Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 9 34 02 01) của nghiên cứu sinh Huỳnh Thị Tuyết Ngân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Diên Vỹ tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, hoàn thành vào tháng 11 năm 2022. Đề tài tập trung phân tích thực nghiệm tác động của chuyển đổi số và phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia thuộc khu vực châu Á.

Tính cấp thiết của nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn phát triển nhanh chóng của các công nghệ số then chốt như trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT), chuỗi khối (blockchain) và mạng không dây thế hệ mới (5G). Những công nghệ này làm biến đổi sâu sắc phương thức vận hành của nền kinh tế, cơ cấu việc làm và năng suất lao động. Tại khu vực châu Á, tỷ trọng của ngành công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ghi nhận mức tăng trưởng vượt trội so với tốc độ tăng trưởng kinh tế nói chung. Đơn cử, trong giai đoạn 2005–2015, tăng trưởng ICT đạt bình quân 15,7% ở Trung Quốc và 7,1% ở Thái Lan; giá trị giao dịch bán lẻ thương mại điện tử của Trung Quốc tăng từ dưới 1% lên hơn 40% quy mô toàn cầu (McKinsey Global Institute, 2017). Trong số 10 nền kinh tế hàng đầu thế giới có tỷ lệ ICT trên GDP lớn nhất, châu Á đóng góp 7 nền kinh tế. Song hành với sự bùng nổ kỹ thuật số, khu vực tài chính châu Á cũng có những bước chuyển mình mạnh mẽ với sự phát triển của công nghệ tài chính (fintech).

Tuy nhiên, các tranh luận học thuật về vai trò của chuyển đổi số và phát triển tài chính đối với tăng trưởng vẫn tồn tại những khoảng trống rõ rệt:

  • Thứ nhất, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây khẳng định tác động tích cực của công nghệ số nhưng chưa xem xét đầy đủ khía cạnh độ trễ thời gian và sự khác biệt về mức độ tác động giữa các nhóm quốc gia có trình độ phát triển không đồng đều (Park & Choi, 2019).
  • Thứ hai, mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ghi nhận nhiều kết quả trái chiều; đặc biệt sau các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhiều bằng chứng chỉ ra sự phát triển quá mức hoặc mất cân đối của hệ thống tín dụng có thể tạo ra tác động tiêu cực đối với nền kinh tế thực (Cheng và cộng sự, 2020; Rousseau & Wachtel, 2011).
  • Thứ ba, cơ chế tương tác kết hợp giữa chuyển đổi số và phát triển tài chính chưa được kiểm chứng đầy đủ tại khu vực châu Á nhằm làm rõ liệu chuyển đổi số có khả năng điều tiết, bù đắp các hệ quả tiêu cực của phát triển tài chính hay không.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá tác động của chuyển đổi số, phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á. Từ đó, đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số hiệu quả, hướng đến phát triển kinh tế số tại các quốc gia châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá tác động của chuyển đổi số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á và xem xét sự khác nhau về mức độ tác động giữa các quốc gia phát triển, các quốc gia đang phát triển và các quốc gia mới nổi tại châu lục này.
    2. Đánh giá tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á trong điều kiện bình thường và trong điều kiện chuyển đổi số.
    3. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất một số hàm ý chính sách cho các quốc gia châu Á trong tận dụng lợi ích từ chuyển đổi số để phát triển tài chính hướng đến tăng trưởng kinh tế.

