Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Tác động của chính sách tài khóa, tỷ giá và quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Lâm Sơn, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 9340201) tại Trường Đại học Tài chính – Marketing, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hồ Thủy Tiên và TS. Bùi Hữu Phước (năm 2022).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong điều hành kinh tế vĩ mô, các chính phủ thường kết hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để kích thích sản xuất, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi của các chính sách này phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường quản trị công và thể chế của từng quốc gia. Tại các quốc gia đang phát triển, môi trường thể chế còn nhiều hạn chế, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, tính minh bạch tài khóa chưa cao và tình trạng tham nhũng còn phổ biến.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trước đây chỉ tập trung xem xét tác động đơn lẻ của từng biến số (chính sách tài khóa, tỷ giá, hoặc quản trị công) hoặc kiểm tra tương tác giữa quản trị công với chính sách tài khóa, hoặc giữa quản trị công với cơ chế tỷ giá (Hadj Fraj & cộng sự, 2018). Rất ít công trình tích hợp đồng thời cả ba nhân tố: chính sách tài khóa (thông qua cán cân tài khóa tổng hợp từ thu và chi), tỷ giá và chất lượng quản trị công tổng hợp, cũng như kiểm định tác động tương tác của quản trị công với tỷ giá trong mối liên hệ với chính sách tài khóa trong mô hình nền kinh tế mở đối với nhóm quốc gia đang phát triển.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Luận án nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa, tỷ giá và quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho nhóm quốc gia này, bao gồm cả Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu tác động trực tiếp của chính sách tài khóa, tỷ giá và quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển, đồng thời phân tích theo hai nhóm phụ: nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao và nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp.
- Nghiên cứu tác động tương tác của quản trị công với tỷ giá, cùng với tác động trực tiếp của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển và hai nhóm phụ thu nhập trung bình cao, trung bình thấp.
- Đề xuất các hàm ý chính sách về tài khóa, tỷ giá và quản trị công nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho các quốc gia đang phát triển và Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
- Chính sách tài khóa, tỷ giá và quản trị công có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển hay không? Tác động mang chiều hướng tích cực hay tiêu cực? Tác động này có sự khác biệt giữa hai nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao và thu nhập trung bình thấp hay không?
- Tương tác giữa quản trị công và tỷ giá có làm cho tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển tốt hơn không? Tác động này có cải thiện mức độ tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế hay không? Tác động có sự khác biệt giữa hai nhóm thu nhập không?
- Cần có những hàm ý chính sách gì về tài khóa, tỷ giá và quản trị công nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho các quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tài khóa (cán cân tài khóa), tỷ giá danh nghĩa, chất lượng quản trị công (chỉ số tổng hợp từ 6 chỉ tiêu thành phần của Worldwide Governance Indicators), biến tương tác giữa quản trị công và tỷ giá, cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP).
- Phạm vi không gian: 93 quốc gia đang phát triển (được chọn lọc từ danh sách 110 quốc gia theo phân loại tháng 07/2021 của Ngân hàng Thế giới với chuẩn thu nhập bình quân: $1.095 cho nhóm trung bình thấp và $4.695 cho nhóm trung bình cao), phân chia thành hai nhóm phụ:
- 48 quốc gia có thu nhập trung bình cao.
