Tổng quan nghiên cứu

Xã Cổ Thành thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương vốn là địa phương có nền kinh tế thuần nông với mức thu nhập bình quân của người dân chỉ đạt khoảng 6 đến 7 triệu đồng mỗi tháng. Trong bối cảnh diện tích đất canh tác thu hẹp và hiệu quả kinh tế nông nghiệp giảm dần, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã trở thành một định hướng trọng tâm nhằm giải quyết việc làm và nâng cao đời sống. Theo số liệu thống kê trong giai đoạn 2015 – 2019, toàn xã Cổ Thành ghi nhận 791 lượt người tham gia xuất khẩu lao động, trung bình mỗi năm có khoảng 100 lao động xuất cảnh. Đáng chú ý, có tới 76,2% lực lượng lao động địa phương lựa chọn làm việc tại 3 thị trường trọng điểm gồm Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan.

Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng triển khai 3 chính sách xuất khẩu lao động của Nhà nước tại 9 trên 13 thôn có mật độ người xuất cảnh cao nhất của xã Cổ Thành trong mốc thời gian từ năm 2015 đến năm 2019. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là đánh giá toàn diện 3 tác động tích cực nổi bật cùng 6 tác động chưa tích cực đối với đời sống kinh tế và trật tự xã hội tại địa phương. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp hệ thống luận cứ xác thực, đo lường mức tăng thu nhập bình quân từ 2,5 đến 5 lần của các hộ gia đình, đồng thời nhận diện các rủi ro xã hội tiềm ẩn để đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết chính sách công theo quan điểm của Thomas Dye và James Anderson, kết hợp cùng định nghĩa của tác giả Vũ Cao Đàm về chính sách như một tập hợp các biện pháp được thể chế hóa nhằm tạo ưu đãi cho một hoặc một số nhóm xã hội cụ thể. Khung phân tích cấu trúc chính sách được thiết lập dựa trên mô hình 4 tầng gồm: triết lý chính sách, hệ quan điểm, hệ chuẩn mực và hệ khái niệm. Mô hình này cho phép xem xét hoạt động xuất khẩu lao động từ mục tiêu vĩ mô của Nhà nước đến hành vi vi mô của người dân nông thôn.

Bên cạnh đó, Tháp nhu cầu Maslow công bố năm 1943 được tích hợp để lý giải động cơ chuyển dịch lao động từ việc đáp ứng nhu cầu thể lý sang nhu cầu tích lũy tài chính và khẳng định vị thế cá nhân. Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: chính sách xuất khẩu lao động, thị trường sức lao động, di cư lao động theo khung chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và tác động ngoại biên của chính sách. Các khái niệm này tạo cơ sở khoa học để luận giải sự tương tác giữa hệ thống văn bản pháp lý như Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 72/2006/QH11, Nghị định số 126/2007/NĐ-CP, Nghị định số 61/2015/NĐ-CP với đời sống kinh tế địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp của đề tài được thu thập qua cuộc điều tra xã hội học với cỡ mẫu 550 trên tổng số 791 lao động xuất khẩu tại xã Cổ Thành, đạt tỷ lệ đại diện 69,5%. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu theo khối dựa trên danh sách tổng thể các thôn, từ đó lựa chọn 9/13 thôn có số lượng người xuất cảnh nhiều nhất gồm An Ninh, Cổ Châu, Đồng Tâm, Nam Đoài, Nam Đông, Phao Tân, Thành Lập, Thông Lộc và Tu Ninh. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 4 cán bộ quản lý gồm 01 chuyên viên phụ trách việc làm thuộc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Chí Linh, 01 đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Cổ Thành và 02 đại diện doanh nghiệp phái cử nhân lực.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội định kỳ giai đoạn 2015 - 2019 của Ủy ban nhân dân thị xã Chí Linh và tỉnh Hải Dương. Tác giả kết hợp phương pháp phân tích so sánh trước - sau (before-and-after analysis) cùng phương pháp thống kê mô tả. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác biến động về thu nhập, việc làm và tài sản của hộ gia đình, đồng thời đối chiếu sự khác biệt giữa mục tiêu chính sách đề ra với thực tế đời sống cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 3 tác động tích cực vượt trội và 6 tác động chưa tích cực đối với địa phương:

