Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Tổng hợp các lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu liên quan đã được thực hiện để hình thành mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nêu lên trình tự các bước và phương pháp thực hiện nghiên cứu. Ước tính số lượng mẫu cần thu thập.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 10 Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chuyển đổi số, phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Kết luận nghiên cứu và đưa ra các hàm ý chính sách cho các quốc gia châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng trong tận dụng lợi ích từ chuyển đổi số để phát triển tài chính hướng đến tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, tác giả liên hệ thực tiễn chuyển đổi số tại Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Giới thiệu chương Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết phục vụ cho đề tài nghiên cứu bao gồm các khái niệm, các lý thuyết liên quan về tác động của chuyển đổi số, phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế, các mô hình tác động có liên quan đã được các nhà nghiên cứu phát triển trước đó.
Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước với chủ đề tương đồng để làm cơ sở cho việc phát triển đề tài. Chuyển đổi số Trong những năm gần đây, chuyển đổi số đã nổi lên như một hiện tượng trong nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn. Đã có nhiều định nghĩa của các học giả được đưa ra liên quan đến chuyển đổi số. Cụ thể: Theo Demirkan và cộng sự (2016), chuyển đổi số là sự chuyển đổi sâu sắc và nhanh chóng các hoạt động kinh doanh, quy trình, năng lực và mô hình kinh doanh để tận dụng những thay đổi và cơ hội do tiến bộ kỹ thuật số mang lại cho xã hội.
Theo Hess và cộng sự (2016), chuyển đổi số liên quan đến những thay đổi trong công nghệ kỹ thuật số có thể mang lại mô hình kinh doanh mới cho các công ty, tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới hoặc thay đổi cơ cấu tổ chức sang hình thức tự động hóa các quy trình. Những thay đổi này có thể được quan sát thấy trong nhu cầu ngày càng tăng đối với các phương tiện truyền thông dựa trên Internet, dẫn đến những thay đổi của toàn bộ mô hình kinh doanh. Tóm lại, chuyển đổi số là một thuật ngữ mới và hiện đại trong nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, thuật ngữ chuyển đổi số được định nghĩa là sự tích hợp công nghệ kỹ thuật số vào hoạt động kinh doanh dẫn đến những thay đổi trong hoạt động kinh doanh và cung cấp giá trị cho khách hàng (Micic, 2017).
Chuyển đổi số cũng đề cập đến những chuyển đổi được kích hoạt bởi việc áp dụng công nghệ kỹ thuật số vào TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 12 sản xuất, xử lý, chia sẻ và chuyển giao thông tin. Đồng thời, chuyển đổi số được xây dựng dựa trên sự phát triển của nhiều công nghệ như: mạng viễn thông, công nghệ điện toán, kỹ thuật phần mềm và sự lan tỏa từ việc sử dụng chúng. Tăng trưởng kinh tế Theo Samuelson và Nordhaus (1985), tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng GDP hay sản lượng tiềm năng của một nước. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế diễn ra khi đường giới hạn khả năng sản xuất của một nước (PPF) dịch chuyển ra phía ngoài.
Một khái niệm rất gần gũi với tăng trưởng kinh tế là mức tăng sản lượng tính trên đầu người. Như vậy, tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia. Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo những dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Trong đó, tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội. Để có được tăng trưởng kinh tế, mỗi quốc gia không nhất thiết phải đi theo cùng một con đường.
Theo Samuelson và Nordhaus (1985), nước Anh là dẫn đầu nền kinh tế thế giới trong những năm 1800 bằng cách tiên phong trong Cách mạng công nghiệp, phát minh ra động cơ hơi nước và đường sắt, chú trọng tự do thương mại. Trái lại, Nhật Bản tham gia vào cuộc đua tăng trưởng kinh tế muộn hơn. Quốc gia này đã thành công bằng cách bắt chước công nghệ nước ngoài và bảo hộ công nghiệp trong nước chống lại nhập khẩu, rồi sau đó phát triển trình độ chuyên môn tinh xảo trong ngành chế tạo và thiệt bị điện tử. Mặc dù con đường đi cụ thể của mỗi quốc gia có thể khác nhau nhưng tất cả các nước tăng trưởng đều có những nguồn gốc chung nhất định.