Luận án xây dựng và trả lời 5 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Mức độ ảnh hưởng của chuyển đổi số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á như thế nào?
  2. Mức độ ảnh hưởng của chuyển đổi số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á có sự khác biệt giữa các phân nhóm quốc gia hay không?
  3. Mức độ tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á như thế nào?
  4. Mức độ tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á trong điều kiện chuyển đổi số như thế nào?
  5. Các hàm ý chính sách nào cho các quốc gia châu Á trong tiếp nhận, thu nạp lợi ích từ chuyển đổi số để phát triển tài chính hướng đến tăng trưởng kinh tế?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của chuyển đổi số đến tăng trưởng kinh tế và vai trò của phát triển tài chính trong mối quan hệ này tại các quốc gia châu Á.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thu thập dữ liệu tại 30 quốc gia châu Á (đại diện 60% tổng số 50 quốc gia trong khu vực theo phân loại của Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB). Mẫu nghiên cứu được phân nhóm theo tiêu chí của Niebel (2018) gồm: 19 quốc gia đang phát triển (bao gồm Việt Nam), 4 quốc gia mới nổi và 7 quốc gia phát triển.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2004–2019, bao hàm toàn bộ chu kỳ kinh tế từ trước khủng hoảng tài chính, trong khủng hoảng và phục hồi hậu khủng hoảng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng hợp hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh hai trục nội dung chính: mối quan hệ giữa công nghệ thông tin/chuyển đổi số với tăng trưởng kinh tế, và mối quan hệ giữa phát triển tài chính với tăng trưởng kinh tế.

Đối với mối quan hệ giữa công nghệ, chuyển đổi số và tăng trưởng kinh tế, các công trình quốc tế được tác giả điểm lại bao gồm:

  • Dutta (2001) kiểm định quan hệ nhân quả Granger trên chuỗi thời gian của 30 quốc gia (15 quốc gia công nghiệp hóa và 15 quốc gia đang phát triển) giai đoạn 1970–1993, phát hiện quan hệ nhân quả một chiều từ hạ tầng viễn thông đến tăng trưởng kinh tế thể hiện rõ nét hơn ở các nước công nghiệp hóa.
  • Veeramacheneni và cộng sự (2007) sử dụng kỹ thuật đồng liên kết và kiểm định Granger cho 10 quốc gia Mỹ Latinh giai đoạn 1975–2003, chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa ICT và tăng trưởng ở 2/3 số quốc gia quan sát.
  • Shiu và Lam (2008) phân tích mô hình bảng động tại 105 quốc gia giai đoạn 1980–2006, ghi nhận quan hệ nhân quả hai chiều tại các nước thu nhập cao thuộc châu Âu, trong khi ở các nước thu nhập thấp hơn quan hệ chủ yếu đi một chiều từ tăng trưởng sang viễn thông.
  • Qiang và Rossotto (2009) nghiên cứu 120 quốc gia giai đoạn 1980–2006, tìm thấy việc tăng 10% tỷ lệ áp dụng ICT mang lại 0,81% tăng trưởng GDP ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình.
  • Yousefi (2011) sử dụng mô hình hồi quy GMM và Fixed Effects trên mẫu 42 quốc gia giai đoạn 1993–2001, chỉ ra đầu tư công nghệ chỉ đóng góp tích cực vào tăng trưởng ở nhóm quốc gia phát triển.
  • Sassi (2013) tại 17 quốc gia Trung Đông và Bắc Phi (MENA) giai đoạn 1960–2009, khẳng định tác động tích cực của số thuê bao di động, tỷ lệ người dùng Internet và băng thông rộng đến tăng trưởng.
  • Sabbagh và cộng sự (2013) chứng minh gia tăng 10% chỉ số số hóa giúp thúc đẩy tăng trưởng GDP bình quân đầu người, nhưng tác động phân hóa theo nhóm quốc gia.
  • Mićić (2017) khảo sát các nước châu Âu và Tây Balkan, ghi nhận đầu tư chuyển đổi số ở khu vực công và tư đều tác động tích cực đến năng suất và GDP.
  • Niebel (2018) phân tích mẫu 59 quốc gia giai đoạn 1995–2010 bằng các phương pháp OLS, FE, RE; kết quả khẳng định tác động tích cực của ICT nhưng không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm nước đang phát triển, mới nổi và phát triển, do đó không ủng hộ giả thuyết "đi tắt đón đầu" (leapfrogging).
  • Pradhan và cộng sự (2018) nghiên cứu nhóm G20 giai đoạn 2001–2012; Saidi và Mongi (2018) tại các nước thu nhập cao; Bahrini và Qaffas (2019) tại khu vực MENA giai đoạn 2007–2016 bằng phương pháp GMM; Solomon và Klyton (2020) nghiên cứu 39 quốc gia châu Phi giai đoạn 2012–2016; Habibi và Zabardast (2020) so sánh giữa Trung Đông và OECD giai đoạn 2000–2017; Myovella và cộng sự (2020) so sánh 41 quốc gia châu Phi cận Sahara (SSA) với 33 quốc gia OECD bằng GMM; David và Grobler (2020) tại châu Phi.
  • Tại Việt Nam, tác giả điểm lại các nghiên cứu của: Vũ Minh Khương (2019) về dự báo tác động chuyển đổi số của 500 doanh nghiệp lớn nhất (VN500); Đặng Thị Việt Đức (2019) về đóng góp của ngành ICT vào GDP; Chu Văn Huy (2020) về chuyển đổi số doanh nghiệp trong bối cảnh Covid-19; Hà Thành Công (2021) áp dụng GMM cho bộ dữ liệu 63 tỉnh thành Việt Nam giai đoạn 2009–2019.

