Chương 1: Cơ sở khoa học về công bằng trong tổ chức và sự hài lòng đối với công việc của người lao động. Chương 2: Phân tích tác động của công bằng trong tổ chức đến sự hài lòng đối với công việc của người lao động tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Thanh Việt. Chương 3: Định hướng và giải pháp cải thiện các yếu tố công bằng trong tổ chức nhằm nâng cao sự hài lòng đối với công việc của người lao động tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Thanh Việt. SVTH: Vũ Thị Oanh – K53E - QTKD 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Tống Thị Thanh Thảo PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔ G BẰ G TRO G TỔ CHỨC VÀ SỰ HÀI LÒ G VỚI CÔ G VIỆC CỦA GƯỜI LAO ĐỘ G. Sự công bằng trong tổ chức 1. Khái niệm công bằng Lý thuyết về công bằng đã được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực quản lý tổ chức vào năm 1960, 1970. Công bằng được hiểu là sự phân bổ hợp lý, bình đẳng lương và mức thưởng trong tổ chức.
Công bằng (equity) là khái niệm thường được các nhà kinh tế dùng để phân biệt với khái niệm hiệu quả: hiệu quả gắn với sản xuất, còn công bằng gắn với hình thức phân phối. N gày nay, nhiều nghiên cứu đã thấy rõ, người lao động quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề như chức vụ cao hay hay văn phòng làm việc được trang bị tiên nghi…Khái niệm công bằng đã được hiểu rộng hơn là tất cả những gì tại nơi làm việc được thể hiện qua những quyết định quản lý và hợp lý, bình đẳng, rõ ràng, không thiên vị. Công bằng trong tổ chức Moorman và cộng sự (1991) đã định nghĩa, sự công bằng trong tổ chức là một thuật ngữ mô tả vai trò của sự công bằng có liên quan trực tiếp đến nơi làm việc, nó liên quan đến mức độ mà các người lao động nhận thức rằng mình và các người lao động khác có được đối xử công bằng trong công việc hay không. Các người lao động thường cảm nhận sự công bằng trong tổ chức thường được nhìn nhận và so sánh những gì mình được đối xử so với các đồng nghiệp của mình.
Hoặc những nỗ lực mà họ cống hiến có được đáp trả bằng chế độ lương, thưởng hợp lý hay không. N ếu các người lao SVTH: Vũ Thị Oanh – K53E - QTKD 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tống Thị Thanh Thảo động thấy rằng, những gì họ nhận được xứng đáng với những nỗ lực bỏ ra và các đồng nghiệp khác cũng như vậy thì họ sẽ cảm thấy công bằng trong tổ chức. Theo Cropanzano và cộng sự (2002), sự đối xử công bằng trong tổ chức có liên quan đến thái độ tích cực với công việc và kết quả làm việc của người lao động.
Cảm nhận về sự công bằng trong tổ chức là một nhận thức về mặt tâm lý phức tạp của người lao động dựa trên những trải nghiệm và sự so sánh tích lũy lâu dài trong quá trình làm việc với tổ chức. Vì vậy nó là kết quả của những thái độ hình thành trong quá trình làm việc, đi cùng với thái độ khác như sự hài lòng với công việc, hay sự cam kết gắn bó với tổ chức. Theo Al-Zu’bi (2010), công bằng trong tổ chức là cách thức mà người lao động nhận thức vấn đề công bằng của những gì xứng đáng nhận được và những gì họ thực sự nhận được từ tổ chức. Theo Greenberg (1990), sweeney và Mc Farlin (1997), thì công bằng trong tổ chức bao gồm: công bằng về thủ tục và công bằng trong phân phối.
Theo Whisennant và Smucker (2009), đó là: công bằng về thủ tục công bằng trong phân phối và công bằng trong ứng xử giữa người quản lý và người lao động. Đối với Colquitt (2001), Al-Zu’bi (2010) và Iqbal (2013), thì công bằng trong tổ chức bao gồm: Công bằng về thủ tục; công bằng phân phối; công bằng trong ứng xử giữa quản lý và người lao động và công bằng về thông tin. Công bằng tổ chức đề cập đến nhận thức của người lao động về việc mình được đối xử công bằng trong tổ chức sử dụng lao động (Cohen-Charash và Spector, 2001); Là nhận thức của người lao động về sự công bằng trong mối quan hệ trao đổi giữa họ với tổ chức về mặt các phần thưởng và quy trình (Hendrix và cộng sự, 1998). Tuy nhiên, nhận thức về công bằng không chỉ giới hạn ở so sánh mỗi kết quả đầu ra mà người lao động còn quan tâm các quy định và nguyên tắc của tổ chức và cách áp dụng các quy định trong đánh giá hiệu quả công việc.
Đồng thời, người lao động sẽ xem xét liệu họ đã được đối xử một cách chân thành và tôn trọng không, được cung cấp một cách đầy đủ, trung thực về các thông tin từ cấp trên hay không (Colquitt, 2001; Greenberg, 1993). SVTH: Vũ Thị Oanh – K53E - QTKD 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tống Thị Thanh Thảo N hìn chung lại thì công bằng trong tổ chức được biểu hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau: công bằng trong thủ tục, công bằng trong phân phối, công bằng trong cách ứng xử, công bằng thông tin… Các đối tượng như người lao động luôn đem ra để so sánh giữa các cá nhân trong tổ chức để thấy được mức chênh lệch từ đó có thái độ hài lòng hay không hài lòng tùy vào kết quả so sánh và cảm nhận của người lao động đó. Vai trò của công bằng trong tổ chức Theo Greenberg (1987), công bằng trong tổ chức có liên quan đến cách thức mà người lao động xác định xem họ đã được đối xử công bằng trong công việc hay chưa và cách thức mà những quyết định được đưa ra ảnh hưởng đến các kết quả hành vi trong tổ chức.