Samuelson và Nordhaus (1985) đã nêu ra 4 nguồn gốc cho sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 13 bao gồm: nguồn nhân lực (cung lao động, giáo dục, kỷ luật và động cơ khuyến khích), nguồn tài nguyên (đất đai, khoáng sản, nhiên liệu và chất lượng môi trường), tạo vốn (máy móc, nhà xưởng, đường xá) và công nghệ (khoa học, công nghệ, quản lý và ý thức kinh doanh). Phát triển tài chính Adnan (2011) chỉ ra rằng phát triển tài chính là các yếu tố, chính sách và thể chế nhằm tạo ra các thị trường và trung gian tài chính hiệu quả cũng như khả năng tiếp cận vốn và các dịch vụ tài chính sâu rộng. Theo Levine (2005), chức năng của hệ thống tài chính là giảm thiểu những chi phí giao dịch và chi phí thông tin làm cản trở các hoạt động kinh tế. Một hệ thống tài chính phát triển tốt và hiệu quả sẽ có khả năng đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế thông qua việc sử dụng các nguồn lực một cách hữu ích và phân bổ chúng một cách hiệu quả.
Đồng thời, phát triển tài chính thông qua việc tăng tiết kiệm và đầu tư, đẩy mạnh tích lũy vốn, từ đó thúc đẩy tăng trường kinh tế của quốc gia. Nhiều bằng chứng cho thấy sự phát triển của khu vực tài chính đóng một vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế (Beck và cộng sự, 2010; Čihák và cộng sự, 2012; Demirgüç và cộng sự, 2008, Levine, 2005). Nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tích lũy vốn và tiến bộ công nghệ bằng cách tăng tỷ lệ tiết kiệm, huy động và tổng hợp các khoản tiết kiệm, cung cấp thông tin về đầu tư, tạo điều kiện và khuyến khích dòng vốn nước ngoài cũng như tối ưu hóa việc phân bổ vốn. Các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển tốt hơn có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn trong thời gian dài và một lượng lớn bằng chứng cho thấy tác động này có quan hệ nhân quả.
Phát triển tài chính không chỉ đơn giản là kết quả của tăng trưởng kinh tế mà nó còn góp phần vào sự tăng trưởng này. Ngoài ra, nó làm giảm nghèo đói và bất bình đẳng bằng cách mở rộng khả năng tiếp cận tài chính cho người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương, tạo điều kiện quản lý rủi ro bằng cách giảm mức độ dễ bị tổn thương của họ trước các cú sốc, đồng thời tăng đầu tư và năng suất nhằm tạo ra thu nhập cao hơn. Phát triển khu vực tài chính có thể giúp tăng trưởng các doanh nghiệp bằng cách cung cấp cho họ khả năng tiếp cận tài chính. Các doanh nghiệp nhỏ thường thâm dụng lao TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 14 động và tạo ra nhiều việc làm hơn so với các doanh nghiệp lớn.
Họ đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt là ở các nền kinh tế mới nổi. Một phép đo lường tốt về phát triển tài chính là rất quan trọng để đánh giá sự phát triển của khu vực tài chính và hiểu được tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó để đo lường sự phát triển tài chính vì đây là một khái niệm rộng lớn và có nhiều khía cạnh. Công việc thực nghiệm được thực hiện cho đến nay thường dựa trên các chỉ số định lượng tiêu chuẩn có sẵn trong một chuỗi thời gian dài cho nhiều quốc gia.
Ví dụ, tỷ lệ tài sản của các tổ chức tài chính trên GDP, tỷ lệ nợ phải trả trên GDP và tỷ lệ tiền gửi trên GDP. Cơ sở dữ liệu phát triển tài chính toàn cầu của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2012) đã phát triển một khung 4x2 khái niệm toàn diện nhưng tương đối đơn giản để đo lường sự phát triển tài chính trên toàn thế giới. Khuôn khổ này xác định bốn tập hợp các biến đại diện đặc trưng cho một hệ thống tài chính hoạt động tốt: chiều sâu tài chính, khả năng tiếp cận, hiệu quả và tính ổn định. Sau đó, bốn khía cạnh này được đo lường cho hai thành phần chính trong lĩnh vực tài chính, đó là các tổ chức định chế tài chính và thị trường tài chính: Các định chế tài chính Thị trường tài chính - Tín dụng của khu vực tư - Giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán nhân trên GDP.
và dư nợ chứng khoán tư nhân trong - Tài sản của các tổ chức tài nước tính trên GDP. Chiều chính so với GDP. - Chứng khoán Nợ tư nhân so với GDP. sâu - M2 so với GDP.
- Chứng khoán Nợ công trên GDP. tài - Tiền gửi so với GDP. - Chứng khoán Nợ quốc tế so với GDP. chính - Tổng giá trị gia tăng của khu - Vốn hóa thị trường chứng khoán so với vực tài chính trên GDP.
- Cổ phiếu được giao dịch trên GDP.