Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu chất lượng thông tin BCTC và tính thanh khoản chứng khoán Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Một số đề xuất nhằm góp phần nâng cao tính thanh khoản chứng khoán trong mối liên hệ với chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHẤT LƢỢNG THÔNG TIN BCTC VÀ TÍNH THANH KHOẢN CHỨNG KHOÁN Trong phần này tác giả chỉ trình bày các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới với nội dung liên quan đến tính thanh khoản và các yếu tố của chất lượng thông tin kế toán có tác động đến tính thanh khoản. Khi tìm hiểu về sự tương quan giữa chất lượng thông tin BCTC đối với tính thanh khoản, các nghiên cứu đã tiếp cận các vấn đề theo nhiều hướng khác nhau: Góc độ chất lượng thông tin BCTC: các tác giả đã quan tâm đến tính hữu ích, sự minh bạch, điều chỉnh lợi nhuận, công bố lại BCTC, gian lận BCTC, công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện. Góc độ tính thanh khoản chứng khoán: các nghiên cứu tập trung vào giá trị thị trường và giá trị ghi sổ của chứng khoán, khối lượng giao dịch trung bình theo từng thời kỳ, lợi nhuận trung bình thu được từ các chứng khoán. Các nghiên cứu công bố trong nƣớc 1.
Tính thanh khoản chứng khoán Các nghiên cứu về tính thanh khoản chứng khoán ở Việt Nam hiện nay còn khá hạn chế. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai khía cạnh là tính thanh khoản của công ty nói chung và rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng. Tác giả điểm qua một số nghiên cứu liên quan đến tình hình đầu tư chứng khoán và từ đó tác động đến tính thanh khoản của chứng khoán. Nguyễn Văn Phương (2013) trong bài báo nghiên cứu về tài chính tiền tệ có đề cập đến giải pháp hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư khi vay để kinh doanh chứng khoán, các nhà đầu tư cần nhận thức được rủi ro trong đầu tư chứng khoán.
Mỗi nhà đầu tư có mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau và họ cần nắm được chính xác mức độ chấp nhận rủi ro của mình. Ngoài ra, nhà đầu tư cần tuân thủ việc cắt lỗ, xác định mất mát tối đa và có sự cắt lỗ hợp lý khi thị trường diễn biến không theo ý đồ đầu tư. Quyết định để cắt lỗ là một quyết định khó, bởi khi bán để cắt lỗ, nhà đầu tư lỗ thật (mất giá chứng khoán và chi phí trả lãi tiền vay). Vì vậy nhà đầu tư cần thiết lập cho mình mức giá để cắt lỗ và tuân thủ nghiêm ngặt việc cắt lỗ để hạn chế rủi ro.
7 La Thị Kim Lan (2013) trong Luận văn thạc sĩ, tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng thông tin kế toán với rủi ro thanh khoản của cổ phiếu, kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng thông tin kế toán có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo nghiên cứu này, có ba biến đại diện cho chất lượng thông tin tác động đến rủi ro thanh khoản của thị trường chứng khoán Việt Nam là lợi nhuận bền vững, độ tin cậy của dự đoán lợi nhuận, mô hình định giá lợi nhuận, còn biến không tác động là độ tin cậy của thông tin báo cáo. Đỗ Hoài Giang (2003) trong luận văn thạc sĩ, tác giả nghiên cứu về rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam thể hiện thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức là những vấn đề rất phức tạp, nhạy cảm và có vai trò quan trọng trong các giao dịch kinh tế, đặc biệt là các giao dịch tài chính. Tuy nhiên, công tác thông tin trên thị trường chứng khoán chưa thực sự được các công ty coi trọng.
Những hạn chế đó đã dẫn đến chất lượng thông tin trên thị trường còn thấp và kết quả là đã có nhiều biểu hiện của lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường. Qua đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm cân bằng hoá thông tin giữa các nhà đầu tư trên thị trường. Mặc dù vậy, bài nghiên cứu vẫn còn hạn chế trong việc vận dụng các mô hình toán kinh tế để tách riêng tác động của thông tin không cân xứng tới hoạt động của thị trường, trên cả phương diện lý thuyết và thực tế. Chất lƣợng thông tin BCTC BCTC là quá trình lập, trình bày và công bố.
Hầu như các nghiên cứu trong nước tập trung vào các khía cạnh khác nhau của thông tin BCTC. Vì vậy, luận văn sẽ xem xét các nghiên cứu trong nước theo từng hoạt động của quá trình này. Qúa trình tạo lập thông tin BCTC Qúa trình tạo lập thông tin BCTC được bắt đầu từ việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thông qua hệ thống xử lý nghiệp vụ của hệ thống kế toán, đảm bảo các nghiệp vụ ghi nhận phù hợp với các quy định, chuẩn mực kế toán hiện hành. Như vậy, thông tin BCTC sẽ phụ thuộc vào việc xử lý của hệ thống kế toán và các quy 8 định, chuẩn mực được ban hành.
Tổng hợp các nghiên cứu của các tác giả trong nước về vấn đề này như sau: Võ Văn Nhị và các cộng sự (2011), trong nghiên cứu đề tài cấp bộ, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp hệ thống, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, phân tích và tiếp cận mục tiêu, đã đánh giá thực trạng các quy định pháp lý có liên quan đến kế toán được áp dụng cho các doanh nghiệp như: luật kế toán, chuẩn mực và chế độ kế toán, đồng thời qua đó đánh giá thực trạng tình hình thực hiện công tác kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam để đưa ra các nguyên nhân tồn tại về hệ thống pháp lý cũng như quá trình thực hiện công tác kế toán của doanh nghiệp. Từ thực trạng đã phân tích, tác giả cho rằng để nâng cao chất lượng thông tin kế toán cần nâng cao chất lượng những nội dung có liên quan của hệ thống pháp lý về kế toán và nâng cao chất lượng công tác kế toán của doanh nghiệp. Nguyễn Bích Liên (2012) với đề tài trong luận án tiến sĩ “Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả cho rằng quan điểm của FASB, IASB và chuẩn mực kế toán Việt Nam đều cho rằng chất lượng thông tin kế toán đồng nghĩa với chất lượng BCTC. Tuy nhiên, quan điểm chất lượng thông tin của tác giả trong môi trường công nghệ thông tin được xác định bởi các tiêu chuẩn: hiện hữu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy.
Các tiêu chuẩn liên quan gắn liền với các chuẩn mực kế toán đề cập trong bài nghiên cứu nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của luận văn này. Bài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho quy trình xử lý các thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán phụ thuộc vào ứng dụng hệ thống thông tin này. Qúa trình trình bày và công bố thông tin Liên quan đến quá trình trình bày và công bố thông tin, các tác giả nghiên cứu tập trung về những lĩnh vực như sự minh bạch, hình thức và nội dung của thông tin được công bố, đại diện các nghiên cứu này gồm: 9 Nguyễn Thị Hồng Oanh (2008), với bài luận văn thạc sĩ của mình, tác giả đã khảo sát thực tế các nhà đầu tư về những thông tin trên BCTC mà nhà đầu tư quan tâm, dựa vào đó tác giả xem xét khả năng thỏa mãn của nhà đầu tư khi sử dụng các thông tin này. Từ đó đưa đến kết luận, vấn đề trình bày và công bố thông tin BCTC của các công ty niêm yết chưa thực sự hữu ích đối với các nhà đầu tư như: việc tính toán các số liệu tài chính khó khăn, thiếu thông tin, tiếp cận thông tin khó khăn và thông tin được công bố chưa kịp thời.
Nguyễn Đình Hùng (2010), trong luận án tiến sĩ, tác giả xác định sự minh bạch thông tin tài chính có thể xem là sự sẵn có của các thông tin tài chính cho người sử dụng và nó được thể hiện qua các đặc tính: sự kịp thời, sự thuận tiện, sự chính xác, sự đầy đủ và sự nhất quán. Tác giả xác định 6 yếu tố kiểm soát sự minh bạch: Hệ thống chuẩn mực kế toán, quy định liên quan đến công bố BCTC, Hệ thống kiểm soát nội bộ, Ban giám đốc, Kiểm toán độc lập và Ban kiểm soát. Từ việc khảo sát sự tác động cỉa 6 yếu tố này đến các đặc tính của sự minh bạch các công ty niêm yết tại Việt Nam, tác giả đưa ra những kiến nghị liên quan đến 6 yếu tố để tăng cường sự minh bạch thông tin tài chính các công ty niêm yết tại Việt Nam. Lê Trường Vinh (2008) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư”.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra 2 nhóm đặc điểm ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin. Loại thứ nhất bao gồm các đặc điểm thuộc về tài chính và loại thứ hai là các đặc điểm thuộc về quản trị doanh nghiệp. Những đặc điểm thuộc về tài chính bao gồm: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tình hình tài chính, tài sản cầm cố, hiệu quả sử dụng tài sản. Những đặc điểm về quản trị doanh nghiệp: mức độ tập trung vốn chủ sở hữu, cơ cấu HĐQT, quy mô HĐQT.
Và do giới hạn về đề tài nên tác giả chỉ đi sâu vào tìm hiểu về nhóm đặc điểm tài chính ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin. Ngoài ra, năm 2011 trong bài viết của tác giả Đặng Thị Thúy Hằng, tác giả quan tâm đến công bố thông tin ở một góc độ khác về công bố thông tin kế toán. Tác giả xem xét thông tin mà doanh nghiệp công bố dưới hai góc độ là thông tin bắt buộc 10 và thông tin tự nguyện. Qua đó, đã đánh giá thực trạng công bố thông tin kế toán các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam thông qua các yếu tố như: tính kịp thời, sử dụng giá trị hiện tại trong kế toán, chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán và công bố các thông tin tự nguyện.