Đối với mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế:

  • Quan điểm tích cực được kế thừa từ Schumpeter (1911), Gurley và Shaw (1955), Goldsmith (1969), Hicks (1969), King và Levine (1993), Levine (1991, 1997, 2005), Dilek (2017).
  • Quan điểm về mối quan hệ nhân quả hai chiều hoặc nội sinh được thể hiện qua Robinson (1979), Toda và cộng sự (2009), Shahbaz và cộng sự (2013), Ibrahim và Alagidede (2018), Pradhan và cộng sự (2018).
  • Quan điểm về tác động tiêu cực, phi tuyến tính hoặc suy giảm hiệu quả sau khủng hoảng: Lucas (1988), Modigliani và Miller (1958), Morck và Nakamura (1999), Rioja và Valev (2004), Rousseau và Wachtel (2011), Cecchetti và Kharroubi (2012) với mô hình chữ U ngược (tác động chuyển sang âm khi tín dụng vượt ngưỡng hoặc tỷ trọng lao động tài chính trên 3,5%), Pagano và cộng sự (2012), Cournede và cộng sự (2015) với ngưỡng 90% GDP, Slesman và cộng sự (2015), và Cheng và cộng sự (2020) với hồi quy GMM trên mẫu 72 quốc gia giai đoạn 2000–2015 khẳng định tác động tiêu cực của phát triển tài chính đến tăng trưởng.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Đa phần các nghiên cứu trước đây phân tích độc lập tác động của ICT/chuyển đổi số hoặc tác động của phát triển tài chính tới tăng trưởng. Luận án đặt cả hai nhân tố này vào cùng một khung nghiên cứu tổng thể tại 30 quốc gia châu Á, phân loại mẫu chi tiết theo ba cấp độ phát triển kinh tế (phát triển, mới nổi, đang phát triển) và đưa vào biến tương tác giữa chuyển đổi số với phát triển tài chính để kiểm định giả thuyết bù đắp rủi ro và điều tiết tác động tiêu cực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng ba lý thuyết kinh tế nền tảng để xây dựng khung phân tích:

  1. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes (1936): Cho thấy nền kinh tế có thể thiết lập trạng thái cân bằng dưới mức sản lượng tiềm năng ($Y_0 < Y^*$). Mức tiêu dùng tăng chậm hơn mức tăng thu nhập do xu hướng tiết kiệm cận biên tăng, dẫn đến hiện tượng thiếu hụt tổng cầu hữu hiệu. Đầu tư đóng vai trò then chốt thông qua cơ chế số nhân: $$K = \frac{dR}{dI} = \frac{1}{1 - \frac{dC}{dR}}$$ Đồng thời, hiệu quả giới hạn của tư bản có xu hướng giảm sút khi quy mô vốn tích lũy tăng lên. Khung lý thuyết này là cơ sở để luận án đưa các biến vốn đầu tư, chi tiêu và biến tài chính liên quan đến đầu tư - lãi suất vào mô hình tăng trưởng.
  2. Lý thuyết thay đổi công nghệ của Solow (1957): Xuất phát từ hàm sản xuất mở rộng tích hợp công nghệ nâng cao hiệu quả lao động: $$Y = F(K, T \times L)$$ Trong đó $T$ biểu thị tiến bộ công nghệ, $T \times L$ là giá trị lao động hiệu dụng. Solow chứng minh rằng chỉ có sự thay đổi và tiến bộ công nghệ mới có thể giải thích sự gia tăng bền vững của sản lượng trên mỗi lao động và mức sống trong dài hạn. Lý thuyết này được bổ sung bởi các nghiên cứu tăng trưởng nội sinh của Barro (1991), Grossman và cộng sự (1991), Oliner (1994).
  3. Lý thuyết bắt kịp công nghệ của Lucas (1988): Giải thích cơ chế các quốc gia đi sau tiếp thu công nghệ thông qua đầu tư và thương mại theo hàm tăng trưởng có suất sinh lợi giảm dần: $$g = \mu \left( \frac{\bar{y}}{y} \right)^\theta, \quad 0 < \mu < 1$$ Trong đó $\bar{y}$ là thu nhập bình quân ở mức cận biên, $y$ là thu nhập của nước đi sau, $\theta$ là hệ số lan tỏa công nghệ. Lý thuyết đặt nền móng cho việc kiểm định khả năng hội tụ hoặc phân hóa tác động của công nghệ số giữa các nhóm quốc gia.

Về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, luận án áp dụng kinh tế lượng định lượng cho dữ liệu bảng (panel data). Quy trình ước lượng bao gồm:

  • Phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS), phương pháp tác động cố định (FE) và phương pháp tác động ngẫu nhiên (RE).
  • Khi mô hình có biến phụ thuộc trễ và biến nội sinh, các phương pháp FE và RE gặp phải hiện tượng nội sinh, tự tương quan và phương sai sai số thay đổi. Do đó, luận án sử dụng phương pháp mô men tổng quát sai phân (DGMM) của Arellano và Bond (1991) và phương pháp mô men tổng quát hệ thống (SGMM) của Blundell và Bond (1998).
  • Nhằm khắc phục hiện tượng sai số chuẩn bị ước lượng thấp trong mẫu hữu hạn dẫn đến sai lệch mức ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy (Windmeijer, 2005), luận án thực hiện kỹ thuật ước lượng GMM hệ thống có hiệu chỉnh theo Windmeijer (2005).

Hệ thống biến số và nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập cho 30 quốc gia châu Á giai đoạn 2004–2019 từ Chỉ số Phát triển Thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và ADB.

Tên biến Ký hiệu Đo lường / Diễn giải Nguồn
Tăng trưởng kinh tế GDP / GDP per capita GDP bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế WDI
Chuyển đổi số (Di động) Mobile Số đăng ký di động trên 100 người WDI
Chuyển đổi số (Internet) Internet Tỷ lệ người dùng Internet cá nhân (% dân số) WDI
Chuyển đổi số (Băng thông rộng) Broadband Số đăng ký băng thông rộng trên 100 người WDI
Phát triển tài chính (Tín dụng) mc Tỷ số giữa dư nợ tín dụng khu vực tư nhân so với GDP WDI / IMF
Phát triển tài chính (Cung tiền) br Tỷ số giữa cung tiền M2 so với GDP WDI / IMF
Biến kiểm soát vĩ mô Controls Đầu tư (vốn), lực lượng lao động, độ mở thương mại, lạm phát WDI

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương 1 thiết lập tổng thể nghiên cứu bằng việc nêu bật bối cảnh bùng nổ chuyển đổi số toàn cầu và sự dẫn dắt của các doanh nghiệp số châu Á (Alibaba, Tencent, Baidu, Gojek). Tác giả xác định 3 khoảng trống nghiên cứu chính về tính không đồng đều của tác động số hóa, tranh luận tác động tiêu cực của phát triển tài chính và cơ chế điều tiết thông qua biến tương tác. Trên cơ sở đó, luận án xác định 1 mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, 5 câu hỏi nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu tại 30 quốc gia châu Á (19 quốc gia đang phát triển, 4 quốc gia mới nổi, 7 quốc gia phát triển) trong giai đoạn 2004–2019. Chương này cũng phác thảo phương pháp nghiên cứu dựa trên ước lượng GMM hệ thống và nêu rõ kết cấu 5 chương của toàn bộ luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan

Chương 2 làm rõ các khái niệm cốt lõi: chuyển đổi số (tích hợp công nghệ số vào sản xuất, chia sẻ thông tin theo Micic, 2017; Demirkan và cộng sự, 2016; Hess và cộng sự, 2016); tăng trưởng kinh tế (Samuelson & Nordhaus, 1985); phát triển tài chính và khung đo lường 4x2 của World Bank (2012) gồm 4 chiều (chiều sâu, khả năng tiếp cận, hiệu quả, tính ổn định) trên 2 thành phần (định chế tài chính và thị trường tài chính).

Chương này trình bày chi tiết ba trụ cột lý thuyết: lý thuyết tăng trưởng Keynes (1936), lý thuyết tiến bộ công nghệ Solow (1957) và lý thuyết bắt kịp công nghệ Lucas (1988). Tiếp đó, tác giả hệ thống hóa 5 cơ chế lý thuyết mà phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng (phân bổ vốn, đa dạng hóa giảm rủi ro, tăng thanh khoản, thúc đẩy chuyên môn hóa khởi nghiệp, giám sát quản trị công ty theo Dilek, 2017); đồng thời phân tích các lý thuyết về mối quan hệ nhân quả hai chiều (Robinson, 1979) và tác động tiêu cực/phi tuyến tính (Cecchetti & Kharroubi, 2012; Cournede và cộng sự, 2015). Phần tổng quan tài liệu điểm lại hàng chục công trình thực nghiệm quốc tế và trong nước, tạo cơ sở hoàn thiện Bảng 2.1, Bảng 2.2 và Bảng 2.3 trong luận án.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 xây dựng thiết kế nghiên cứu thực nghiệm và đặc tả các mô hình kinh tế lượng. Tác giả thiết lập hệ thống các phương trình hồi quy từ dạng hàm tổng quát đến các mô hình cụ thể:

  • Mô hình đánh giá tác động của chuyển đổi số đến tăng trưởng kinh tế: kiểm định tác động riêng rẽ và tổng hợp của các biến di động, Internet, băng thông rộng, kết hợp biến tương tác giữa chuyển đổi số với các biến giả phân nhóm quốc gia (phát triển, mới nổi, đang phát triển theo Niebel, 2018).
  • Mô hình đánh giá tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế: sử dụng hai biến đại diện là dư nợ tín dụng trên GDP (mc) và cung tiền M2 trên GDP (br).
  • Mô hình kết hợp tác động của chuyển đổi số, phát triển tài chính và biến tương tác giữa chuyển đổi số với phát triển tài chính (Digital * mc và Digital * br) đến tăng trưởng kinh tế.

Chương này trình bày Bảng 3.1 phân loại 30 quốc gia và Bảng 3.2 tổng hợp các biến nghiên cứu, mô tả quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp từ WDI, IMF, ADB. Về kỹ thuật xử lý, tác giả mô tả chi tiết phương pháp ước lượng FE, RE, kiểm định Hausman, kiểm định tự tương quan Arellano-Bond (AR(1), AR(2)), kiểm định biến công cụ Hansen/Sargan, và quy trình hiệu chỉnh sai số chuẩn mẫu hữu hạn theo Windmeijer (2005) trong mô hình SGMM hai bước.

Nhóm quốc gia theo Niebel (2018) Số lượng Danh sách đại diện các quốc gia trong mẫu
Quốc gia đang phát triển 19 Việt Nam, Campuchia, Lào, Mông Cổ, Bangladesh, Nepal, Pakistan, Sri Lanka...
Quốc gia mới nổi 4 Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan
Quốc gia phát triển 7 Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Israel, Síp...

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Chương 4 báo cáo kết quả tính toán định lượng trên phần mềm kinh tế lượng. Mở đầu là kết quả thống kê mô tả (Bảng 4.1), chi tiết các giá trị bình quân của GDP bình quân đầu người, số thuê bao di động, tỷ lệ người dùng Internet, số thuê bao băng thông rộng, tỷ số dư nợ tín dụng/GDP (mc) và tỷ số M2/GDP (br) tại 30 quốc gia giai đoạn 2004–2019 (Bảng 4.2 đến Bảng 4.7). Ma trận hệ số tương quan (Bảng 4.8) và kiểm định hệ số phóng đại phương sai VIF (Bảng 4.9) xác nhận không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các biến độc lập.

Tiếp đó, chương trình bày kết quả ước lượng từ Bảng 4.10 đến Bảng 4.20:

  • Ước lượng tác động của chuyển đổi số (Mô hình 3, 4, 5): Kết quả hồi quy SGMM khẳng định các chỉ số chuyển đổi số (di động, Internet, băng thông rộng) đều có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi đưa vào biến tương tác nhóm quốc gia, hệ số tác động tại các nước đang phát triển và mới nổi thấp hơn rõ rệt so với các nước phát triển. Kiểm định Arellano-Bond cho thấy có tự tương quan bậc một AR(1) nhưng không có tự tương quan bậc hai AR(2); kiểm định Hansen xác nhận tính hợp lệ của các biến công cụ.
  • Ước lượng tác động của phát triển tài chính và mô hình tương tác (Mô hình 6, 7 với biến mc và br): Kết quả ước lượng chỉ ra hệ số của biến phát triển tài chính (mc và br) mang dấu âm có ý nghĩa thống kê, chứng minh phát triển tài chính tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế tại 30 quốc gia châu Á trong mẫu.
  • Kết quả ước lượng biến tương tác giữa chuyển đổi số và phát triển tài chính mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê. Điều này chứng minh rằng khi mức độ chuyển đổi số gia tăng, nó tạo ra cơ chế hạn chế và bù đắp tác động tiêu cực của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế. Hiệu chỉnh Windmeijer (2005) khẳng định các hệ số hồi quy duy trì độ tin cậy và ý nghĩa thống kê vững.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 đúc kết các kết luận thực nghiệm chính từ Chương 4 và đề xuất hệ thống hàm ý chính sách cho các quốc gia châu Á. Tác giả liên hệ trực tiếp với thực trạng chuyển đổi số tại Việt Nam; phân tích những hạn chế nội tại của luận án về dữ liệu, phạm vi đo lường và định hướng các nghiên cứu mở rộng trong tương lai.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ ra các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và đóng góp mới cụ thể:

Về mặt lý luận và học thuật:

  • Cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm củng cố lý thuyết tiến bộ công nghệ Solow (1957) và lý thuyết bắt kịp công nghệ Lucas (1988) trong bối cảnh nền kinh tế số tại châu Á giai đoạn 2004–2019.
  • Bác bỏ quan điểm cho rằng các quốc gia đang phát triển và mới nổi có thể dễ dàng tận dụng chuyển đổi số để "đi tắt đón đầu" đạt tốc độ tăng trưởng vượt trội. Kết quả nghiên cứu chứng minh tác động của chuyển đổi số đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển và mới nổi thấp hơn so với các quốc gia phát triển, khẳng định lập luận của Park và Choi (2019). Quá trình chuyển đổi số đòi hỏi phải có thời gian tích lũy, hạ tầng đồng bộ và nguồn nhân lực tương thích mới phát huy tối đa hiệu quả.
  • Đóng góp phát hiện mới về cơ chế tương tác: Luận án xác nhận phát triển tài chính (đo lường bằng tỷ lệ tín dụng/GDP và M2/GDP) có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế tại các nước châu Á, phù hợp với cảnh báo của Cheng và cộng sự (2020) và Cecchetti và Kharroubi (2012) về rủi ro phát triển nóng của hệ thống tín dụng. Tuy nhiên, luận án chứng minh chuyển đổi số có vai trò điều tiết mang tính bù đắp: sự gia tăng chuyển đổi số giúp giảm bất đối xứng thông tin, cắt giảm chi phí giao dịch và do đó hạn chế tác động tiêu cực của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế.

