Tổng quan nghiên cứu

Tại các quốc gia đang phát triển, chi phí chăm sóc sức khỏe luôn là một trong những gánh nặng tài chính nặng nề nhất đối với các hộ gia đình. Theo ước tính từ Ngân hàng Thế giới, chi tiêu y tế tự chi trả (out-of-pocket) và chi tiêu y tế tư nhân tại Việt Nam từng chiếm tới hơn 80% tổng chi tiêu y tế vào năm 2014, cao gần gấp đôi mức trung bình toàn cầu là 45,5%. Cùng thời điểm đó, chi tiêu y tế tư nhân chiếm hơn 52% tổng chi phí y tế quốc gia, tương đương gần 191.000 tỷ đồng. Khi một thành viên trong gia đình gặp biến cố sức khỏe nghiêm trọng như ốm đau dài ngày hoặc tử vong, các hộ gia đình có nguy cơ rơi vào bẫy nghèo đói và buộc phải điều chỉnh nguồn cung lao động nội bộ, trong đó có việc sử dụng lao động trẻ em.

Số liệu từ Điều tra Lao động Trẻ em Quốc gia chỉ ra rằng có khoảng 2,83 triệu trẻ em tại Việt Nam tham gia vào các hoạt động kinh tế, với gần 86% tập trung tại khu vực nông thôn và 1,315 triệu em phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm. Nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các cú sốc y tế và quyết định phân bổ thời gian của trẻ nhỏ, luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển của tác giả Nguyễn Thị Hà Giang (hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Lê Văn Chơn, thực hiện tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Việt Nam - Hà Lan thuộc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Xã hội ISS - Đại học Erasmus Rotterdam, bảo vệ tháng 12 năm 2017) đã đi sâu phân tích tác động thực chứng của biến cố sức khỏe đến lao động trẻ em.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá sự thay đổi về xác suất tham gia lao động và số giờ làm việc thực tế của trẻ em trong độ tuổi từ 4 đến 16 tuổi khi hộ gia đình trải qua các rủi ro sức khỏe, đồng thời kiểm định hiệu ứng đệm (buffering effect) từ việc nắm giữ tài sản bền vững và tiếp cận thị trường tín dụng. Nghiên cứu khai thác bộ dữ liệu dọc Young Lives trong giai đoạn 2006-2009 trên địa bàn 34 xã thuộc 5 tỉnh thành đại diện: Bến Tre, Phú Yên, Đà Nẵng, Hưng Yên và Lào Cai. Kết quả phân tích mang lại ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở định lượng giải thích nguyên nhân làm gia tăng xác suất đi làm của trẻ em thêm 0,4% đến 29,5% khi gặp rủi ro sức khỏe, qua đó hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng các chính sách an sinh xã hội theo Đề án phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em giai đoạn 2016-2020 của Thủ tướng Chính phủ theo Quyết định 1023/QĐ-TTg.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên mô hình phân bổ thời gian làm việc và nghỉ ngơi kinh điển của Gary Becker (1965), trong đó cha mẹ đóng vai trò là chủ thể ra quyết định tối đa hóa hàm hữu dụng của gia đình thông qua việc cân đối giữa mức tiêu dùng hiện tại và sự tích lũy vốn con người (human capital) của con cái. Để giải thích trực diện cơ chế lao động trẻ em, nghiên cứu tích hợp mô hình kinh tế của Kaushik Basu và Pham Hoang Van (1998) với hai giả định nền tảng:

  • Tiên đề xa xỉ (Luxury Axiom): Cha mẹ có lòng vị tha chỉ gửi con cái tham gia thị trường lao động khi nguồn thu nhập không đến từ trẻ em bị sụt giảm nghiêm trọng xuống dưới ngưỡng sinh tồn tối thiểu của gia đình.
  • Tiên đề thay thế (Substitution Axiom): Lao động của người lớn và lao động của trẻ em có thể thay thế cho nhau trong các quy trình sản xuất giản đơn và hoạt động nội trợ gia đình.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: Cú sốc đặc trưng (Idiosyncratic shocks) là các biến cố bất ngờ xảy ra trong nội bộ từng hộ như ốm đau hoặc qua đời; Hiệu ứng đệm (Buffering effect) thể hiện năng lực giảm nhẹ tác động tiêu cực của cú sốc nhờ các nguồn lực dự phòng; và Bất hoàn hảo của thị trường tín dụng (Credit market imperfections) khiến người nghèo khó tiếp cận các khoản vay chính thức để bù đắp rủi ro. Các ước tính thực nghiệm tại Việt Nam cho thấy rủi ro sức khỏe làm gia tăng tỷ lệ nghèo thêm 2,5% và đẩy mức chi tiêu y tế bình quân của hộ gia đình tăng thêm 11,4 USD mỗi tháng trong giai đoạn 2002-2014, tạo áp lực kinh tế trực tiếp dẫn đến việc huy động sức lao động của trẻ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu khảo sát bảng chất lượng cao từ Dự án Young Lives do Khoa Phát triển Quốc tế thuộc Đại học Oxford chủ trì. Cỡ mẫu ban đầu gồm 5.930 quan sát qua hai đợt khảo sát: Vòng 2 (năm 2006 với 2.961 trẻ) và Vòng 3 (năm 2009 với 2.969 trẻ), bao gồm hai nhóm thuần tập sinh năm 2001 (nhóm trẻ nhỏ) và sinh năm 1994 (nhóm trẻ lớn). Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo cụm được tiến hành chặt chẽ tại 34 xã thuộc 5 tỉnh thành đặc trưng cho các vùng sinh thái kinh tế của Việt Nam, đạt tỷ lệ duy trì mẫu tái phỏng vấn lên đến 97%. Sau khi sàng lọc và loại bỏ các quan sát thiếu dữ liệu biến số, quy mô mẫu phân tích hoàn chỉnh đạt 3.880 quan sát trẻ em trong độ tuổi từ 4 đến 16.

Để xử lý dữ liệu, tác giả lựa chọn mô hình lựa chọn mẫu Heckman (Heckman’s Selection Model hay Tobit Type II). Lý do then chốt của việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ bản chất dữ liệu lao động trẻ em có tới 2.767 quan sát bằng 0 (trẻ không tham gia lao động, chiếm phần lớn mẫu bị cắt cụt - censored observations). Nếu áp dụng phương pháp bình phương bé nhất thông thường (OLS), kết quả ước lượng sẽ bị chệch và không nhất quán do lỗi sai lệch chọn mẫu (selection bias). Mô hình Heckman tiến hành qua quy trình hai bước:

  • Bước 1 (Phương trình tham gia): Sử dụng mô hình Probit để ước lượng xác suất hộ gia đình quyết định cho trẻ tham gia lao động dựa trên biến cố sức khỏe, tài sản, tín dụng và các biến kiểm soát, từ đó trích xuất tỷ số nghịch đảo Mills (Inverse Mills Ratio - ký hiệu là Lambda).
  • Bước 2 (Phương trình số giờ làm việc): Sử dụng hồi quy tuyến tính OLS để ước lượng số giờ làm việc thực tế của nhóm 1.113 trẻ em tham gia lao động (uncensored observations), có đưa tỷ số nghịch đảo Mills vào phương trình nhằm kiểm soát triệt để sai lệch chọn mẫu. Dòng thời gian nghiên cứu bao quát số liệu từ năm 2006 đến 2009 và các biến cố sức khỏe xảy ra trong vòng 4 năm trước mỗi đợt phỏng vấn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ mô hình Heckman trên mẫu 3.880 trẻ em đã đem lại những phát hiện quan trọng về mặt thực chứng:

  • Tác động phân tầng của cú sốc sức khỏe: Trong mẫu nghiên cứu, có 25,36% hộ gia đình (tương ứng 984 hộ) từng trải qua biến cố ốm đau nặng hoặc tử vong thành viên trong 4 năm trước khảo sát (riêng ốm nặng chiếm 25,35% với 965 trường hợp). Cú sốc sức khỏe có ý nghĩa thống kê dương ở mức 1% trong phương trình tham gia lao động, làm gia tăng xác suất trẻ phải đi làm từ mức xác suất cơ sở 30% lên 30,5%. Tuy nhiên, trong phương trình số giờ làm việc, biến cố sức khỏe không có ý nghĩa thống kê, cho thấy cú sốc y tế chỉ chi phối quyết định bước đầu của cha mẹ về việc có gửi trẻ vào thị trường lao động hay không, chứ không quyết định số giờ làm việc cụ thể một khi trẻ đã tham gia.
  • Hiệu ứng đệm mạnh mẽ của tài sản hộ gia đình: Giá trị tài sản bền vững bình quân của các hộ đạt 15,87 triệu đồng. Việc sở hữu tài sản đóng vai trò là chiếc đệm giảm sốc hiệu quả; khi xảy ra cú sốc sức khỏe, những hộ có giá trị tài sản cao hơn giúp kéo giảm xác suất tham gia lao động của con cái xuống mức 24,6% (so với mức 27,9% khi không có sốc ở cùng mốc cơ sở 30%). Tại phương trình số giờ làm việc, khi giá trị tài sản tăng thêm 100%, thời gian làm việc trong ngày của trẻ giảm tới 16 giờ trên toàn bộ quy mô mẫu.
  • Sự thiếu hiệu quả của kênh tín dụng: Mặc dù có tới 54% hộ gia đình trong mẫu có khoản vay nợ trong vòng 12 tháng, biến số tiếp cận tín dụng và biến tương tác giữa tín dụng với cú sốc sức khỏe đều không đạt mức ý nghĩa thống kê trong cả hai phương trình.
  • Ảnh hưởng của nghèo đói và nhân khẩu học: Trẻ sống trong hộ nghèo (chiếm 18% mẫu khảo sát theo chuẩn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) có xác suất đi làm cao hơn 5,3% và làm việc nhiều hơn 0,43 giờ mỗi ngày. Khi độ tuổi của trẻ tăng thêm 1 năm, xác suất lao động tăng vọt 23,5% và thời gian làm việc tăng thêm 2,82 giờ mỗi ngày tại trung vị tuổi bằng 8. Bé trai có xác suất tham gia lao động thấp hơn bé gái khoảng 9,1% ở mốc xuất phát 30%, và bé gái dành trung bình 0,72 giờ/ngày cho công việc nội trợ, cao hơn mức 0,53 giờ/ngày ở bé trai.

Thảo luận kết quả

Cơ chế tác động của cú sốc sức khỏe lên lao động trẻ em diễn ra qua kênh sụt giảm thu nhập và mất cân đối nguồn cung lao động của người lớn. Khi trụ cột gia đình ngã bệnh, gia đình mất đi nguồn thu nhập chính và phải chi trả viện phí khẩn cấp, dẫn đến hiện tượng "lao động gia tăng" (added worker effect) để bù đắp tiêu dùng. Trẻ em, đặc biệt là các em gái, buộc phải gánh vác việc nội trợ, lấy củi, gánh nước và chăm sóc người ốm để người lớn tập trung tìm kiếm việc làm ngoài xã hội. Những phát hiện này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu thực nghiệm của Bazen và Salmon (2008) tại Bangladesh cũng như Bandara và cộng sự (2015) tại Tanzania.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu, mối quan hệ giữa độ tuổi và số giờ làm việc được thể hiện rõ nét qua biểu đồ đường phi tuyến hình chữ U ngược, trong đó số giờ làm việc tăng chậm ở giai đoạn dưới 10 tuổi và dốc đứng khi trẻ bước sang độ tuổi 14-16 (đạt trung bình 2,93 giờ/ngày, tương đương 20,51 giờ/tuần). Sự phân hóa vùng miền cũng có thể được tóm lược qua bảng ma trận tác động biên, minh chứng rằng trẻ em tại khu vực Miền núi phía Bắc có xác suất tham gia lao động cao hơn 33% so với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long khi cùng đối mặt với rủi ro sức khỏe.

Nguyên nhân khiến kênh tín dụng không phát huy vai trò đệm giảm nhẹ xuất phát từ sự bất hoàn hảo của thị trường tài chính nông thôn. Các khoản vay chủ yếu là tín dụng ngắn hạn tiêu dùng hoặc vay mượn phi chính thức với lãi suất cao, không đủ quy mô để bù đắp các chi phí y tế mang tính thảm họa. Ngược lại, tài sản bền vững có thể dễ dàng thanh lý hoặc cầm cố, giúp hộ gia đình duy trì tiêu dùng tối thiểu mà không cần hy sinh việc học hành của con em.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hạn chế việc sử dụng lao động trẻ em dưới áp lực rủi ro sức khỏe:

  • Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân và hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh: Bộ Y tế phối hợp cùng Bảo hiểm Xã hội Việt Nam nâng tỷ lệ hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế từ 70% lên 100% cho các hộ cận nghèo và hộ làm nông nghiệp có mức sống trung bình; mục tiêu giảm tỷ lệ chi tiêu y tế tự chi trả của người dân từ mức trên 80% xuống dưới 40% trong lộ trình 5 năm tới.
  • Thiết lập gói trợ cấp an sinh xã hội khẩn cấp đối phó cú sốc y tế: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì triển khai chương trình tiền mặt có điều kiện với mức hỗ trợ tối thiểu 2.000.000 đồng/tháng trong vòng 6 tháng cho các gia đình có người lao động chính ốm nặng hoặc tử vong giai đoạn 2024-2028, nhằm ngăn chặn tình trạng 21% trẻ em không đến trường phải tham gia thị trường lao động sớm.
  • Tái cấu trúc sản phẩm tín dụng chính sách vi mô: Ngân hàng Chính sách Xã hội ban hành gói vay khẩn cấp phục hồi sinh kế hạn mức từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với lãi suất ưu đãi dưới 6%/năm và thời gian ân hạn 12 tháng dành riêng cho các hộ gặp rủi ro sức khỏe, giúp hộ bảo toàn tài sản sản xuất mà không cần rút trẻ khỏi trường học trong 3 năm tới.
  • Triển khai chiến dịch truyền thông thay đổi nhận thức của người cha tại nông thôn: Trung ương Hội Nông dân và chính quyền 34 xã vùng dự án đẩy mạnh tuyên truyền về bình đẳng giới và giá trị tích lũy vốn con người dài hạn của việc học tập, hướng tới mục tiêu giảm 33% khoảng cách nguy cơ lao động trẻ em giữa miền núi và đồng bằng trong vòng 2 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu và hàm ý chính sách giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan hoạch định chính sách an sinh xã hội và bảo vệ trẻ em: Khai thác các hệ số biên lượng hóa tác động của biến cố y tế và số liệu 2,83 triệu lao động trẻ em để thiết kế các can thiệp an sinh gắn liền giữa bảo hiểm y tế và phổ cập giáo dục bắt buộc.
  • Các tổ chức phi chính phủ và tổ chức quốc tế (ILO, UNICEF, World Bank): Vận dụng khung phân tích hiệu ứng đệm tài sản từ 3.880 mẫu khảo sát để xây dựng các chương trình tài trợ sinh kế và bảo trợ trẻ em dễ bị tổn thương tại khu vực nông thôn Việt Nam.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh kinh tế: Tham khảo quy trình ứng dụng mô hình Heckman hai bước để xử lý hiện tượng dữ liệu bị cắt cụt với 2.767 quan sát có giá trị 0, nâng cao kỹ năng xử lý sai lệch chọn mẫu trong nghiên cứu kinh tế lượng vi mô.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu kinh tế phát triển: Sử dụng các bằng chứng về chi phí y tế tư nhân chiếm trên 52% và mối quan hệ đánh đổi giữa lao động sớm và tích lũy vốn con người làm học liệu tham khảo cho các học phần Kinh tế Y tế và Kinh tế Lao động.

Câu hỏi thường gặp

Cú sốc sức khỏe tác động đến lao động trẻ em qua những cơ chế nào?

Biến cố sức khỏe tác động qua 4 kênh chính: phát sinh chi phí y tế thảm họa chiếm trên 80% chi tiêu tự chi trả làm kiệt quệ tài chính; giảm nguồn cung lao động của người lớn; kéo theo người chăm sóc bệnh nhân khiến công việc gia đình dồn lên vai trẻ nhỏ; và làm sụt giảm thu nhập dài hạn buộc cha mẹ gửi con đi làm bù đắp tiêu dùng.

Tại sao mô hình Heckman hai bước lại phù hợp hơn OLS trong đề tài này?

Dữ liệu nghiên cứu ghi nhận 2.767 trên tổng số 3.880 trẻ em không đi làm (số giờ làm việc bằng 0). Mô hình OLS sẽ gây ra sai lệch chọn mẫu nghiêm trọng. Mô hình Heckman giúp phân tách thành hai quyết định độc lập: xác suất tham gia lao động qua hồi quy Probit và số giờ làm việc qua OLS có kiểm soát tỷ số Mills.

Tích lũy tài sản tạo ra hiệu ứng đệm giảm nhẹ lao động trẻ em ra sao?

Các hộ gia đình sở hữu tài sản bền vững (trung bình 15,87 triệu đồng) có thể bán bớt tài sản hoặc thế chấp để trang trải viện phí khẩn cấp. Nguồn lực tự bảo hiểm này giúp giảm xác suất cho trẻ đi làm từ 30% xuống còn 24,6% khi gặp cú sốc y tế, đồng thời giúp giảm số giờ làm việc thực tế của trẻ.

Vì sao tiếp cận tín dụng trong nghiên cứu này chưa cho thấy tác dụng bảo vệ trẻ em?

Mặc dù có 54% hộ gia đình tiếp cận các khoản vay trong 12 tháng, phần lớn là tín dụng tiêu dùng ngắn hạn hoặc vay mượn phi chính thức chịu lãi suất cao. Khi đối mặt với cú sốc sức khỏe nặng nề, áp lực trả nợ ngắn hạn càng gia tăng, khiến kênh tín dụng không đủ khả năng trở thành đệm đỡ ngăn chặn lao động trẻ em.

Sự khác biệt về giới tính và độ tuổi thể hiện như thế nào trong kết quả ước lượng?

Bé gái có nguy cơ tham gia lao động cao hơn bé trai 9,1% do phải đảm nhận việc nhà (0,72 giờ/ngày so với 0,53 giờ/ngày ở bé trai). Độ tuổi thể hiện quan hệ phi tuyến; trẻ trên 14 tuổi chịu áp lực làm việc cao nhất với 2,93 giờ/ngày (khoảng 20,51 giờ/tuần), làm suy giảm quỹ thời gian học tập.

Kết luận

  • Biến cố sức khỏe là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng xác suất tham gia thị trường lao động của trẻ em tại Việt Nam, nhưng không quyết định số giờ làm việc cụ thể khi trẻ đã đi làm.
  • Tài sản bền vững của hộ gia đình phát huy hiệu ứng đệm xuất sắc, giúp kéo giảm xác suất trẻ em phải đi làm từ mức 30% xuống còn 24,6% trong hoàn cảnh xảy ra rủi ro y tế.
  • Khu vực nông thôn và tình trạng nghèo đói là hai nhân tố chính thúc đẩy lao động trẻ em, với tỷ lệ trẻ em nông thôn làm việc cao gấp 2 lần so với thành thị.
  • Trình độ học vấn của người cha đóng vai trò then chốt trong việc định hình các quyết định của hộ gia đình, giúp giảm thiểu nguy cơ con cái phải lao động sớm.
  • Tiếp cận tín dụng hiện hữu chưa phát huy hiệu quả bảo vệ trẻ em trước các biến cố sức khỏe nghiêm trọng của thành viên trong gia đình.

Luận văn đã đóng góp một khung phân tích thực nghiệm chuẩn xác, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về mối quan hệ giữa biến cố y tế và lao động trẻ em tại các quốc gia đang phát triển. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phân tích các đợt khảo sát Young Lives giai đoạn 2013-2016 nhằm đo lường tổn thương dài hạn đối với vốn con người trong giai đoạn 2025-2030. Các nhà hoạch định chính sách và tổ chức xã hội hãy khẩn trương hành động, củng cố mạng lưới bảo hiểm y tế và an sinh xã hội để bảo vệ trẻ em khỏi nguy cơ lao động sớm, vì sự phát triển bền vững của đất nước.