N ghiên cứu công bằng trong tổ chức giúp giải thích những hành động chống đối, nghỉ việc, nhảy việc khi mà cảm thấy có sự bất công bằng hoặc quy trình không phù hợp diễn ra. N gười lao động sẽ hài lòng và nhận thấy tổ chức quan tâm đến chất lượng công việc và lợi ích của họ một cách công bằng, khi đó họ sẽ cố gắng thực hiên công việc hiệu quả và trung thành với tổ chức (Fatt và cộng sự, 2010). Công bằng giúp tăng lòng trung thành của người lao động tại tổ chức bên cạnh đó tăng công bằng trong tổ chức cũng gián tiếp tăng hiệu quả làm việc. Sự hài lòng đối với công việc của người lao động: 1.
Khái niệm sự hài lòng: Theo Kotler (2001), sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phN m/dịch vụ với những kì vọng của người đó. Kỳ vọng ở đây được xem là ước mong hay mong đợi của con người. N ó bắt nguồn từ nhu cầu cá nhân, kinh nghiệm trước đó và thông tin bên ngoài như quảng cáo, thông tin truyền miệng của bạn bè, già đình… Sự hài lòng (tiếng anh là “Satisfaction”) là sự thỏa mãn, cảm thấy hợp lý khi đạt được những mong muốn, đòi hỏi đặt ra. N ó là kết quả tương quan so sánh giữa hiệu quả nhận thức được trong thực tế và sự mong muốn (hay còn gọi là kỳ vọng) của con người.
SVTH: Vũ Thị Oanh – K53E - QTKD 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tống Thị Thanh Thảo S=P–E Trong đó: S (Satisfiction): mức độ hài lòng P (Perception): mức độ cảm nhận E (Expectstion): mức độ mong đợi SVTH: Vũ Thị Oanh – K53E - QTKD 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tống Thị Thanh Thảo 1. Sự hài lòng đối với công việc của người lao động Sự hài lòng đối với công việc của người lao động là phản ứng tình cảm của người lao động đối với công việc, dựa trên sự so sánh giữa kết quả thực tế nhận được và kết quả mong muốn đạt được (Mosadeghrad, 2003).
Sự hài lòng nói chung được công nhận là một cấu trúc đa hướng các cảm xúc của người lao động về một loạt các yếu tố liên quan đến công việc. N ó bao gồm các khía cạnh cụ thể liên quan đến tiền lương, lợi ích, sự thăng chức, điều kiện làm việc, giám sát, mối quan hệ với đồng nghiệp… (AL- Zu’bi, 2010). Sự hài lòng đối với công việc đồng nghĩa với việc người lao động nhận thức về công việc của họ một cách tích cực (Mohyeldin và Tahire, 2007). N gười lao động hài lòng hơn khi họ cảm thấy được khen thưởng công bằng theo đóng góp của họ cho tổ chức và phần thưởng đó hài hòa với các chính sách khen thưởng của tổ chức (Al-Zu’bi, 2010).
Sự hài lòng trong công việc đã được nghiên cứu rộng rãi trong nghiên cứu tâm lý (Judge và cộng sự, 2002). Sự hài lòng công việc theo định nghĩa của Vroom (1964) là một kết nối cảm xúc của một người với môi trường làm việc. Cụ thể, Locke chỉ ra rằng sự hài lòng trong công việc là một trạng thái tình cảm vui vẻ hay tích cực từ việc đánh giá về một công việc hoặc kinh nghiệm trong công việc (Locke, 1976). Robbins và Judge (2013) đã mô tả sự hài lòng công việc như là cảm xúc tích cực hay tiêu cực liên quan đến một công việc.
Một cá nhân rất hài lòng sẽ có cảm giác tốt, trong khi một người lao động không hài lòng sẽ có cảm giác xấu về công việc của mình. Không có một chuN n mực cụ thể để đo lường sự hài lòng của người lao động. Và đặc biệt sự hài lòng của người lao động trong công việc không thể nhìn thấy, nó chỉ có thể được suy ra. N ó liên quan đến cảm xúc của một người đối với công việc của họ.
Sự hài lòng của người lao động trong công việc và thái độ công việc thường có mối liên hệ mật thiết và đi song hành với nhau. Thái độ tích cực đối với công việc được coi như tương đương với sự hài lòng. Khi mà biểu hiện thái độ tiêu cực cùng đồng nghĩa với việc người lao động đang ngầm tỏ ra thái độ không hài lòng trong công việc. Sự hài lòng của người lao động trong công việc đề cập đến thái độ của một người đối với công việc.
Qua thái độ phản ánh cảm xúc của một người với tổ chức, cá nhân và các đối tượng khác. Sự hài lòng liên quan đến các yếu tố hiệu suất. Vì vậy khi SVTH: Vũ Thị Oanh – K53E - QTKD 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Tống Thị Thanh Thảo muốn nâng cao hiệu xuất các nhà quản lý cần lưu tâm đến sự hài lòng của người lao động.