- 45 quốc gia có thu nhập trung bình thấp (trong đó có Việt Nam).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2002–2020 (19 năm). Tác giả lựa chọn mốc từ năm 2002 do bộ dữ liệu 6 chỉ số quản trị công thành phần của Kaufmann & cộng sự (World Bank) bắt đầu được công bố thường niên đầy đủ từ năm 2002.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các dòng nghiên cứu thực nghiệm trước đây xoay quanh các mối quan hệ vĩ mô:
| Hướng nghiên cứu | Tác giả và công trình tiêu biểu | Nội dung và kết quả chính được điểm lại |
|---|---|---|
| Chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế | Keynes (1936), Mishkin & Serletis (2011), M’amanja & Morrisey (2005), Benos (2009), Ocran (2011), McNabb (2018), Petrovíc, Arsíc & Nojkovíc (2020), Baldacci, Hillman & Kojo (2004), Chen, Yao, Hu & Lin (2017), Montes, Bastos & de Oliveira (2018), Aizenman, Jinjarak, Nguyen & Park (2019), Phạm Quốc Việt, Lượng Quốc Trọng Vinh & Hồ Thu Hoài (2016), Lê Thành Tùng (2018). | Chính sách tài khóa mở rộng thông qua chi tiêu công hoặc giảm thuế có thể kích thích tổng cầu trong ngắn hạn; tuy nhiên thâm hụt kéo dài làm tăng nợ công, tạo gánh nặng thuế trong tương lai và kìm hãm tăng trưởng dài hạn. Chi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng có tác động tích cực hơn chi thường xuyên. |
| Tỷ giá và tăng trưởng kinh tế | Mundell (1963), Fleming (1962), Devereux & Genberg (2007), Ali & Anwar (2011), Rapetti, Skott & Razmi (2012), Romelli, Terra & Vasconcelos (2018), Frankel, Parsley & Wei (2011), Alagidede & Ibrahim (2017). | Tỷ giá tác động đến tăng trưởng thông qua cán cân thương mại, xuất khẩu ròng và dòng vốn FDI. Phá giá nội tệ có thể hỗ trợ xuất khẩu ngắn hạn (như trường hợp Trung Quốc) nhưng biến động tỷ giá bất ổn định sẽ làm gia tăng rủi ro và tổn hại đến tăng trưởng. |
| Quản trị công, thể chế và tăng trưởng | North (1990, 1991), Acemoglu, Johnson & Robinson (2005), Acemoglu & Robinson (2010), Kaufmann, Kraay & Mastruzzi (2007, 2011), Jalilian, Kirkpatrick & Parker (2007), Gani (2014), Poniatowicz, Dziemianowicz & Kargol-Wasiluk (2020). | Thể chế và chất lượng quản trị công định hình luật chơi kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và giảm chi phí giao dịch. Tại các nước phát triển, quản trị công tác động tích cực rõ nét; nhưng tại các nước đang phát triển, kết quả còn chưa đồng nhất do bộ máy quản trị còn yếu kém. |
| Tương tác giữa quản trị công, tài khóa và tỷ giá | Hadj Fraj, Hamdaoui & Maktouf (2018), Hadj Fraj, Bouchoucha & Maktouf (2020), Thủy Tiên Hồ, Văn Bổn Nguyễn & Thị Bảo Ngọc Nguyễn (2021), Nguyễn Văn Bổn & Trần Thị Mỹ Phước (2020), Aghion, Akcigit, Cagé & Kerr (2016), d'Agostino, Dunne & Pieroni (2016), Cooray, Dutta & Mallick (2017), Elgin & Oztunali (2013). | Quản trị công kém làm trầm trọng hóa tác động tiêu cực của thâm hụt tài khóa do tham nhũng trong đầu tư công. Nghiên cứu của Hadj Fraj & cộng sự (2018) là nghiên cứu đầu tiên kiểm định tương tác giữa chất lượng quản trị công với cơ chế tỷ giá, cho thấy quản trị công tốt giúp cơ chế tỷ giá phát huy hiệu quả ở các nước đang phát triển. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
- Chưa có nhiều nghiên cứu kiểm định đồng thời cả ba biến số chính sách tài khóa, tỷ giá và quản trị công trong cùng một mô hình kinh tế lượng đối với các quốc gia đang phát triển.
- Việc đo lường chính sách tài khóa trước đây thường tách biệt chi tiêu hoặc thu thuế; luận án tiếp cận bằng biến cán cân tài khóa (thu ngân sách trừ chi tiêu chính phủ), phản ánh toàn diện tình trạng thặng dư/thâm hụt tài khóa.
- Kế thừa và mở rộng công trình của Hadj Fraj & cộng sự (2018) bằng cách xem xét tương tác giữa chỉ số quản trị công tổng hợp với tỷ giá danh nghĩa song phương so với USD (thay vì chỉ xem xét cơ chế tỷ giá) và kết hợp với biến cán cân tài khóa.
