CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm liên quan 1. Đại dịch Covid-19 Nghiên cứu của Doshi (2011) trong một nghiên cứu về “Định nghĩa khó nắm bắt về đại dịch cúm” đã chỉ ra rằng, trong các cuộc họp báo, WHO đã giải thích rằng “các định nghĩa chính thức về đại dịch của WHO có thể được xem trong các hướng dẫn”. Doshi cũng cho biết trong số những tài liệu của WHO đề cập đến đại dịch cúm từ những năm 1999, 2005 và 2009 được công nhận là một định nghĩa chính thức của WHO về đại dịch.
Tác giả cũng kết luận rằng, cho đến năm 2009 chưa từng xây dựng một định nghĩa chính thức về đại dịch cúm. Kelly (2011) cho biết theo Peter Doshi một định nghĩa về đại dịch là một trận dịch xuất hiện trên toàn thế giới hoặc được lây lan trên diện rộng, vượt qua ranh giới quốc tế và thường ảnh hưởng đến rất nhiều người. Đây được xem là một định nghĩa cổ điển về đại dịch. Trong định nghĩa này, không đề cập đến việc dịch bệnh phải do tác nhân là vi-rút gây ra.
Song, tác giả cũng lưu ý rằng, các dịch bệnh theo mùa không được xem xét là một đại dịch theo định nghĩa này. Unicef (2021) nêu rằng, Covid-19 là một bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp được gây ra bởi một loại vi-rút Corona với tên gọi là SARS-CoV-2. Trong đó, “CO” là viết tắt của Corona, “VI” là vi-rút, “D” là viết tắt của bệnh. Theo đó Unicef cũng tiến hành định nghĩa đại dịch Covid-19 là một thuật ngữ dùng để mô tả sự lây lan theo địa lý của Covid- 19.
Nó không có chức năng nói lên số lượng người đã bị nhiễm Covid-19. Đề tài tiếp cận khái niệm đại dịch Covid-19 như một dịch bệnh được gây ra bởi vi- rút Corona trên diện rộng với phạm vi toàn cầu với nhiều tác động đến nhiều lĩnh vực và nhiều đối tượng khác nhau. Bên cạnh đó, ngày 11/03/2020 WHO cũng đã tuyên bố rằng dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 do chủng vi-rút Corona (SARV-CoV-2) là một đại dịch toàn cầu và ngày càng lan rộng sang hầu hết các quốc gia (Bộ Y tế, 2020). Sinh viên Tại Điều 59, Luật Giáo dục đại học năm 2012 của Quốc Hội có cho biết sinh viên là những người đang theo học các chương trình đào tạo đại học hoặc cao đẳng (Quốc Hội, 2012).
Theo Điều 2, Thông tư 10/2016/TT-BGDDT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành quy chế công tác sinh viên đối với chương trình đào tạo đại học hệ chính quy có định nghĩa rằng “Sinh viên là trung tâm của các hoạt động giáo dục và đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học, được đảm bảo Điều kiện thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền trong quá trình học tập và rèn luyện tại cơ sở giáo dục đào tạo” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016). Vũ Thị Nho (1999) định nghĩa “Sinh viên là một tầng lớp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị. Họ là người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong xã hội”. Vũ Thị Nho cũng có giải thích thêm ở góc độ tâm lý học phát triển thì “Sinh viên là lứa tuổi đạt đến trình độ sung mãn của đời người.
Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bảo” (Vũ Thị Nho, 1999). Từ những định nghĩa trên có thể thấy được, dù ở vị trí là một cá nhân hay tập thể thì sinh viên vẫn luôn giữ một vai trò nhất định trong xã hội. Trong môi trường giáo dục, họ được xem là một nhân tố trọng tâm và có mối quan hệ biện chứng với các thành tố còn lại của giáo dục. Ở khía cạnh xã hội, họ được xem là chủ nhân tương lai của đất nước, bậc tinh hoa của xã hội vì được trang bị đầy đủ các kiến thức chuyên môn và kỹ năng từ khi còn trên ghế nhà trường.
Cũng vì lý do này, mà họ cũng được xem là một trong những đối tượng chịu nhiều tác động khi đại dịch Covid-19 bùng phát. Trong đề tài này sinh viên năm nhất (khoá 2021) được cân nhắc loại bỏ khỏi mẫu nghiên cứu vì đây là nhóm sinh viên nhập học trong thời kỳ GCXH nên hầu hết đều học từ xa tại nhà trong thời kỳ này. Giãn cách xã hội Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh mẽ các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. “Giãn cách xã hội” là biện pháp được hầu hết chính phủ các nước thực hiện như một biện pháp quan trọng nhằm hạn chế sự lây lan của Covid-19.
Thuật ngữ giãn cách xã hội cũng dần trở nên phổ biến trong thời kỳ Covid-19. Song, trong quá khứ, biện 15 pháp này đã được áp dụng từ thế kỉ XIV trong giai đoạn bùng phát của đại dịch “Cái Chết Đen” tại Châu Âu (được trích bởi Hồ Thanh Bình & Nguyễn Xuân An, 2022). Theo Pearce (2020) định nghĩa giãn cách xã hội được hiểu là một biện pháp y tế công cộng bao gồm những hoạt đồng nhằm ngăn chặn sự tiếp xúc giữa người nhiễm bệnh và người chưa nhiễm để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Tương tự với quan điểm trên, Greenstone & Nigam (2020) cũng đề cập rằng, trước tình hình vac-xin chưa được bao phủ rộng thì GCXH được xem như là một chính sách được áp dụng để làm chậm sự lây lan của vi-rút.
Nó bao gồm nhiều hình thức khác nhau nhưng mục đích chính vẫn là tạo ra khoảng cách an toàn giữa mọi người. Trong đó, hình thức phổ biến nhất là buộc mọi người ở trong nhà của mình và hạn chế ra ngoài. Tại Việt Nam và đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn khoảng tháng 5/2021 Chính phủ bắt đầu áp dụng các biện pháp GCXH nhằm hạn chế sự lây lan của dịch Covid- 19. GCXH tại thời điểm này được thực thi theo các chỉ thị với các sự tăng dần về độ nghiêm ngặt và chặt chẽ điển hình là Chỉ thị 15; Chỉ thị 19 và Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo đó, GCXH trong giai đoạn được áp dụng như một biện pháp mạnh mẽ nhằm áp chế sự lây nhiễm của vi-rút sẽ được thực hiện theo nguyên tắc “gia đình cách ly với gia đình, thôn bản cách ly với thôn bản, xã cách ly với xã, huyện cách ly với huyện, tỉnh cách ly với tỉnh” (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Một số hoạt động được thực thi theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm: (i) Cách ly toàn xã hội (mọi người dân phải ở nhà, chỉ ra ngoài khi thật sự cần thiết); (ii) Không tụ tập quá 2 người ngoài công sở, trường học, bệnh viện; (iii) Khoảng cách tối thiểu giữa người với người là 2 mét; (iv) Tạm đình chỉ hoạt động các cơ sở kinh doanh dịch vụ; (v) Chỉ cho phép các cơ sở kinh doanh các loại hàng hoá, dịch vụ thiết yếu được mở cửa; (vi) Dừng di chuyển từ vùng có dịch đến các địa phương khác; (vii) Về cơ bản dừng hoạt động vận chuyển hành khách công cộng. Có thể thấy, đây là một chỉ thị hết sức nghiêm ngặt và hạn chế tối đa sự tiếp xúc và di chuyển của người dân. Đồng nghĩa với việc, các trường học buộc phải đóng cửa trong thời gian này vì nó không thuộc vào diện các dịch vụ hàng hoá thiết yếu.
16 Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận khái niệm GCXH như một thời kỳ mà tại đó các hoạt động hạn chế sự tiếp xúc và di chuyển của người dân được Chính phủ áp dụng nhằm hạn chế sự phát tán và lây lan của vi-rút trong cộng đồng. Các lý thuyết tiếp cận 1. Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Một nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow đã xây dựng một lý thuyết được dùng để định nghĩa và phân chia các nhu cầu của con người thành các bậc từ thấp đến cao, từ cơ bản đến phức tạp. Đã có rất nhiều các nghiên cứu đi trước sử dụng thuyết nhu cầu của Maslow như một chiều kích lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu của mình, đặc biệt là các nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học xã hội.
Theo Maslow (1943) nhu cầu của con người được xem là nguyên nhân khiến họ thực hiện hành vi của mình. Maslow đã phân loại nhu cầu của con người thành 5 nhóm riêng biệt từ thấp đến cao. Trong đó, những nhu cầu phía dưới (2 nhu cầu phía dưới) được xem là những nhu cầu căn bản của con người và nhóm 3 nhu cầu phía trên được gọi là những nhu cầu cao cấp của con người (hình 1. Nguyên tắc cơ bản xuyên suốt trong thuyết nhu cầu của Maslow là khi có một nhu cầu nào đó được đáp ứng đến một mức độ nhất đỉnh thì sẽ làm xuất hiện nhu cầu ở cấp độ cao hơn.
Song, yêu cầu cốt lõi nhất đó là muốn đáp ứng các nhu cầu cao cấp thì đòi hỏi các nhu cầu cơ bản của con người phải được áp ứng trước.1: Sơ đồ tháp nhu cầu Maslow Nguồn: Abraham Harold Maslow (1943) Đề tài này sẽ tiếp cận các loại nhu cầu trong đời sống của sinh viên ĐHQG TP.HCM theo sự phân chia nhu cầu của Maslow và phân tích xem liệu rằng trong bối cảnh GCXH do đại dịch Covid-19 thì các loại nhu cầu của sinh viên chịu ảnh hưởng như thế nào. Cụ thể: Nhu cầu bậc 1 (The physicological needs): được hiểu là những nhu cầu sinh lý căn bản của sinh viên nhằm phục vụ cơ thể và duy trì sự sống, sự sinh tồn. Ví dụ: thức ăn, nước uống, ngủ, hoạt động thể thao,… Nhu cầu bậc 2 (The safety needs): được hiểu là những nhu cầu cần được sự bảo đảm về sức khoẻ, tài sản, tính mạng,…. Nhất là khi đứng trước các biến động nguy hiểm về sức khoẻ cộng đồng như đại dịch Covid-19.
Nhu cầu bậc 3 (The love needs): được hiểu là nhu cầu được trực thuộc, được chia sẻ, được giao tiếp của sinh viên. Nhu cầu bậc 4 (Esteem needs): là những nhu cầu đòi hỏi sự nhìn nhận, đánh giá, tôn trọng từ mọi người xung quanh của sinh viên. Nhu cầu bậc 5 (Self actualization): là nhu cầu cao nhất, thể hiện nguyện vọng muốn được hoàn thiện và phát triển toàn diện về các mặt trong đời sống của sinh viên. 18 Trong nghiên cứu này, các phương diện đời sống của sinh viên như “Cuộc sống học tập”, “Sức khoẻ”, “Tài chính” đều thuộc các bậc trong tháp nhu cầu của Maslow.