Thứ nhất, về mặt kinh tế, xuất khẩu lao động mang lại bước nhảy vọt về thu nhập cho các hộ gia đình. Mức lương hàng tháng của người lao động tại thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc đạt từ 25 đến 35 triệu đồng, tại Đài Loan đạt từ 15 đến 25 triệu đồng. Mức thu nhập này cao hơn từ 300% đến 500% so với mức thu nhập 6 đến 7 triệu đồng khi lao động trong nước. Nguồn kiều hối gửi về giúp 100% số hộ khảo sát xây dựng lại nhà ở khang trang từ 2 đến 3 tầng và mua sắm đầy đủ tiện nghi sinh hoạt hiện đại.

Thứ hai, về mặt tạo việc làm, chính sách đã giải quyết việc làm cho hơn 100 lao động mỗi năm, trong đó 76,2% tập trung vào các thị trường thu nhập cao, giúp người lao động tiếp cận tác phong công nghiệp chuyên nghiệp.

Thứ ba, về các tác động chưa tích cực, chi phí xuất cảnh ban đầu từ 100 đến trên 200 triệu đồng buộc hơn 80% hộ gia đình phải vay nợ ngân hàng, gây nguy cơ khủng hoảng tài chính nếu gặp rủi ro hợp đồng. Đồng thời, việc chuyển dịch 791 lao động trẻ làm phát sinh tình trạng thiếu hụt nhân lực nông nghiệp tại chỗ, đẩy tỷ lệ người già tham gia đồng áng lên cao. Ngoài ra, thời gian thất nghiệp sau khi về nước kéo dài từ 6 đến 12 tháng do không tìm được việc làm phù hợp, trong khi khoảng cách xa gia đình từ 3 đến 5 năm khiến các xung đột hôn nhân và nguy cơ ly hôn gia tăng rõ rệt.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các tác động chưa tích cực xuất phát từ việc quy trình quản lý hiện nay chủ yếu tập trung vào khâu tuyển chọn phái cử mà chưa chú trọng giai đoạn tái hòa nhập kinh tế và quản trị rủi ro sau hồi hương. So sánh với các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Minh (năm 2014) về di cư lao động nông thôn và nghiên cứu của tác giả Đoàn Hồng Đức (năm 2013) về giải quyết việc làm sau xuất khẩu tại Chí Linh, phát hiện của luận văn đã bổ sung bức tranh chi tiết về sự suy giảm gắn kết gia đình và biến động cấu trúc dân số nông thôn.

Dữ liệu khảo sát thực tế có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch thu nhập gấp 4 đến 5 lần giữa các thị trường lao động, cùng bảng tương quan thể hiện chi phí đầu tư 100 đến 200 triệu đồng với thời gian hoàn vốn bình quân từ 12 đến 18 tháng. Ý nghĩa thực tiễn của phát hiện này khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng các chính sách an sinh xã hội song hành với mục tiêu tăng trưởng kinh tế thuần túy.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa hiệu quả và giảm thiểu rủi ro của chính sách xuất khẩu lao động, luận văn đưa ra 4 khuyến nghị hành động cụ thể:

Thứ nhất, kiện toàn mạng lưới tư vấn cộng đồng và hỗ trợ pháp lý cấp cơ sở do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phối hợp cùng Đoàn Thanh niên xã Cổ Thành thực hiện. Mục tiêu trong giai đoạn 2021 – 2022 là tổ chức định kỳ 12 buổi phổ biến thông tin mỗi năm, công khai các khoản chi phí từ 100 đến 200 triệu đồng và quy định pháp luật sở tại, phấn đấu hạ tỷ lệ vi phạm cư trú bất hợp pháp xuống dưới 1,5%.