Về mặt thực tiễn và chính sách đề xuất:

  • Các quốc gia châu Á cần đẩy mạnh quá trình số hóa đồng bộ trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, giao thông, giáo dục và y tế.
  • Tập trung phát triển kinh tế số với trọng tâm là mở rộng thị trường thương mại điện tử, hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng mạng băng thông rộng và gia tăng tỷ lệ tiếp cận Internet cho toàn dân.
  • Thiết lập cơ chế chính sách thông thoáng nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ số và ứng dụng các giải pháp tự động hóa.
  • Đối với khu vực tài chính, các nhà hoạch định chính sách cần kiểm soát chặt chẽ quy mô và tốc độ tăng trưởng của thị trường tín dụng nhằm tránh hiện tượng tăng trưởng quá nóng, kiểm soát nợ xấu và hạn chế cạnh tranh không lành mạnh, hướng đến phát triển bền vững.
  • Đối với Việt Nam: Cần thực hiện chuyển đổi số có kế hoạch và lộ trình bài bản, tránh tâm lý chủ quan về việc "đi tắt đón đầu"; kết hợp số hóa dịch vụ ngân hàng với nâng cao năng lực giám sát an toàn tài chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung luận án công bố, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo được ghi nhận:

  • Hạn chế về mẫu nghiên cứu: Do tính sẵn có của dữ liệu thống kê tại một số quốc gia châu Á không đồng đều, luận án chỉ khảo sát 30 trên tổng số 50 quốc gia trong khu vực (đạt tỷ lệ 60%). Dù đảm bảo tính đại diện, việc thiếu vắng dữ liệu của 20 quốc gia còn lại vẫn tạo ra giới hạn nhất định.
  • Hạn chế về phạm vi thời gian: Chuỗi số liệu kết thúc ở năm 2019, chưa bao hàm giai đoạn biến động mạnh mẽ của kinh tế toàn cầu và sự bùng nổ vượt bậc của chuyển đổi số dưới tác động của đại dịch Covid-19 (từ năm 2020 trở đi).
  • Hạn chế về chỉ tiêu đo lường: Chuyển đổi số trong nghiên cứu được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ mức độ tiếp cận/chấp nhận công nghệ của người dân qua 3 chỉ số truyền thông (di động, Internet, băng thông rộng), chưa bao quát được toàn diện các chiều kích công nghệ mới như AI, điện toán đám mây hay thể chế số; phát triển tài chính chủ yếu dựa vào chiều sâu ngân hàng (tín dụng và M2), chưa phản ánh trọn vẹn sự phát triển của thị trường cổ phiếu và trái phiếu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi thời gian sau năm 2019 nhằm đánh giá biến động trong và sau đại dịch Covid-19; bổ sung các biến đại diện cho chất lượng thể chế, thị trường vốn và các chỉ số đo lường kinh tế số đa chiều.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Kinh tế học: Luận án là tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình xây dựng mô hình dữ liệu bảng động, xử lý hiện tượng nội sinh bằng phương pháp SGMM và kỹ thuật hiệu chỉnh sai số chuẩn mẫu hữu hạn theo Windmeijer (2005).
  • Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu: Luận án cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu phong phú, tổng hợp có hệ thống các lý thuyết kinh tế kinh điển (Keynes, Solow, Lucas) và các tranh luận thực nghiệm đương đại về mối quan hệ giữa tài chính, số hóa và tăng trưởng.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế và cơ quan quản lý tiền tệ/ngân hàng: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khách quan để cân nhắc giữa việc mở rộng tín dụng và kiểm soát an toàn vĩ mô, đồng thời gợi mở việc ứng dụng chuyển đổi số như một công cụ hỗ trợ lành mạnh hóa hệ thống tài chính.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án lựa chọn mẫu nghiên cứu gồm bao nhiêu quốc gia và tiêu chí phân nhóm cụ thể là gì? Luận án khảo sát mẫu gồm 30 quốc gia châu Á (chiếm 60% tổng số quốc gia châu lục theo ADB) trong giai đoạn 2004–2019 dựa trên tính sẵn có của dữ liệu. Mẫu được phân loại theo tiêu chí của Niebel (2018) thành 3 nhóm: 19 quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam), 4 quốc gia mới nổi (Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan) và 7 quốc gia phát triển.

