Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu Luan van 4 Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay có nhiều nghiên cứu về EPS, tuy nhiên đa số các nghiên cứu này chỉ đề cập đến tính hữu dụng của EPS. Một số nghiên cứu lại tập trung vào mối liên hệ giữa EPS và giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán (Đinh Bảo Ngọc và Nguyễn Chí Cường, 2014; Phạm Hồng Thái và Lê Dũng Hiệp, 2016). Các nghiên cứu CBTT về EPS trên BCTC còn rất ít, chẳng hạn như nghiên cứu Holgate và Kirby (1994) thực hiện ở Anh, Harrison và Morton (2010) thực hiện ở Úc, hay gần đây nhất là một nghiên cứu có liên quan của Nguyễn Hữu Cường (2015).
Holgate và Kirby (1994) đã khảo sát các BCTC năm của 100 công ty tại Anh để đánh giá chuẩn mực báo cáo tài chính FRS (Financial Reporting Standard) 3 “Reporting Financial Performance”, có ảnh hưởng như thế nào đến việc CBTT về EPS của các công ty. Kết quả nghiên cứu chỉ có 54 công ty CBTT về EPS trong BCTC. Nghiên cứu này sử dụng thống kê mô tả và chỉ dừng lại ở mức độ CBTT tự nguyện, không đánh giá mức độ CBTT bắt buộc. Còn ở Úc, Harrison và Morton (2010) nghiên cứu mức độ CBTT tự nguyện về EPS trên BCTC năm.
Kết quả nghiên cứu ghi nhận được trong số 94 CTNY được khảo sát thì có 81% công ty công bố ít nhất một trong hai chỉ tiêu ESP (EPS cơ bản, EPS pha loãng) nhưng đại đa số là CBTT về EPS cơ bản và hầu hết các CTNY không công bố chi tiết về thông tin EPS. Tại Việt Nam, Nguyễn Hữu Cường (2015) đã nghiên cứu về mức độ tuân thủ đối với yêu cầu CBTT trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên Luan van 5 thị trường chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu được thực hiện trên BCTC quý 2 năm 2012 và BCTC bán niên năm 2012 của 100 CTNY có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất ở Việt Nam tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2011. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ yêu cầu trình bày chỉ tiêu EPS cơ bản trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (KQHĐKD) của các CTNY ở Việt Nam được khảo sát là khá cao: 99% đối với BCTC bán niên và 79% đối với BCTC quý 2, ngược lại mức độ tuân thủ CBTT đối với chỉ tiêu EPS pha loãng còn rất thấp: 28% đối với BCTC bán niên và 2% đối với BCTC quý 2. Nghiên cứu này tập trung vào CBTT bắt buộc và tùy ý trên BCTC giữa niên độ, việc CBTT về EPS là một phần nhỏ trong nghiên cứu và trong nghiên cứu không đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT về EPS.
Theo tìm hiểu của tác giả thì các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC ở Việt Nam hay ở các nước khác vẫn chưa có, trong khi đó EPS là chỉ tiêu rất quan trọng đối với các nhà đầu tư. Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT trên BCTC của các CTNY như mức độ trì hoãn công bố BCTC, quy mô doanh nghiệp (DN), loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài, đòn bẩy nợ, lợi nhuận, khả năng thanh toán, tỷ suất sinh lời, kiểm toán độc lập, đặc điểm của hội đồng quản trị, thời gian niêm yết của DN (chẳng hạn như, Ngô Thu Giang, 2014; Nguyễn Thị Thu Hảo, 2015; Vũ Thị Mai Hương, 2017; Dương Ngọc Như Quỳnh, 2017; Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc, 2018). Tóm lại, nghiên cứu trước đây tập trung vào sự ảnh hưởng của EPS đến giá cổ phiếu và các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT trên BCTC của các CTNY, chưa có nghiên cứu nào đo lường mức độ CBTT về EPS trên BCTC và nhân tố ảnh hưởng. Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu về CBTT về EPS trong BCTC của các CTNY ở Việt Nam trong luận văn này hy vọng có được những đóng góp nhất định về học thuật cũng như thực tiễn.
Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỐ PHIẾU 1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU 1. Khái niệm về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phiếu phổ thông đang được lưu hành trên thị trường. Tại Việt Nam, theo VAS 30 quy định EPS có hai loại gồm: EPS cơ bản và EPS pha loãng.
Trong đó, EPS cơ bản được tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ (tử số) cho số lượng bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ (mẫu số); Còn EPS pha loãng được tính bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ và số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành đã được điều chỉnh do ảnh hưởng của các cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động pha loãng. Khái niệm về công bố thông tin Theo sổ tay CBTT dành cho CTNY của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (2013), CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm bảo đảm các cổ đông và công chúng có thể tiếp cận thông tin. CBTT kế toán là cung cấp thông tin thông qua hệ thống các BCTC của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên). Vai trò của công bố thông tin Việc CBTT đầy đủ và kịp thời sẽ làm gia tăng tính minh bạch và ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của các nhà đầu tư, mức độ CBTT càng tốt càng Luan van 7 làm giảm tình trạng thông tin bất đối xứng giữa các nhà đầu tư và công ty, làm tăng giá trị và thanh khoản của cổ phiếu trên thị trường (Johansen và Plenborg, 2013).
Ngược lại, việc CBTT không tốt có thể làm gia tăng chi phí vốn, dẫn đến việc phân bổ các nguồn vốn không hiệu quả (Albitar, 2015). Như vậy, có thể thấy CBTT không chỉ là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo pháp luật, mà còn là quyền lợi của công ty trong việc nâng cao uy tín và hình ảnh trên thị trường, là cách thuyết phục hiệu quả nhất đối với nhà đầu tư, thể hiện tính chuyên nghiệp, tôn trọng cổ đông của công ty, là cơ sở để phát triển bền vững và tăng giá trị công ty. Mức độ CBTT của các DN được giải thích bởi nhiều lý thuyết khác nhau, nhưng điểm chung của các lý thuyết này là mức độ tuân thủ phụ thuộc vào sự cân nhắc chi phí – lợi ích liên quan đến thông tin được công bố (Depoers, 2000, Bellora và Guenther, 2013, được trích dẫn bởi Nguyễn Hữu Cường, 2015). Phân loại công bố thông tin Phân loại theo yêu cầu công bố thông tin - Thông tin bắt buộc: Thông tin phải công bố bắt buộc là các thông tin mà các văn bản pháp luật có liên quan quy định các CTNY phải công bố theo quy định.
Thông tin bắt buộc phải công bố trên các BCTC được quy định tùy thuộc vào từng quốc gia và vùng lãnh thổ thông qua các hội nghề nghiệp hoặc các cơ quan quản lý nhà nước. - Thông tin tự nguyện: là các thông tin mà các CTNY tự nguyện công bố để nhà đầu tư hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động của công ty mà các công ty này không bắt buộc phải công bố theo quy định. Thông tin tự nguyện công bố bổ sung những thiếu hụt của thông tin bắt buộc nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng. Mức độ công bố những thông tin này tùy thuộc vào sự lựa chọn của DN.
Luan van 8 - Thông tin tùy ý: CBTT tùy ý là một trường hợp đặc biệt của CBTT bắt buộc. CBTT tùy ý phát sinh khi những thông tin bắt buộc phải công bố theo quy định của pháp luật nhưng chưa được các văn bản pháp luật quy định chi tiết về chừng mực của thông tin được công bố nên DN có thể tùy ý điều chỉnh mức độ CBTT nhiều hay ít. Phân loại thông tin theo tính chất định kỳ hoặc bất thường - Thông tin định kỳ: Các thông tin công bố định kỳ thường là được công bố trên BCTC năm và BCTC giữa niên độ. - Thông tin bất thường: Bao gồm CBTT bất thường theo quy định như tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại bình thường sau khi bị phong tỏa và CBTT khác phải công bố theo yêu cầu cầu của các SGDCK hay các co quan quản lý.
Phân loại thông tin theo mức độ xử lý - Thông tin ban đầu: Là những BCTC do DN công bố trên thị trường. - Thông tin đã được xử lý: Là những thông tin được thống kê lại từ những thông tin ban đầu nhằm nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Quy định về công bố thông tin về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu Hiện nay, việc CBTT về EPS trên BCTC tuân thủ theo quy định tại VAS 30 “Lãi trên cổ phiếu” (Bộ Tài Chính, 2005). VAS 30 quy định DN trình bày thông tin về EPS cơ bản và EPS pha loãng trên báo cáo KQHĐKD và trình bày trên bản thuyết minh BCTC.
Thông tin cơ bản cần công bố gồm lợi nhuận hoặc lỗ, số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông để tính EPS cơ bản và EPS pha loãng, các công cụ có thể có tác động pha loãng EPS trong tương lai, các giao dịch cổ phiếu phổ thông hoặc giao dịch cổ phiếu phổ thông tiềm năng xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Luan van 9 VAS 27 “Báo cáo tài chính giữa niên độ” quy định EPS trước và sau ngày phân phối cần phải được trình bày trong báo cáo KQHĐKD đầy đủ hoặc tóm lược của kỳ kế toán giữa niên độ. Khuyến khích DN CBTT về EPS giống như trong BCTC năm (Bộ Tài chính, 2005). Ngoài các chuẩn mực kế toán trên, Chế độ kế toán cũng có yêu cầu về công bố EPS và hướng dẫn cách tính EPS cơ bản cũng như EPS pha loãng (Bộ Tài chính, 2014).
Các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam đều phải tuân thủ quy định về CBTT theo Thông tư 155/2015/TT-BTC về hướng dẫn CBTT trên thị trường chứng khoán (Bộ Tài chính, 2015).