- Xác định điểm ngưỡng cụ thể của chỉ số quản trị công để biến tương tác phát huy tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế theo từng nhóm thu nhập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý thuyết tổng quát của Keynes (1936) và Mô hình IS-LM (Hicks, 1937; Hansen, 1953): Thiết lập mối quan hệ giữa tổng cầu, chính sách tài khóa, thị trường tiền tệ và sản lượng cân bằng trong nền kinh tế.
- Mô hình IS-LM-BP mở rộng (Mundell, 1963; Fleming, 1962): Phân tích sự tương tác của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ/tỷ giá trong nền kinh tế mở dưới các cơ chế tỷ giá khác nhau và sự dịch chuyển vốn quốc tế.
- Lý thuyết thể chế và Kinh tế học thể chế mới (North, 1990, 1991; Acemoglu & Robinson, 2005, 2010): Giải thích vai trò của thể chế chính trị, quyền lực chính trị luật định và thực tế trong việc định hình thể chế kinh tế, bảo đảm quyền tài sản và phân bổ nguồn lực.
- Khái niệm và đo lường biến số:
- Tăng trưởng kinh tế (GDPG): Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm.
- Chính sách tài khóa (FB): Cán cân tài khóa được tính bằng chênh lệch giữa tổng thu ngân sách (NT) và tổng chi tiêu chính phủ (G).
- Tỷ giá (NER): Tỷ giá danh nghĩa song phương yết giá trực tiếp giữa đồng nội tệ của từng quốc gia so với đô la Mỹ (USD) tại năm gốc 2000. Biến động tỷ giá (ERVOL) được tính để kiểm định tính vững.
- Quản trị công tổng hợp (ICGOV): Được tổng hợp từ 6 chỉ số thành phần quản trị thế giới (Kaufmann & cộng sự, 2011) bằng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA):
- Hiệu quả chính phủ (Government Effectiveness - GE).
- Chất lượng luật lệ (Regulatory Quality - RQ).
- Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption - CC).
- Ổn định chính trị và không có bạo lực/khủng bố (Political Stability - PV).
- Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability - VA).
- Nhà nước pháp quyền (Rule of Law - RL).
- Các biến kiểm soát vĩ mô: Lạm phát (INFL - chỉ số giá tiêu dùng CPI), lãi suất thực (RIR), độ mở thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên dữ liệu bảng (panel data) 93 quốc gia trong 19 năm:
- Xử lý dữ liệu ngoại lai: Áp dụng phân phối chuẩn Gauss, loại bỏ 1% quan sát ở cận trên và cận dưới của tập dữ liệu bảng.
- Phân tích thành phần chính (PCA): Dùng để tính toán chỉ số quản trị công tổng hợp (ICGOV) từ 6 biến thành phần của WGI.
- Mô hình Vector tự hồi quy bảng (PVAR): Kiểm định tác động nhân quả Granger giữa chất lượng quản trị công và tỷ giá nhằm xác lập cơ sở cho mô hình hồi quy biến tương tác.
- Phương pháp hồi quy GMM hệ thống (System GMM / SGMM): Sử dụng cho mô hình bảng động (dynamic panel model) có biến trễ của tăng trưởng kinh tế ($GDPG_{i,t-1}$) làm biến độc lập nhằm kiểm soát hiện tượng nội sinh, phương sai thay đổi và tự tương quan. Mô hình được kiểm định qua thống kê Hansen/Sargan (kiểm định biến công cụ ngoại sinh) và kiểm định Arellano-Bond ($AR(1)$, $AR(2)$ kiểm định tự tương quan phần dư).
- Kiểm định tính vững:
- Thay thế tỷ giá danh nghĩa (NER) bằng biến động tỷ giá (ERVOL).
- Thay thế cán cân tài khóa (FB) bằng hai biến riêng biệt: thu ngân sách và chi tiêu chính phủ.
- Ước lượng mô hình với từng biến quản trị công thành phần.