  2. Chuyển đổi số và phát triển tài chính được lượng hóa bằng những biến số cụ thể nào trong mô hình? Chuyển đổi số được đo lường dưới góc độ chấp nhận công nghệ của người dân thông qua 3 biến: Số đăng ký di động trên 100 người, Tỷ lệ người dùng Internet cá nhân (% dân số) và Số đăng ký băng thông rộng trên 100 người. Phát triển tài chính được đo lường qua chiều sâu tài chính bằng 2 biến: Tỷ số giữa dư nợ tín dụng so với GDP (mc) và Tỷ số giữa cung tiền M2 so với GDP (br).

  3. Kết quả kiểm định giả thuyết "đi tắt đón đầu" trong chuyển đổi số tại các quốc gia đang phát triển và mới nổi như thế nào? Kết quả nghiên cứu không ủng hộ quan điểm "đi tắt đón đầu". Ước lượng thực nghiệm chỉ ra rằng tác động của chuyển đổi số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển và mới nổi thấp hơn so với tác động tại các quốc gia phát triển. Điều này hàm ý việc ứng dụng công nghệ số đòi hỏi phải có nền tảng hạ tầng, kỹ năng lao động và lộ trình bài bản chứ không thể tạo ra bước nhảy vọt tức thời.

  4. Phát hiện của luận án về tác động của phát triển tài chính và biến tương tác với chuyển đổi số là gì? Phát triển tài chính có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á trong giai đoạn 2004–2019. Tuy nhiên, biến tương tác giữa chuyển đổi số và phát triển tài chính có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Điều này chứng minh rằng việc đẩy mạnh chuyển đổi số đóng vai trò bù đắp, giúp hạn chế tác động tiêu cực phát sinh từ việc phát triển quá nóng hoặc kém hiệu quả của thị trường tín dụng.

  5. Vì sao luận án áp dụng phương pháp SGMM có hiệu chỉnh theo Windmeijer (2005)? Do giai đoạn nghiên cứu (2004–2019) có độ dài thời gian không quá lớn và dữ liệu vĩ mô có tương quan cao giữa giá trị hiện tại với quá khứ, phương pháp ước lượng GMM sai phân (DGMM) dễ gặp vấn đề biến công cụ yếu. Do đó, GMM hệ thống (SGMM) được lựa chọn. Luận án áp dụng thêm hiệu chỉnh mẫu hữu hạn theo Windmeijer (2005) vì phương pháp SGMM 2 bước tiêu chuẩn thường ước lượng sai số chuẩn nhỏ hơn thực tế, dễ dẫn đến kết luận sai lệch về ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thị Tuyết Ngân là công trình nghiên cứu kinh tế lượng định lượng có hệ thống về mối quan hệ giữa chuyển đổi số, phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế tại 30 quốc gia châu Á giai đoạn 2004–2019. Thông qua phương pháp GMM hệ thống có hiệu chỉnh Windmeijer (2005), tác giả đã chứng minh chuyển đổi số có tác động tích cực đến tăng trưởng nhưng mức độ hiệu quả phân hóa tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Đồng thời, nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò của chuyển đổi số trong việc kiểm soát và bù đắp các tác động tiêu cực từ thị trường tín dụng, cung cấp căn cứ thực nghiệm xác đáng cho quá trình hoạch định chính sách kinh tế số và quản lý tài chính tại châu Á cũng như Việt Nam.