Thứ hai, thiết lập hệ thống kết nối việc làm và sàn giao dịch nghề nghiệp cho lao động hồi hương do Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Chí Linh chủ trì liên kết với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương. Mục tiêu giai đoạn 2021 – 2023 là rút ngắn thời gian thất nghiệp sau khi về nước từ 6 - 12 tháng xuống dưới 3 tháng cho tối thiểu 85% lao động.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tín dụng ưu đãi theo Nghị định số 74/2019/NĐ-CP và Quyết định số 27/2019/QĐ-TTg thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội. Đơn vị cần nâng hạn mức vay vốn lên mức 50 đến 100 triệu đồng cho 100% hộ cận nghèo và gia đình chính sách tham gia xuất cảnh trước năm 2023 nhằm xóa bỏ hoàn toàn tình trạng vay nặng lãi.

Thứ tư, triển khai mô hình hỗ trợ tâm lý và chăm sóc đối tượng yếu thế do Hội Liên hiệp Phụ nữ xã chủ đạo. Đơn vị cần thành lập 9 câu lạc bộ gia đình tại 9 thôn khảo sát trong năm 2022 nhằm tư vấn kỹ năng quản lý tài chính kiều hối, giảm thiểu trên 50% các mâu thuẫn hôn nhân và bảo vệ quyền lợi cho trẻ em có cha mẹ đi làm việc ở nước ngoài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các cơ quan hoạch định chính sách và cán bộ quản lý Nhà nước thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng chính quyền các cấp. Nguồn dữ liệu thực nghiệm từ 550 phiếu khảo sát là căn cứ xác đáng để địa phương xây dựng chiến lược việc làm và giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2021 – 2025.

Thứ hai, các doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động và cơ sở đào tạo nghề. Tài liệu cung cấp góc nhìn sâu sắc về nhu cầu của hơn 76% lao động nông thôn, giúp doanh nghiệp hoàn thiện chương trình đào tạo định hướng từ 3 đến 6 tháng về kỹ năng, ngoại ngữ và pháp luật.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Khoa học Quản lý, Chính sách công, Xã hội học và Kinh tế lao động. Đề tài đóng vai trò là một tài liệu tham khảo tiêu biểu về phương pháp luận đánh giá chính sách và cách tiếp cận đa chiều về di cư lao động.

Thứ tư, người lao động và các hộ gia đình nông thôn đang có dự định xuất cảnh. Nghiên cứu giúp người dân tính toán bài toán tài chính giữa mức đầu tư 100 - 200 triệu đồng với mức thu nhập kỳ vọng từ 15 - 35 triệu đồng mỗi tháng, từ đó chủ động chuẩn bị các biện pháp phòng ngừa rủi ro hôn nhân và tài chính.

Câu hỏi thường gặp

Mức thu nhập từ xuất khẩu lao động chênh lệch thế nào so với việc làm trong nước? Khảo sát thực tế tại xã Cổ Thành chỉ ra rằng lao động tại Nhật Bản và Hàn Quốc nhận thu nhập từ 25 đến 35 triệu đồng mỗi tháng, thị trường Đài Loan từ 15 đến 25 triệu đồng mỗi tháng. Mức thu nhập này cao gấp 3 đến 5 lần so với mức 6 đến 7 triệu đồng của lao động nông nghiệp trong nước, tạo nguồn tích lũy bình quân từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng sau 3 năm làm việc.

Chi phí ban đầu để tham gia xuất khẩu lao động là bao nhiêu và áp lực tài chính ra sao? Người lao động tại xã Cổ Thành phải chi trả chi phí ban đầu từ 100 đến hơn 200 triệu đồng tùy theo thị trường tiếp nhận. Khoản chi phí này tương đương từ 5 đến 7 năm tích lũy thuần nông của một hộ gia đình, khiến trên 80% người đi xuất khẩu phải vay nợ thế chấp với lãi suất hàng tháng, tiềm ẩn rủi ro tài chính lớn nếu bị gián đoạn hợp đồng.

Vì sao hoạt động xuất khẩu lao động lại gây ra tình trạng thiếu hụt nhân lực tại chỗ? Trong giai đoạn 2015 – 2019, việc 791 lao động trẻ trong độ tuổi 18 đến 35 xuất cảnh làm giảm sút nhanh chóng lực lượng sản xuất chính tại 9 thôn khảo sát. Tình trạng này khiến diện tích canh tác nông nghiệp rơi vào tay người cao tuổi trên 50 tuổi, đồng thời gây thiếu hụt nguồn nhân lực trẻ cho các phong trào xã hội và công tác đoàn thể địa phương.

Tình trạng việc làm của người lao động sau khi hết hạn hợp đồng về nước diễn ra như thế nào? Có khoảng 60% lao động hồi hương phải trải qua thời gian thất nghiệp tạm thời từ 6 đến 12 tháng do thị trường trong nước thiếu các vị trí việc làm tương xứng với mức lương và kinh nghiệm tích lũy ở nước ngoài. Bên cạnh đó, nhóm lao động có nguyện vọng tiếp tục xuất cảnh cũng mất từ 6 đến 9 tháng nhàn rỗi để chờ hoàn thiện thủ tục đơn hàng mới.

Chính sách xuất khẩu lao động tác động thế nào đến quan hệ gia đình và các đối tượng yếu thế? Sự chia cách địa lý kéo dài từ 3 đến 5 năm gây ra sự thiếu gắn kết tình cảm, làm gia tăng xung đột gia đình và dẫn tới nhiều vụ ly hôn sau khi hồi hương. Đồng thời, toàn bộ trách nhiệm gia đình đè nặng lên người cao tuổi và trẻ em ở quê nhà, tạo nên nhóm đối tượng yếu thế thiếu sự bảo bọc và chăm sóc tâm lý thường xuyên.

Kết luận

Tổng kết toàn bộ nội dung nghiên cứu về tác động của chính sách xuất khẩu lao động tại xã Cổ Thành, luận văn đúc kết 5 điểm chính sau:

  • Chính sách đã giải quyết việc làm hiệu quả cho 791 lao động trong giai đoạn 2015 – 2019, mang lại mức thu nhập tăng gấp 3 đến 5 lần so với canh tác nông nghiệp truyền thống.
  • Cơ cấu thị trường phái cử tập trung tới 76,2% vào 3 thị trường có thu nhập cao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.
  • Nguồn kiều hối tích lũy giúp 100% hộ gia đình cải thiện nhà ở kiên cố và nâng cao chất lượng cuộc sống rõ rệt tại 9 thôn khảo sát.
  • Phát sinh 6 hệ lụy xã hội nghiêm trọng gồm: gánh nặng nợ vay ban đầu từ 100 đến 200 triệu đồng, thiếu hụt lao động trẻ nông thôn, thất nghiệp hồi hương kéo dài 6 - 12 tháng, rạn nứt hôn nhân và nguy cơ vi phạm pháp luật cư trú.
  • Định hướng xuất khẩu lao động cần tiếp tục duy trì nhưng phải chuyển đổi từ mục tiêu số lượng sang chất lượng và đi kèm các biện pháp bảo trợ an sinh xã hội toàn diện.

Đóng góp quan trọng của công trình là xây dựng hệ thống dữ liệu thực nghiệm từ 550 phiếu khảo sát, phản ánh chân thực tác động đa chiều của chính sách công đối với nông thôn Việt Nam. Lộ trình thực hiện các giải pháp quản lý trong giai đoạn 2021 – 2025 đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các doanh nghiệp dịch vụ và từng hộ gia đình. Các cấp quản lý và cộng đồng hãy chủ động áp dụng các khuyến nghị từ nghiên cứu này để xây dựng môi trường di cư lao động an toàn, hiệu quả và bền vững.