Chương 1 và Chương 2 trình bày về cơ sở lý luận và phương pháp luận của luận án. Chương 3 trình bày tổng quan về xã hội Việt Nam nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản cho các chương sau. Chương 4, Chương 5 và Chương 6 trình bày ba nội dung chủ yếu của luận án. Ba nội dung này tương ứng với ba thành phần Giáo dục, Thu nhập và Nghề nghiệp ở Lược đồ nghiên cứu cơ bản.
Đó cũng là ba thành phần cơ bản của hệ thống phân tầng xã hội. Nó được thể hiện qua những trình bày về bất bình đẳng giáo dục, bất bình đẳng mức sống (phân hóa giàu- nghèo) và di động xã hội ở Việt Nam. Chính vì vậy, ba chương này nhằm thực hiện mục tiêu thứ nhất của luận án. Hơn nữa, nội dung của Chương 4, Chương 5 và Chương 6 đều dựa vào những luận đề công nghiệp hóa làm hệ quan điểm tham chiếu để nghiên cứu so sánh.
Kết quả là, ba chương này đã phát biểu mới và phát biểu mở rộng một số luận điểm về công nghiệp hóa. Đây cũng là mục tiêu thứ hai của luận án nhằm tìm hiểu. Cuối cùng là phần kết luận chung, trình bày một số kết luận rút ra từ Chương 4, Chương 5, Chương 6 và đặt ra một số vấn đề nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. Những luận điểm cơ bản về tác động của công nghiệp hóa đến hệ thống phân tầng xã hội 1.1 Giới thiệu Phân tầng xã hội là một trong những vấn đề quan trọng của xã hội học từ khi hình thành cho đến ngày nay.
Trong mỗi giai đoạn của lịch sử loài người, các quá trình biến đổi kinh tế- xã hội đều có tác động tới hệ thống phân tầng. Đặc biệt đến giai đoạn xã hội hiện đại, quá trình công nghiệp hóa đã có ảnh hưởng lớn đến hệ thống phân tầng xã hội. Sự ảnh hưởng này đã được nhiều nhà xã hội học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Chủ đề về mối quan hệ giữa quá trình công nghiệp hóa và phân tầng xã hội đã được quan tâm từ những năm 1960~1970 (Lipset và Bendix, 1959; Smelser và Lipset eds., 1966; Blau và Duncan, 1967; Treiman, 1970; Yasuda, 1971; Tominaga ed., 1979; Imada, 1989)1 Cho đến hiện nay, chủ đề trên vẫn được được nhiều nhà xã hội học Nhật Bản quan tâm nghiên cứu (Ishida, 1993, 1998; Kondo, 2000; Imada, 2000).
Những nghiên cứu về chủ đề này trên thế giới đều dựa trên các số liệu thực nghiệm và đã đưa ra một số luận điểm cơ bản (có ý nghĩa như các luận điểm kinh điển- classical thesis) về mối quan hệ giữa quá trình công nghiệp hóa và phân tầng xã hội. Những kết quả này có sự khái quát cao tới mức độ lý thuyết. Chúng ta có thể đưa ra lược đồ (framework) nghiên cứu cơ bản về chủ đề này và những luận điểm cơ bản của nó ở mục tiếp theo dưới đây.2 Lược đồ nghiên cứu cơ bản về tác động của công nghiệp hóa đến hệ thống phân tầng xã hội Như đề cập ở trên, chủ đề này được nhiều nhà xã hội học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Nhưng Treiman là người đã nghiên cứu và biên soạn lại chúng một cách có hệ thống.
Ông đã đưa ra hai mươi bốn luận điểm, hoặc phát biểu (propositions, statements) về chủ đề này trong một bài viết của mình (Treiman, 1970). Nhiều nhà xã hội học gọi đó là những luận đề kinh điển về công nghiệp hóa (classical theses of industrialization). Vì thế, trong mục này tôi dựa vào bài viết của Treiman để trình bày tóm tắt lại thông qua lược đồ nghiên cứu cơ bản dưới đây nhằm làm cơ sở xuất phát để triển khai nghiên cứu trong luận án. Khái niệm công nghiệp hóa mà Treiman dựa vào là định nghĩa của Davis đưa ra từ năm 1955: “Công nghiệp hóa là quá trình sử dụng những công cụ máy móc và các nguồn năng lượng tự nhiên (nhiên liệu dưới lòng đất và sức nước) để thay thế, hoặc làm tăng thêm sức mạnh của con người” (Treiman, 1970: 210).
Khái niệm này là chuyên biệt. Nó quan tâm chủ yếu đến những thay đổi về kỹ thuật trong xã hội, ít quan tâm đến những thay đổi trong cấu trúc xã hội. Theo định nghĩa này, quá trình công nghiệp hóa xuất hiện ở rất nhiều xã hội khác nhau kể từ khi con người sáng chế ra chiếc máy hơi nước đầu tiên cho đến ngày nay. Các nước 1 Tác giả luận án biên soạn lại theo (Imada, 2000: 51).
10 trên thế giới hiện nay, xã hội nào cũng đều sử dụng công cụ máy móc với số lượng nhiều, ít khác nhau để làm tăng thêm sức mạnh của con người. Như vậy, công nghiệp hóa sẽ có nhiều mức độ. Các mức độ khác nhau sẽ tác động làm thay đổi cấu trúc xã hội cũng khác nhau. Lược đồ nghiên cứu cơ bản dưới đây sẽ được đặt trong môi trường của quá trình công nghiệp hóa theo định nghĩa của Davis như đã dẫn.
Hệ thống phân tầng trong lược đồ được Treiman xem xét dưới hai góc độ. Thứ nhất, dưới góc độ cấu trúc của hệ thống phân tầng, Treiman quan tâm đến ba thành phần (components) chủ yếu là giáo dục đạt được, địa vị nghề nghiệp và thu nhập. Tức là mọi người trong xã hội được sắp xếp theo những vị trí khác nhau như thế nào trong từng thành phần kể trên. Nói cách khác là: giáo dục, nghề nghiệp và thu nhập được phân phối cho các thành viên trong xã hội như thế nào.
Thứ hai, dưới góc độ quá trình vươn tới địa vị đạt được (process of status attainment) trong hệ thống phân tầng, Treiman quan tâm đến làm thế nào mà các thành viên trong xã hội đạt được những địa vị trong từng lĩnh vực giáo dục, nghề nghiệp và thu nhập tương ứng. Hoặc là ba thành phần chủ yếu trên đây có mối quan hệ với nhau như thế nào. Ngoài ra, chúng còn có mối quan hệ với những thành phần khác trong hệ thống. Cuối cùng, toàn bộ hệ thống phân tầng có quan hệ như thế nào đến những mặt khác nhau của đời sống xã hội và chúng đều chịu tác động của quá trình công nghiệp hóa theo định nghĩa của Davis.
Để hiểu một cách trực quan về hệ thống phân tầng và mối quan hệ giữa các thành phần của nó, ta dựa theo sơ đồ của Blau và Duncan. Treiman đã trích dẫn sơ đồ của Blau và Duncan trong bài viết của mình. Tôi mượn hình ảnh của sơ đồ đó để làm cơ sở nghiên cứu (tức là gợi ra ý tưởng nghiên cứu) trong luận án này và gọi nó là Lược đồ nghiên cứu cơ bản như sau: Nghề nghiệp Nghề nghiệp của cha của con trai Thu nhập của con trai Giáo dục Giáo dục của cha của con trai Hình 1. 1 Lược đồ nghiên cứu cơ bản: Cấu trúc và quá trình vươn tới địa vị đạt được Nguồn: Biên tập lại từ bài viết của (Treiman, 1970: 213) Trong Hình 1.1 trên đây, Treiman đã giải thích biến số giáo dục (học vấn) có thể được đo bằng số năm đi học, hoặc các phạm trù giáo dục dựa trên số năm đi học (tức là cấp học), hoặc tỉ lệ đến trường.
Nghề nghiệp được đo bằng số điểm uy tín của nghề (occupational prestige scores), hoặc địa vị kinh tế- xã hội của nghề 11 (tức là các phạm trù nghề nghiệp, hoặc các nhóm loại nghề nghiệp). Thu nhập được đo bằng số tiền của cá nhân thu được trong một năm (hoặc một thời kỳ xác định).1 chứng tỏ rằng sự đạt được về giáo dục của thế hệ con trai phụ thuộc trực tiếp vào giáo dục (học vấn) và nghề nghiệp của cha. Nghề nghiệp của con phụ thuộc trực tiếp vào giáo dục (học vấn) của anh ta và nghề nghiệp của cha. Thu nhập của con trai phụ thuộc trực tiếp vào nghề nghiệp và giáo dục (học vấn) của anh ta.
Đây là quá trình vươn tới địa vị đạt được trong hệ thống phân tầng xã hội. Công nghiệp hóa đã có tác động tới quá trình này và tác động tới cấu trúc của hệ thống phân tầng. Những tác động này đã được Treiman khái quát thành hai mươi bốn luận điểm về công nghiệp hóa. Tôi trích dẫn (tạm dịch) một số luận điểm liên quan đến luận án này (những luận điểm in nghiêng có liên quan trực tiếp nhiều hơn đến luận án là I.6) như sau: Những luận điểm công nghiệp hóa về cấu trúc của hệ thống phân tầng: “I.
Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì tỉ lệ lực lượng lao động nông nghiệp càng giảm. Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì các loại nghề nghiệp trong xã hội càng nhiều. Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì tỉ lệ lao động không chân tay trong nghề phi nông ngày càng tăng. Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì tỉ lệ trẻ em đến trường ngày càng lớn.
Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì thu nhập bình quân đầu người ngày càng cao. Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì phân phối về thu nhập ngày càng bình đẳng hơn.” (Treiman, 1970: 217) Những luận điểm công nghiệp hóa về quá trình vươn tới địa vị đạt được: “I. Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì ảnh hưởng trực tiếp của nghề nghiệp của cha lên nghề nghiệp của con trai càng giảm. Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì ảnh hưởng trực tiếp của học vấn của con trai lên nghề nghiệp của anh ta càng lớn.
Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì ảnh hưởng trực tiếp của địa vị của cha mẹ lên sự đạt được về giáo dục của con trai càng giảm. Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì tỉ lệ di động trao đổi càng lớn. Đặc biệt là: a) Xã hội có mức độ giáo dục càng cao, thì tỉ lệ di động trao đổi càng lớn. b) Xã hội có mức độ truyền thông càng rộng rãi, thì tỉ lệ di động trao đổi càng lớn.
c) Xã hội có mức độ đô thị hóa càng cao, thì tỉ lệ di động trao đổi càng lớn. d) Xã hội có tỉ lệ di động địa lý càng cao, thì tỉ lệ di động trao đổi càng lớn. Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì ảnh hưởng trực tiếp của nghề nghiệp lên thu nhập càng lớn. Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì ảnh hưởng trực tiếp của học vấn lên thu nhập càng ít.
Xã hội công nghiệp hóa càng cao, thì mối tương quan giữa học vấn và thu nhập càng yếu.” (Treiman, 1970: 221) Những luận điểm công nghiệp hóa được phát biểu trên đây là dựa trên số liệu thực nghiệm của các nước công nghiệp vào những năm 50s~60s.