- Xác định điểm ngưỡng (Threshold): Dựa trên đạo hàm riêng của mô hình có biến tương tác để tính toán điểm ngưỡng chất lượng quản trị công, tại đó tỷ giá bắt đầu chuyển hóa tác động sang kích thích tăng trưởng kinh tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 1 trình bày lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của việc nghiên cứu phối hợp giữa chính sách tài khóa, tỷ giá và quản trị công đối với tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển. Tác giả xác định rõ 1 mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể và 3 câu hỏi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu gồm các biến số vĩ mô và bộ chỉ số quản trị công; phạm vi nghiên cứu bao quát 93 quốc gia đang phát triển (chia thành 48 nước thu nhập trung bình cao và 45 nước thu nhập trung bình thấp) trong giai đoạn 2002–2020. Chương này cũng tóm tắt phương pháp nghiên cứu định lượng (PCA, PVAR, System GMM), nêu bật 4 điểm mới về mặt khoa học, 3 điểm mới về mặt thực tiễn và kết cấu 5 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm
Chương 2 thiết lập nền tảng lý luận toàn diện:
- Hệ thống hóa các khái niệm: chính sách tài khóa (thặng dư, thâm hụt ngân sách), tỷ giá (tỷ giá danh nghĩa NER, tỷ giá thực RER, các cơ chế tỷ giá cố định, thả nổi, thả nổi có điều tiết), quản trị công (thể chế, 6 chỉ số WGI của Kaufmann & cộng sự), và tăng trưởng kinh tế.
- Trình bày các mô hình tăng trưởng từ cổ điển đến hiện đại: Adam Smith (1776), David Ricardo (1817), John Maynard Keynes (1936), Harrod-Domar (1940), Arthur Lewis (1955), Robert Solow (1956), Nicholas Kaldor (1957), Paul Samuelson (1948), và Kinh tế học thể chế mới của Ronald Coase (1998), Douglass North (1990, 1991), Daron Acemoglu & James Robinson (2005, 2010).
- Phân tích cơ chế truyền dẫn qua mô hình IS-LM và mô hình IS-LM-BP mở rộng của Mundell-Fleming: giải thích sự dịch chuyển của đường IS (chi tiêu chính phủ, thuế, tiêu dùng tự định, đầu tư, xuất khẩu ròng, phá giá tiền tệ) và đường LM (cung tiền, lãi suất).
- Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, từ đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu về tác động đồng thời của tài khóa, tỷ giá và quản trị công.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 xây dựng khung phân tích thực nghiệm và quy trình ước lượng:
- Thiết kế quy trình nghiên cứu logic: thu thập dữ liệu -> xử lý ngoại lai (Gauss 1%) -> phân tích PCA tạo biến ICGOV -> kiểm định PVAR/Granger causality -> ước lượng System GMM cho mô hình trực tiếp và mô hình tương tác -> kiểm định tính vững -> xác định điểm ngưỡng.
- Xây dựng mô hình toán kinh tế lượng dạng bảng động:
- Mô hình tác động trực tiếp: $$GDPG_{i,t} = \alpha_0 + \alpha_1 GDPG_{i,t-1} + \alpha_2 FB_{i,t} + \alpha_3 NER_{i,t} + \alpha_4 ICGOV_{i,t} + \sum \beta_k X_{k,i,t} + \varepsilon_{i,t}$$
- Mô hình tác động tương tác: $$GDPG_{i,t} = \gamma_0 + \gamma_1 GDPG_{i,t-1} + \gamma_2 FB_{i,t} + \gamma_3 NER_{i,t} + \gamma_4 ICGOV_{i,t} + \gamma_5 (ICGOV_{i,t} \times NER_{i,t}) + \sum \theta_k X_{k,i,t} + u_{i,t}$$
- Mô tả chi tiết nguồn dữ liệu: Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Viện Nghiên cứu Kinh tế Phát triển Thế giới thuộc Đại học Liên Hiệp Quốc (UNU-WIDER).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 công bố kết quả thống kê mô tả, ma trận tương quan Pearson, kết quả ước lượng GMM hệ thống và kiểm định nhân quả Granger:
- Kiểm định PVAR và nhân quả Granger: Xác nhận tồn tại mối quan hệ tác động nhân quả có ý nghĩa thống kê giữa chất lượng quản trị công và tỷ giá, tạo tiền đề vững chắc cho việc đưa biến tương tác ($ICGOV \times NER$) vào mô hình tăng trưởng.
- Tác động trực tiếp:
- Tăng trưởng kinh tế kỳ trước ($GDPG_{t-1}$) có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng kinh tế kỳ hiện tại ở tất cả các mẫu.
- Cán cân tài khóa có tác động đến tăng trưởng kinh tế, phản ánh hiệu quả của việc điều tiết thu chi ngân sách.
- Quản trị công tổng hợp (ICGOV) khi xét tác động trực tiếp lại có hệ số âm (tác động tiêu cực) đến tăng trưởng kinh tế tại nhóm các quốc gia đang phát triển. Kết quả này được luận giải là do tại các quốc gia đang phát triển, chất lượng quản trị công nhìn chung còn dưới chuẩn, năng lực thực thi pháp luật và kiểm soát tham nhũng chưa hoàn thiện, tạo ra chi phí tuân thủ và lực cản hành chính.
- Tác động tương tác:
- Biến tương tác $(ICGOV \times NER)$ có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê ở cả 3 mẫu nghiên cứu (toàn bộ 93 quốc gia, 48 quốc gia thu nhập trung bình cao, 45 quốc gia thu nhập trung bình thấp). Điều này chứng minh quản trị công đóng vai trò gián tiếp, hỗ trợ tỷ giá phát huy tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
- Điểm ngưỡng quản trị công:
- Điểm ngưỡng chất lượng quản trị công tổng hợp của mẫu toàn thể 93 quốc gia đang phát triển là -0,337.
- Đối với nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao: điểm ngưỡng là -1,143.
- Đối với nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp: điểm ngưỡng là -2,611.
- Kiểm định tính vững:
- Kết quả ước lượng vẫn giữ nguyên chiều hướng và ý nghĩa thống kê khi thay tỷ giá danh nghĩa bằng biến động tỷ giá (ERVOL), khi phân rã cán cân tài khóa thành thu và chi ngân sách, và khi chạy mô hình với 6 biến quản trị công thành phần.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết các phát hiện chính từ kết quả hồi quy và đề xuất hệ thống giải pháp:
- Trả lời trọn vẹn 3 câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra ở Chương 1.
- Đề xuất các nhóm khuyến nghị chính sách:
- Đối với các quốc gia đang phát triển nói chung: Tăng cường kỷ luật tài khóa, nâng cao tính minh bạch ngân sách; duy trì chính sách tỷ giá linh hoạt có kiểm soát; ưu tiên cải thiện chất lượng quản trị công vượt qua điểm ngưỡng -0,337.
- Đối với nhóm thu nhập trung bình cao: Tập trung cải cách thể chế chiều sâu, minh bạch hóa chính sách thuế và chi tiêu công, tối ưu hóa điều hành tỷ giá nhằm thích ứng với các cú sốc tài chính quốc tế.
- Đối với nhóm thu nhập trung bình thấp: Kiểm soát thâm hụt tài khóa, hạn chế vay nợ công cho chi tiêu thường xuyên; cải thiện năng lực bộ máy hành chính, giảm thiểu tham nhũng, nâng cao trách nhiệm giải trình.
- Đối với Việt Nam: Tác giả dựa trên chuỗi dữ liệu thực tế giai đoạn 2004–2020 của Việt Nam để khuyến nghị: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nâng cao hiệu quả đầu tư công, ổn định tỷ giá danh nghĩa linh hoạt gắn liền với nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
- Xây dựng biến quản trị công tổng hợp trong mô hình đồng thời: Sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) để tích hợp 6 chỉ số thành phần quản trị công của Kaufmann & cộng sự (2011) thành một chỉ số tổng hợp (ICGOV), kết hợp đánh giá đồng thời với tác động của cán cân tài khóa và tỷ giá danh nghĩa trong mô hình bảng động System GMM.
