CHƯƠNG I: ĐÔ THỊ HÓA, PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 1. Đô thị hoá và phát triển công nghiệp 1. Đất nông nghiệp và xu hướng biến động đất nông nghiệp Đất đai là tài sản quý của mỗi quốc gia. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất xã hội, không những phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp mà còn phục vụ cho các ngành khác như xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, khai khoáng, nhà ở, phát triển đô thị.
Với đặc tính có giới hạn về diện tích, đòi hỏi con người phải biết tính toán, đánh giá đầy đủ về đất đai không chỉ về mặt kỹ thuật mà cả về mặt kinh tế và xã hội của đất đai. Trong lĩnh vực nông nghiệp, đất nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng, được sử dụng vào việc trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản. Quỹ đất nông nghiệp là tổng thể về diện tích ruộng đất trên một vùng lãnh thổ theo ranh giới nhất định, nằm trong phạm vi một một đơn vị sản xuất (hộ gia đình, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp) của một địa phương. Các thay đổi về quỹ đất thường diễn ra theo hai hướng: - Thu hẹp do quá trình đô thị hoá, do sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, do sự hình thành các trung tâm công nghiệp mới làm cho quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp lại.
Xu hướng này đã và đang diễn ra một cách nhanh chóng. Đây là xu hướng tất yếu nên vấn đề đặt ra là lựa chọn địa điểm để xây dựng đô thị và khu công nghiệp cũng như các cơ sở hạ tầng như thế nào cho hiệu quả. - Mở rộng do sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu về nông sản ngày càng tăng trong khi quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, việc khai khẩn đất chưa sử dụng, đất hoang hoá đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp tăng lên. Cung và cầu về đất đai, xét trên tổng quỹ đất thì cung đất đai là cố định, đường cung có dạng đường thẳng, tuy nhiên cung của từng loại đất có thể biến động do có sự chuyển đối mục đích sử dụng qua lại lẫn nhau.
Cầu về đất đai là cầu phát sinh do sự tăng lên của nhu cầu đối với các sản phẩm từ đất đai và các nhu cầu khác của các ngành, của nhu cầu xây dựng nhà ở. Đối với đất nông nghiệp, mức cung đất nông nghiệp có thể tăng hoặc giảm. Sự tăng lên của diện tích đất nông nghiệp có thể biểu hiện ở một số khía cạnh như: (i) Chuyển những diện tích LUAN VAN đất hoang CHAT hoá thành đất LUONG nông nghiệp mới download khai phá; : add (ii) Chuyển một phần đất khác, luanvanchat@agmail.com 3 chủ thể. Tuy biểu hiện sau cùng không làm tăng cung đất nông nghiệp nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng thị trường đất nông nghiệp.
Về cầu đất nông nghiệp, xét về lâu dài do quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá, tổng lượng cầu về đất nông nghiệp có xu hướng giảm tương đối và sẽ giảm tuyệt đối so với các loại đất khác. Cơ sở của xu hướng này là sự phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng cao tạo điều kiện để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp. Ngoài ra còn một nguyên nhân khá quan trọng gây ra giảm cầu đất nông nghiệp là do xu hướng giảm sút tương đối tỷ suất lợi nhuận của sản xuất nông nghiệp so với các ngành khác, nguyên nhân này tạo ra sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác. Tình hình đô thị hoá và phát triển công nghiệp 1.
Đô thị hoá Quá trình phát triển kinh tế xã hội cho thấy đô thị hoá là xu hướng tất yếu của mọi quốc gia. Đô thị hoá phát triển trước hết sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phân công sản xuất, đem lại sự phát triển kinh tế hàng hoá và đẩy nhanh quá trình phát triển hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống sinh hoạt của con người. Quá trình đô thị hoá là tổng thể của nhiều lĩnh vực, trong đó việc tổ chức các khu dân cư, sự hình thành các quy hoạch không gian lãnh thổ, sự quy hoạch hoá các thể loại kiến trúc gắn liền với những đặc điểm lịch sử, xã hội và nhân văn của thị dân. Trong đó, theo Lưu Đức Hải (Phó giáo sư, Tiến sĩ - Viện trưởng Viện qui hoạch Đô thị và Nông thôn, Bộ Xây dựng) : Đô thị hoá nông thôn là một quá trình phát triển tất yếu của một quốc gia, đặc biệt đối với nước ta đang trong giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá đất nước.
Tốc độ đô thị hoá trong thời gian qua còn diễn ra nhanh hơn nữa. Đô thị hoá đã, đang và sẽ mang lại các mặt tích cực như thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội rõ rệt, đồng thời nó cũng nảy sinh những mặt tiêu cực như thu hẹp đất đai canh tác nông nghiệp, gây nguy cơ ô nhiễm môi trường; đồng thời đô thị hoá không bó hẹp ở việc hình thành các đô thị trong đó có công nghiệp về nông thôn thông qua các xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút lao động nông thôn, hạn chế sự di động nhân lực từ nông thôn vào thành thị (Lâm Quang Huyên, 2003). Như vậy, nội dung của đô thị hoá rất đa dạng và các ảnh hưởng của nó đối với xã hội cũng rất phong phú; xu hướng và tiến trình đô thị hoá phụ thuộc vào đặc điểm, điều kiện của LUAN VAN CHAT từng địa phương, LUONG vùng và quốc download : add gia. Tuy nhiên, một luanvanchat@agmail.com số biểu hiện chung của đô thị hoá là sự 4 gia tăng tỷ lệ dân số đô thị, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nhiều ngành, nghề mới, phát triển các hoạt động dịch vụ, tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp; kết cấu hạ tầng cơ sở, văn hoá - xã hội, môi trường sinh thái thay đổi.
Đối với Việt Nam, quá trình phát triển đô thị có thể chia thành các giai đoạn như sau: Giai đoạn trước 1954, chính quyền Pháp thiết lập bộ máy quản lý tại Việt Nam, củng cố và mở rộng các thành phố cũ và phát triển các thành phố mới, đặc trưng là Hải Phòng, Hà Nội, Sài Gòn. Thời kỳ này công nghiệp phát triển nhưng còn yếu. Giai đoạn từ năm 1954 – 1975 tốc độ đô thị hoá của Việt Nam đã phát triển nhưng còn chậm (Đỗ Quý Trung, 2007). Từ năm 1975 đến 1990, nền kinh tế Việt Nam trong tình trạng trì trệ, đô thị hoá diễn ra yếu.
Giai đoạn từ 1990 trở lại đây đô thị hoá ở Việt Nam phát triển nhanh, Năm 1990, cả nước có 500 đô thị lớn, nhỏ; đến năm 2000 đã tăng lên 649 đô thị, năm 2003 số đô thị tăng lên 656. Dân số đô thị tăng từ 11,87 triệu người (năm 1986 chiếm 19,3 % dân số cả nước) lên 13 triệu người (năm 1990 chiếm 20,75% dân số cả nước); năm 2000 chiếm 25%; năm 2002 chiếm 25,3%; dự báo năm 2010 là 33% và đến năm 2020 sẽ là 45%. Đô thị hoá cũng làm diện tích đất đô thị tăng dần. Năm 1999, diện tích đất các đô thị chiếm 0,2% trên tổng diện tích tự nhiên của quốc gia, đã tăng lên 1% vào năm 2003.
Các khu công nghiệp cũng phát triển mạnh, năm 1991 cả nước mới có 1 khu công nghiệp, đến năm 2003 đã lập thêm 82 khu công nghiệp (Đỗ Quang Quý, 2007). Phát triển công nghiệp vùng nông thôn Phát triển công nghiệp vùng nông thôn gắn liền với quá trình phát triển đô thị. Trong xu thế phát triển kinh tế, đô thị dần trở thành các trung tâm giao lưu kinh tế, thương mại, văn hoá và các dịch vụ xã hội khác; các cơ sở sản xuất công nghiệp sẽ được chuyển về khu công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Năm 1997, cả nước có 688 cơ sở sản xuất công nghiệp quan trọng, trong đó có 195 cơ sở trên địa bàn nông thôn đã có những đóng góp đáng kể trong nền kinh tế.
Hầu hết các cơ sở chế biến nông lâm sản đều có nguyên liệu sản xuất tại nông thôn, nên có tới 80% cơ sở được xây dựng ở nông thôn; tốc độ tăng trưởng công nghiệp nông thôn từ 1991 – 1996 tăng liên tục. Tỷ lệ hộ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng năm 2001 chiếm 5,8% đến năm 2006 tăng lên 10%; hộ dịch vụ từ 11,25 tăng lên 14,8%. Sau 5 năm (2001 - 2006), tỷ LUAN VAN trọng CHAT các loại hệ LUONG download phi nông nghiệp : add ở khu vực nông thôn đãluanvanchat@agmail.com tăng thêm 8% so với năm 2001 5 (Nguyễn Sinh Cúc, 2007). Công nghiệp nông thôn phát triển làm thay đổi cơ cấu kinh tế, ngành nghề và lao động nông thôn theo hướng tăng số lượng và tỷ trọng của các nhóm hộ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng hộ công nghiệp.
Về mặt tích cực, đô thị hoá và phát triển công nghiệp từng bước hình thành các trung tâm đô thị, thương mại, du lịch, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thu nhập và đời sống của người dân về vật chất lẫn tinh thần ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, song song với quá trình đô thị hoá và phát triển công nghiệp cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết, trước tiên là một phần đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp chuyển sang mục đích sử dụng khác, một bộ phận nông dân phải chuyển đổi nghề nghiệp và thu nhập, đời sống có những chuyển biến nhất định; tình trạng ô nhiễm môi trường, hạ tầng cơ sở phát triển không đồng bộ, vần để lao động - việc làm, phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội. Lý thuyết sinh kế bền vững của DFID Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết về tiếp cận sinh kế bền vững (SLA) của Uỷ ban phát triển Quốc tế (DFID). Định nghĩa sinh kế bền vững Thuật ngữ sinh kế bền vững được sử dụng lần đầu tiên như một khái niệm phát triển vào đầu thập niên 90.
Chambers và Conway (1991) đã định nghĩa sinh kế bền vững như sau: “Sinh kế bao gồm con người, những khả năng của họ và phương tiện sinh sống, bao gồm thức ăn, thu nhập và tài sản. Tài sản hữu hình là tài nguyên và tích luỹ, và tài sản vô hình là quyền yêu sách và quyền tiếp cận”. Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống.