CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. Tổng quan về thị trường chứng khoán và giá chứng khoán. Thị trường chứng khoán 1. Khái niệm thị trường chứng khoán Về mặt hình thức: TTCK là nơi diễn ra các diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch mua bán chứng khoán.
Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp, khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành chứng khoán, và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành từ thị trường sơ cấp. Về bản chất: TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm để phân phối lại cho những ai muốn sử dụng các nguồn tiết kiệm đó theo giá mà người sử dụng sẵn sàng và khả năng sinh lời từ các nguồn đầu tư của người sử dụng Vì vậy, TTCK thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ. Các chứng khoán mua bán trên TTCK có thể đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời gian nhất định và được lưu thông trên TTCK theo giá cả thị trường. Chính vì vậy Warren Buffett đã từng nói: “Thị trường chứng khoán là công cụ chuyển tiền từ người thiếu kiên nhẫn sang người kiên nhẫn”.
Đặc điểm TTCK gồm: - Tính thanh khoản: là khả năng chuyển đổi từ chứng khoán sang tiền mặt và ngược lại. Thông thường, cổ phiếu và trái phiếu có thể chuyển đổi thành tiền mặt trong khoảng 1 đến 2 ngày. Thị trường càng phát triển thì tính thanh khoản càng cao. - Tính rủi ro: chứng khoán là tài sản tài chính chịu tác động lớn bởi các loại rủi ro như rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro chính trị, rủi ro thông tin bất cân xứng 8 - Tính sinh lời: là một kênh đầu tư, thị trường chứng khoán mang tính sinh lời.
Mọi nhà đầu tư chứng khoán đều kỳ vọng nhận được nguồn thu nhập lớn hơn trong tương lai. Nguồn thu này đến từ việc chia cổ tức hoặc biến động tăng giá chứng khoán. Phân loại thị trường chứng khoán Theo đối tượng giao dịch - Thị trường cổ phiếu (Stock Market) - Thị trường trái phiếu (Bond Market) - Thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư (Fund Certificate Market/ Fund Stock Market) - Thị trường chứng khoán phái sinh (Derivatives Market) Theo quá trình lưu thông chứng khoán - Thị trường sơ cấp (Primary Market) - Thị trường thứ cấp (Secondary Market) Theo hình thức tổ chức và cơ chế hoạt động - Thị trường chứng khoán chính thức - Thị trường chứng khoán không chính thức - TTCK tự do (The free market) Theo thời hạn thanh toán - Thị trường giao ngay - Thị trường kỳ hạn 1. Vai trò của thị trường chứng khoán Tập trung huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Thông qua các giao dịch trên được thực hiện trên TTCK sơ cấp, các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội… được huy động và tập trung để tạo vốn cho tổ chức phát hành.
9 - Thông qua phát hành trái phiếu, Nhà nước huy động vốn để thực hiện các chương trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng, thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. - Các doanh nghiệp sử dụng vốn huy động được qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển thị trường, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, củng cố và nâng cao vị thế doanh nghiệp trên thương trường. Điều tiết các nguồn vốn trong nền kinh tế: Thị trường chứng khoán nói chung, TTCK thứ cấp nói riêng là nơi tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán. Thông qua thị trường này nhà đầu tư có thể thu hồi vốn hoặc chuyển vốn đầu tư một cách dễ dàng thông qua hoạt động bán và mua các loại chứng khoán.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh những doanh nghiệp thành đạt, không ít doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh thấp kém, thậm chí có nguy cơ phá sản. Những doanh nghiệp này có thể phải chấp nhận giải pháp thu hẹp phạm vi kinh doanh ở một lĩnh vực nào đó bằng cách rút bớt vốn đầu tư khỏi các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để đầu tư vào một lĩnh vực khác thông qua việc mua các chứng khoán đang được giao dịch trên TTCK. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc vốn đầu tư tự phát điều tiết từ các ngành, các lĩnh vực có hiệu quả sử dụng thấp sang các ngành, các lĩnh vực có hiệu quả sử dụng cao hơn. - TTCK là kênh huy động, tập trung và luân chuyển vốn linh hoạt của nền kinh tế - TTCK góp phần kích thích cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp - TTCK góp phần đa dạng hóa các hình thức đầu tư và huy động vốn trong nền kinh tế - TTCK là tấm gương phản ánh thực trạng và tương lai phát triển của doanh nghiệp - TTCK là công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế 10 - TTCK là công cụ góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 1.
Chỉ số giá cổ phiếu Chỉ số giá cổ phiếu cũng vậy nó là chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi của giá cổ phiếu theo thời gian. Để tính chỉ số giá là phải cố định phần lượng, loại bỏ mọi yếu tố ảnh hưởng về giá trị để khảo sát sự thay đổi của riêng giá. Có như vậy chỉ số giá mới phản ánh đúng sự biến động về giá. Mọi công thức, phương pháp không thực hiện được ý tưởng này đều sai với lý luận và chắc chắn chỉ số giá không phản ánh đúng sự biến động của giá.
Thực hiện được mục tiêu và ý tưởng trên, có 3 vấn đề cần giải quyết trong quá trình xây dựng chỉ số giá cổ phiếu, đó là: - Chọn phương pháp - Chọn rổ đại diện - Tìm biện pháp trừ khử các yếu tố về giá trị để đảm bảo chỉ số giá chỉ phản ánh sự biến động của riêng giá. * Phương pháp tính Hiện nay các nước trên thế giới dùng 5 phương pháp để tính chỉ số giá cổ phiếu, đó là: Phương pháp Passcher: Đây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời kỳ tính toán. Kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ tính toán: Người ta dùng công thức sau để tính. ∑ qt pt Ip= ∑ qt po 11 Trong đó: I p: Là chỉ số giá Passcher p t: Là giá thời kỳ t p o: Là giá thời kỳ gốc qt: Là khối lượng (quyền số) thời điểm tính toán (t) hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính toán.
i Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá n là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy quyền số là quyền số thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số (cơ cấu chứng khoán niêm yết) thời tính toán. Các chỉ số KOSPI (Hàn quốc); S&P500(Mỹ); FT-SE 100 (Anh); TOPIX (Nhật); CAC (Pháp); TSE (Đài loan); Hangseng (Hồng kông); các chỉ số của Thuỵ Sỹ,.và VnIndex của Việt Nam áp dụng phương pháp này. Phương pháp Laspeyres. Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc.
Như vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ gốc: ∑ qo pt IL= ∑ qo po Trong đó: I L: Là chỉ số giá bình quân Laspeyres pt: Là giá thời kỳ báo cáo po: Là giá thời kỳ gốc 12 qo: Là khối lượng (quyền số) thời kỳ gốc hoặc cơ cấu của khối lượng c (số lượng cổ phiếu niêm yết) thời kỳ gốc i Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá n là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số Có ít nước áp dụng phương pháp này, đó là chỉ số FAZ, DAX của Đức Chỉ số giá bình quân Fisher Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá Laspeyres: Phương pháp này trung hoà được yếu điểm của hai phương pháp trên, tức là giá trị chỉ số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả 2 thời kỳ: Kỳ gốc và kỳ tính toán I F = Ö IP x I L Trong đó: I F: Là chỉ số giá Fisher IP: Là chỉ số giá Paasche IL: Là chỉ số giá bình quân Laspeyres Về mặt lý luận có phương pháp này, nhưng trong thống kê chúng tôi không thấy nó áp dụng ở bất kỳ một quốc giá nào. Phương pháp số bình quân giản đơn Công thức đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng khoán tham gia tính toán: ∑ Pi Ip = ∑n 13 Trong đó: I p là giá bình quân; Pi là giá Chứng khoán i; p o: Là giá thời kỳ gốc n là số lượng chứng khoán đưa vào tính toán. Các chỉ số họ Dow Jone của Mỹ Nikkei 225 của Nhật; MBI của Ý áp dụng phương pháp này. Phương pháp này sẽ tốt khi mức giá của các cổ phiếu tham gia niêm yết khá đồng đều hay độ lệch chuẩn s của nó thấp).
Phương pháp bình quân nhân giản đơn 𝐈 𝐩 = √𝐏 𝐏𝐢 Chúng ta chỉ nên dùng loại chỉ số này khi độ lệch chuẩn khá cao, (s) cao. Các chỉ số: Value line (Mỹ); FT-30 (Anh) áp dụng phương pháp bình quân nhân giản đơn này. Tuy nhiên về mặt lý luận, chúng ta có thể tính theo phương pháp bình quân cộng hoặc bình quân nhân gia quyền với quyền số là số chứng khoán niêm yết. Quyền số thường được dùng trong tính toán chỉ số giá cổ phiếu là số chứng khoán niêm yết.
Riêng ở Đài Loan thì họ dùng số chứng khoán trong lưu thông làm quyền số, bởi vì tỷ lệ đầu tư của công chúng rất cao ở đây (80 - 90%). Tổng quan về chính sách tiền tệ 1. Khái niệm chính sách tiền tệ Theo (Miskin, 2013) CSTT là quá trình quản lý cung tiền của NHTW nhằm đạt được những mục tiêu nhất định như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, được được toàn dụng lao động tăng trưởng kinh tế.