OPEC đầu tư vào đồng USD nhiều hơn hay ít LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hơn tỉ trọng của Mỹ trong thâm hụt tài khoản vãng lai của nhóm nước công nghiệp. Tuy nhiên, theo thời gian, chi tiêu của OPEC tăng khớp với thu nhập và làm giảm tốc độ mua tài sản ngoại. Do đó, ảnh hưởng của giá dầu tăng đến cán cân thanh toán phụ thuộc ít dần vào sở thích nắm giữ tài sản, và phụ thuộc tăng dần vào sở thích hàng hóa của OPEC.

Trong dài hạn, OPEC ngưng đầu tư ra nước ngoài, khi đó vấn đề chỉ còn là so sánh trong tỉ trọng nhập khẩu và xuất khẩu.Giả sử OPEC thích đầu tư vào đồng USD và thích hàng hóa Đức thì 𝛾𝛾 > 𝜎𝜎 > 𝛼𝛼. Khi đó, giá dầu tăng sẽ làmđồng USD tăng giá trong ngắn hạn nhưng giảm giá trong dài hạn. Golub (1983) cũng xây dựng một mô hình gồm ba quốc gia Mỹ, châu Âu và OPEC. Tương tự với Krugman (1983), Golub cũng tập trung vào sở thích đầu tư của OPEC, phân tích tác động của giá dầu tăng đến tỷ giá hối đoái thông qua sự tái phân bổ tài sản.

Theo đó, sự gia tăng trong giá dầu làm tài khoản vãng lai của OPEC thặng dư và tài khoản vãng lai ở các quốc gia nhập khẩu dầu thâm hụt. Giả sử, OPEC có xu hướng thích nắm giữ đồng Mark hơn là đồng USD trong danh mục đầu tư, thì sự tái phân bổ tài sản xảy ra theo hướng cầu đồng Mark tăng (và cung đồng USD tăng). Do đó, đồng Mark tăng giá so với đồng USD, làm tăng tỉ trọng của đồng Mark trong tài sản thế giới, từ đó tái lập lại trạng thái cân bằng danh mục đầu tư. Nhìn chung, hai tác giả trên lập luận rằng giá dầu tăng sẽ làm tài sản chuyển giao từ quốc gia nhập khẩu dầu sang quốc gia xuất khẩu dầu, dẫn đến thay đổi tài khoản vãng lai và tái phân bổ danh mục đầu tư.

Vì vậy, sự tăng giá dầu có thể sẽ làm cho đồng tiền của nước nhập khẩu dầu giảm giá và đồng tiền của nước xuất khẩu dầu tăng giá. Tuy nhiên, nếu nước nhập khẩu dầu có tỉ trọng nhập khẩu từ nước xuất khẩu dầu nhỏ hơn tỉ trọng xuất khẩu cho nước xuất khẩu dầu đó thì sự chuyển giao tài sản từ nước nhập khẩu dầu sang nước xuất khẩu dầu sẽ cải thiện cán cân thương mại của nước nhập khẩu dầu, nghĩa là tác động dài hạn của giá dầu tăng có thể sẽ làm đồng tiền của nước nhập khẩu dầu này tăng giá (Narayan, 2013). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bằng chứng thực nghiệm: Khá nhiều các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái.

Và thông thường, các nghiên cứu này có xem xét hai vấn đề: (1) quốc gia đang xét là quốc gia nhập khẩu dầu ròng hay là quốc gia xuất khẩu dầu ròng; (2) chế độ tỷ giá hối đoái của quốc gia đang xét là gì (thả nổi hoàn toàn, thả nổi có quản lý hay cố định). Để có cái nhìn tổng quan, tác giả sẽ trình bày hầu hết các kết hợp hai vấn đề trên qua một số nghiên cứu thực nghiệm dưới đây: Huang và Gou (2007) kiểm định tác động của cú sốc giá dầu và các cú sốc vĩ mô của China (cú sốc tổng cung, tổng cầu, tiền tệ) đến tỷ giá hối đoái thực của China bằng cách xây dựng một mô hình SVAR. Tập dữ liệu được thu thập từ 01/1990 đến 10/2005, kỳ quan sát theo tháng.Từ tháng 07/2005, China đã bãi bỏ chế độ neo tỷ giá cố định theo đồng USD trong khoảng 11 năm trước đó (từ 1994 đến 2005) và áp dụng chế độ dải băng tỷ giá, cho phép tỷ giá đối với một rổ ngoại tệ của các quốc gia giao thương chính (bao gồm US, Euro, Japan, Korea, Singapore, UK, Malaysia, Russia, Australia) dao động trong biên độ rất hẹp.Đối với sự gia tăng nhu cầu nhập khẩu dầu, bằng chứng thực nghiệm cho rằng cú sốc giá dầu thực làm tăng nhẹ tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn. Điều này được các tác giả giải thích là do sự phụ thuộc vào nhập khẩu dầu của China ít hơn các đối tác giao thương trong rổ tiền tệ được neo theo và do tồn tại sự không đồng nhất giữa giá dầu thực nội địa với các thị trường thế giới.

Một kết quả khác của hai tác giả này đã củng cố lý thuyết về phản ứng của tỷ giá hối đoái thực đối với các cú sốc, đó là cú sốc cung thực dương sẽ làm đồng RMB giảm giá, trong khi cú sốc cầu thực dương lại làm đồng RMB tăng giá. Ngoài ra, phân tich phân rã phương sai chỉ ra rằng cú sốc cầu thực có ảnh hưởng quan trọng và vững chắc nhất đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái. Trong khi đó, việc kiểm soát vốn tương đối chặt chẽ làm giới hạn vai trò của cú sốc tiền tệ trong China. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Narayan và cộng sự (2008) kiểm định tác động của giá dầu bằng đồng USD đến tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa đồng Fijian và đồng USD.

Chế độ tỷ giá hối đoái của Fiji là neo nội tệ với một rổ ngoại tệ của các quốc gia giao thương chính là Australia, Newzealand, US, UK, Germany và Japan.Bài nghiên cứu sử dụng mô hình GARCH, EGARCH và được thực hiện trong giai đoạn 2000 – 2006, kỳ quan sát theo ngày. Họ biến đổi giá dầu và tỷ giá hối đoái danh nghĩa dưới dạng tỷ suất (giá trị của kỳ này chia cho kỳ trước đó) do không có dữ liệu CPI theo ngày. Việc quan sát diễn tiến của giá dầu và tỷ giá hối đoái theo họ thì không đòi hỏi thông tin về giá trị thực. Kết quả chính của họ là giá dầu tăng làm tăng giá đồng Fijian, cụ thể là nếu giá dầu tăng 10% sẽ làm cho đồng Fijian tăng 0,2% giá trị.

Ngân hàng Trung ương của Fiji (RBF) đã tăng lãi suất để phản ứng với sự dao động của giá dầu: tháng 10/2005, tăng lãi suất chính thức và gần 06 tháng sau (24/02/2006) tiếp tục tăng lãi suất từ 2,25% lên 4,25%. Trong giai đoạn này, lạm phát đã tăng từ 3% lên 6% và thâm hụt tài khoản vãng lai (một phần là do giá dầu tăng) đã tăng lên khoảng 13% trên GDP. Ghosh (2011) cũng dùng mô hình GARCH và EGARCH để kiểm định mối quan hệ giữa giá dầu Brent (bằng đồng USD) và tỷ giá hối đoái, đồng thời kiểm định tác động bất cân xứng về dấu của cú sốc giá dầu thô (với cùng độ lớn) đến biến động tỷ giá hối đoái của India. Giai đoạn nghiên cứu là từ 07/2007 đến 11/2008, kỳ quan sát theo ngày.

India theo chế độ cố định tỷ giá hối đoái đến tháng 03/1992, sau đó chuyển sang chế độ thả nổi tỷ giá có quản lý. Ghosh (2011) cho thấy rằng giá dầu tăng dẫn đến đồng rupee giảm giá so với đồng USD. Tác giả này diễn giải kết quả như sau: kết quả phù hợp với lý thuyết về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái đối với một nước nhập khẩu dầu, nên một sự gia tăng hoặc kỳ vọng gia tăng trong giá dầu quốc tế sẽ làm cho các nhà máy lọc dầu của India tốn kém nhiều đồng USD hơn để nhập khẩu dầu, dẫn đến sự sụt giảm giá trị đồng rupee. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy cú sốc giá dầu có tác động cân xứng về dấu đến biến động tỷ giá hối đoái (trái ngược với một số nghiên cứu khác), và cú sốc giá dầu có tác động dai dẳng đến biến động tỷ giá hối đoái tại India.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Selmi và cộng sự (2012) tập trung vào hai nền kinh tế nhỏ là Morocco (nước nhập khẩu dầu ròng) và Tunisia (nước xuất khẩu dầu ròng) trong việc nghiên cứu tác động của biến động trong giá dầu bằng đồng USD đến tỷ giá hối đoái. Morocco ban đầu neo tỷ giá cố định với đồng Franc cho đến năm 1996 thì chuyển sang chế độ dải băng tỷ giá. Tunisia neo tỷ giá cố định với một rổ tiền tệ cho đến năm 1994, chuyển sang neo có điều chỉnh đến năm 1999 và từ năm 2000 thì duy trì chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý (Syrichas, 2010).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