- Tiếp cận chính sách tài khóa qua cán cân tài khóa: Sử dụng biến cán cân tài khóa ($FB = NT - G$) thay vì chỉ sử dụng đơn lẻ biến chi tiêu chính phủ hoặc thu thuế như nhiều nghiên cứu trước, giúp phản ánh toàn diện tác động ròng của chính sách tài khóa (thặng dư hoặc thâm hụt).
- Mở rộng nghiên cứu biến tương tác quản trị công và tỷ giá danh nghĩa: Kế thừa và phát triển nghiên cứu của Hadj Fraj & cộng sự (2018) bằng việc sử dụng tỷ giá danh nghĩa song phương so với USD (thời điểm gốc 2000) và kiểm định tính vững bằng phương pháp tự tính toán biến động tỷ giá (exchange rate volatility).
- Xác định điểm ngưỡng thực nghiệm của quản trị công: Tính toán chính xác ngưỡng giá trị của chỉ số quản trị công tổng hợp để biến tương tác với tỷ giá bắt đầu mang lại tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế:
| Mẫu nghiên cứu | Số lượng quốc gia | Điểm ngưỡng quản trị công (ICGOV) | Thang đo chuẩn hóa |
|---|---|---|---|
| Toàn bộ quốc gia đang phát triển | 93 | -0,337 | Khoảng [-2,5 đến +2,5] |
| Nhóm thu nhập trung bình cao | 48 | -1,143 | Khoảng [-2,5 đến +2,5] |
| Nhóm thu nhập trung bình thấp | 45 | -2,611 | Khoảng [-2,5 đến +2,5] |
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phân tích so sánh đa tầng: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm phân tầng giữa nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao và trung bình thấp, chỉ ra sự khác biệt về vai trò của thể chế trong việc dẫn truyền tác động của chính sách vĩ mô.
- Làm rõ kênh truyền dẫn gián tiếp của thể chế: Chứng minh rằng dù quản trị công đơn lẻ tại các nước đang phát triển có thể tạo ra tác động tiêu cực ngắn hạn do độ trễ thể chế và chi phí hành chính, nhưng khi tương tác với kênh tỷ giá, quản trị công tốt sẽ hỗ trợ tỷ giá thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ.
- Cơ sở hoạch định chính sách cho Việt Nam: Cung cấp các luận cứ khoa học để Chính phủ Việt Nam điều hành chính sách tài khóa bền vững, quản lý tỷ giá chủ động và thực hiện cải cách 6 trụ cột quản trị công quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Dữ liệu bị giới hạn ở 93 quốc gia đang phát triển (thay vì toàn bộ 110 quốc gia) do một số quốc gia thiếu hụt dữ liệu thống kê liên tục về tài khóa và quản trị công.
- Dữ liệu được thu thập theo tần suất năm (annual data) trong giai đoạn 2002–2020; chưa thể phân tích theo tần suất quý do các chỉ số quản trị công WGI và một số biến tài khóa chỉ được công bố định kỳ mỗi năm một lần.
- Biến tỷ giá trong mô hình chính là tỷ giá danh nghĩa song phương so với USD; chưa mở rộng so sánh đồng thời với chỉ số tỷ giá hiệu dụng thực đa phương (REER) cho toàn bộ 93 quốc gia do hạn chế dữ liệu đồng nhất.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các nhóm quốc gia phát triển hoặc so sánh liên khu vực (châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh) khi các cơ quan thống kê cập nhật chuỗi số liệu dài hơn.
- Ứng dụng các mô hình phi tuyến tính phức hợp hoặc mô hình hồi quy ngưỡng dạng bảng (Panel Threshold Regression) để kiểm tra các ngưỡng biến thiên liên tục của nợ công và thâm hụt tài khóa.
- Nghiên cứu sâu hơn về từng kênh truyền dẫn cụ thể của 6 biến thành phần quản trị công tương tác với các công cụ chính sách tiền tệ khác (như lãi suất, cung tiền M2) đến tăng trưởng kinh tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Tài chính – Ngân hàng: Tham khảo khung lý thuyết mở rộng IS-LM-BP, quy trình xây dựng biến tổng hợp PCA, kỹ thuật xử lý dữ liệu ngoại lai theo phân phối Gauss, và phương pháp ước lượng hồi quy bảng động System GMM kết hợp kiểm định nhân quả PVAR.
- Các nhà hoạch định chính sách vĩ mô (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Tham khảo các phát hiện về ngưỡng quản trị công, mối quan hệ tương hỗ giữa cán cân ngân sách và tỷ giá để xây dựng các kịch bản điều hành phối hợp tài khóa – tiền tệ, cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả chi tiêu công.
- Các tổ chức nghiên cứu và tư vấn kinh tế: Sử dụng bộ chỉ số và phương pháp luận của luận án để đánh giá rủi ro thể chế và hiệu quả chính sách kinh tế tại các thị trường mới nổi.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao nghiên cứu sinh chọn giai đoạn 2002–2020 và mẫu 93 quốc gia đang phát triển?
Chỉ số Quản trị Toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) của Kaufmann & cộng sự do World Bank phát hành bắt đầu được công bố hàng năm đầy đủ từ năm 2002. Mẫu 93 quốc gia được chọn lọc từ 110 quốc gia đang phát triển (theo phân loại tháng 07/2021 của World Bank) vì đây là các quốc gia có đầy đủ chuỗi dữ liệu nhất quán về tài khóa, tỷ giá và quản trị công trong suốt 19 năm liên tục.
2. Biến chất lượng quản trị công tổng hợp (ICGOV) được xây dựng bằng phương pháp nào?
Chỉ số ICGOV được tác giả tự tính toán bằng phương pháp Phân tích Thành phần Chính (PCA - Principal Component Analysis) từ 6 chỉ số quản trị thành phần của World Bank (Hiệu quả chính phủ, Chất lượng luật lệ, Kiểm soát tham nhũng, Ổn định chính trị, Tiếng nói và giải trình, Nhà nước pháp quyền).
3. Kết quả ước lượng tác động trực tiếp của quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển có đặc điểm gì?
Khi xét tác động trực tiếp độc lập, chất lượng quản trị công có hệ số âm đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển. Điều này phản ánh thực trạng tại các quốc gia này, chất lượng quản trị công nhìn chung còn thấp, bộ máy cồng kềnh, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cao và năng lực kiểm soát tham nhũng hạn chế, gây cản trở cho các hoạt động kinh tế ngắn hạn.
4. Biến tương tác giữa quản trị công và tỷ giá mang lại kết quả như thế nào?
Biến tương tác giữa quản trị công và tỷ giá ($ICGOV \times NER$) mang hệ số dương và có ý nghĩa thống kê ở cả mẫu tổng thể 93 quốc gia và hai mẫu phụ. Kết quả này chứng minh rằng quản trị công tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua kênh truyền dẫn tỷ giá; quản trị công càng tốt thì tỷ giá càng phát huy hiệu quả thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư và kích thích tăng trưởng.
5. Ngưỡng quản trị công cần đạt để biến tương tác kích thích tăng trưởng kinh tế là bao nhiêu?
Theo tính toán của luận án, điểm ngưỡng quản trị công tối thiểu đối với toàn bộ mẫu 93 quốc gia đang phát triển là -0,337; đối với nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao là -1,143; và đối với nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp là -2,611 (trên thang đo chuẩn hóa từ khoảng -2,5 đến +2,5).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Lâm Sơn đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về tác động đồng thời của chính sách tài khóa, tỷ giá và chất lượng quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại 93 quốc gia đang phát triển giai đoạn 2002–2020. Bằng việc ứng dụng phương pháp kinh tế lượng hiện đại gồm phân tích thành phần chính (PCA), mô hình PVAR và hồi quy bảng động GMM hệ thống (SGMM), công trình đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm vững chắc về vai trò truyền dẫn của thể chế đối với chính sách tỷ giá và kỷ luật tài khóa. Các kết quả về điểm ngưỡng quản trị công và hệ thống hàm ý chính sách phân tầng mang lại giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực cho công tác điều hành vĩ mô tại các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam.