Chương 1 đã chỉ ra tính cấp thiết việc lựa chọn đề tài nghiên cứu “Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam”. Từ đó đưa ra các mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể và các mục tiêu sẽ được giải đáp thông qua các câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Theo đó, tác giả trình bày về đối tượng và phạm vi của nghiên cứu. Sử dụng đồng thời hai phương pháp là nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính.
Bên cạnh đó, trình bày các đóng góp của nghiên cứu. Cuối cùng, ở chương này trình bày bố cục của bài nghiên cứu và nội dung chính mỗi chương. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI 2.1 Cấu trúc sở hữu Cấu trúc sở hữu đƣợc hiểu theo hai khía cạnh nhƣ sau: tập trung quyền sở hữu và sở hữu hỗn hợp. Tập trung sở hữu đề cập đến phần của chủ sở hữu lớn nhất và bị ảnh hƣởng bởi rủi ro tuyệt đối và chi phí giám sát, trong khi sở hữu hỗn hợp lại có mối liên quan đến danh tính của cổ đông lớn nhƣ mức độ tập trung quyền sở hữu, sở hữu nƣớc ngoài, sở hữu trong nƣớc, v.
(Anstoniadis và cộng sự, 2010) Theo Jensen và Meckling (1976) là những nhà nghiên cứu đầu tiên đặt nền tảng nghiên cứu về cấu trúc sở hữu đối với tài chính doanh nghiệp, cho rằng có thể phân loại cấu trúc sở hữu theo các hình thức sở hữu bên trong và sở hữu bên ngoài. Sở hữu bên trong đƣợc xem nhƣ là tỷ lệ vốn cổ phần đƣợc nắm giữ bởi nhà quản lý. Sở hữu bên ngoài là tỷ lệ sở hữu cổ phần của các nhà đầu tƣ không tham gia trực tiếp vào quản lý công ty. Rose (1998), khái niệm về lợi nhuận ngân hàng cơ bản đạt đƣợc từ các hoạt động cho vay của ngân hàng thông qua sự khác nhau về lãi suất của ngƣời gửi tiền và ngƣời vay tiền.
Ngoài ra, còn thu từ khoản đầu tƣ chứng khoán, tiền gửi hƣởng lãi tại các ngân hàng khác và tài sản có sinh lời. Bên cạnh đó, còn có chi phí phát sinh trong quá trình có thu nhập. Lợi nhuận của ngân hàng đƣợc xem là sự chênh lệch các khoản phải thu và chi phí. Theo Fazlzadeh (2011), tác giả đã dựa trên quan điểm nhà quản lý của các doanh nghiệp cho thấy có thể phân loại cấu trúc sở hữu theo mức độ tập trung và phân tán.
Cấu trúc sở hữu có các hình thức khác nhau nên sẽ có những ƣu điểm và nhƣợc điểm riêng, cũng nhƣ nhiều thách thức cho nhà quản trị công ty. Cấu trúc sở hữu tập trung là cơ chế mà mỗi cá nhân hoặc nhiều cá nhân sở hữu tập hợp lại thành nhóm các cá nhân sở hữu lƣợng lớn cổ phần trong công ty và đƣợc coi là cơ chế nội bộ. Trong công ty, nhóm cổ đông sở hữu lƣợng lớn cổ phần có thể kiểm soát công ty. Họ có thể tham gia hội đồng quản trị và giám đốc, những cổ đông thiểu số sẽ 7 không thể tác động vào các quyết định quan trọng dù có quyền biểu quyết.
Ƣu điểm của cấu trúc sở hữu tập trung là do công ty đƣợc kiểm soát bởi những ngƣời nội bộ nên họ có quyền lực và động cơ để kiểm soát chặt chẽ công ty, do đó giảm thiểu sai sót hoặc gian lận trong quản trị. Ngoài ra, do nắm quyền sở hữu và kiểm soát, họ có xu hƣớng nắm giữ vốn đầu tƣ trong doanh nghiệp trong một thời gian dài. Do đó, họ sẽ ủng hộ các quyết định có lợi ích dài hạn hơn các quyết định có lợi ích ngắn hạn. Tuy nhiên, cấu trúc sở hữu tập trung cũng có thể dẫn đến thất bại trong quản lý doanh nghiệp.
Với cấu trúc sở hữu phân tán, không một cá nhân hay một nhóm cá nhân, tổ chức nào sở hữu phần lớn vốn của công ty, và ở nhóm này, quyền kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp do ban giám đốc nắm giữ, và các cổ đông thiểu số sẽ có quyền bỏ phiếu để tham gia vào việc ra quyết định của công ty.2 Khả năng sinh lời Theo Nugraha và Fahmi (2012) khả năng sinh lời đƣợc hiểu là một tỷ số đo lƣờng hiệu quả quản lý nhằm vào quy mô của mức độ lợi nhuận thu đƣợc từ nhà bán hàng và nhà đầu tƣ. Sau đó, theo Susyana (2021) khả năng sinh lời đƣợc xem là tỷ lệ xác định năng lực của công ty để kiếm thu nhập từ tất cả các khả năng và nguồn lực hiện tại của nó, chẳng hạn nhƣ hoạt động bán hàng, tiền vốn, số lƣợng nhân viên, số lƣợng chi nhánh, v. Theo Howard và Upton (1953), khả năng sinh lời là năng lực một công ty thu đƣợc lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của họ. Nó là thƣớc đo hiệu quả quản lý khi doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn lực sẵn có trên thị trƣờng để tạo ra lợi nhuận.
Khả năng sinh lời đƣợc coi là một khoản đầu tƣ nhằm thu đƣợc lợi nhuận từ việc sử dụng nó. Theo Wen (2010), nghiên cứu “tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời” ở Trung Quốc. Trong bài nghiên cứu, đã dùng biến phụ thuộc là: tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) làm thƣớc đo khả năng sinh lời, ông không phát hiện về sự tƣơng quan rõ ràng nào giữa cấu trúc sở hữu và khả năng sinh lời của ngân hàng nói chung, mặc dù các NHTM nhà nƣớc (SOCBs) có thể có mối tƣơng quan bậc hai với ROE. 8 Khả năng sinh lời là mục tiêu chính của ngân hàng thƣơng mại.
Hầu hết các chiến lƣợc đƣợc vẽ ra và các hoạt động đƣợc thực hiện đều nhằm mục đích lớn này. Ngoài ra, các NHTM cũng quan tâm đến các hoạt động kinh tế và xã hội khác. Khả năng sinh lời của các ngân hàng thƣơng mại đƣợc đánh giá bằng nhiều tỷ lệ khác nhau trong đó có: Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và Biên độ lãi ròng (NIM) là những tỷ lệ chính. (Murthy và Sree, 2003) ROE là một tỷ lệ tài chính đề cập đến số tiền lãi mà một công ty kiếm đƣợc so với tổng số vốn cổ đông đã đầu tƣ.
ROE là những gì các cổ đông tìm kiếm để đổi lấy khoản đầu tƣ của họ. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp cao có nhiều khả năng là một doanh nghiệp có khả năng tạo ra tiền mặt trong nội bộ. Do đó, ROE càng cao thì công ty càng tạo ra lợi nhuận tốt hơn. Khrawish (2011) giải thích ROE thể hiện tỷ lệ lợi nhuận thu đƣợc từ các khoản tiền đầu tƣ vào ngân hàng bởi các cổ đông của nó.
ROE phản ánh mức độ hiệu quả của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc dùng tiền của các cổ đông. Nhƣ vậy, có thể suy ra từ nhận định trên rằng ROE càng tốt thì các nhà quản trị sử dụng vốn cổ đông càng hiệu quả. ROA là một tỷ số đo lƣờng khả năng của ban quản lý ngân hàng bằng cách sử dụng tài sản của chính ngân hàng đó. Nói cách khác, nó cho thấy hiệu quả sử dụng nguồn lực của mỗi ngân hàng để tạo ra thu nhập.
Nó còn cho thấy hiệu quả quản lý của một công ty trong việc tạo ra thu nhập ròng từ tất cả các nguồn lực của tổ chức (Khrawish, 2011). Theo Wen (2010), nếu ROA cao thì cho thấy ngân hàng sử dụng tốt nguồn lực của mình. ROA đƣợc đo lƣờng qua công thức: NIM là thƣớc đo sự khác biệt giữa thu nhập lãi do các ngân hàng tạo ra và số tiền lãi trả cho ngƣời gửi tiền của họ, so với số lƣợng tài sản của họ. Nó thƣờng đƣợc thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm số tiền mà tổ chức tài chính kiếm đƣợc từ các 9 khoản cho vay trong một khoảng thời gian cụ thể và các tài sản khác trừ đi tiền lãi phải trả cho các khoản vay chia cho số tiền trung bình của tài sản mà nó kiếm đƣợc thu nhập trong khoảng thời gian đó (số tiền trung bình tài sản sinh lời).
Biến NIM đƣợc định nghĩa là thu nhập lãi ròng trừ chi phí chia cho tổng tài sản thu nhập. (Gul và cộng sự 2011) Ở nghiên cứu này, tác giả đã chọn ROA và ROE đại diện cho khả năng sinh lời của ngân hàng. Vì với đại diện là các ngân hàng thƣơng mại thì chỉ số ROE vô cùng cần thiết nó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu và phản ánh giá trị ngân hàng mang lại cho các cổ đông. Bên cạnh đó, chỉ số ROE giúp các nhà quản trị công ty biết đƣợc số vốn sở hữu mà công ty bỏ ra để kinh doanh sẽ thu về bao nhiêu lợi nhuận ròng.
Khác với công ty truyền thống thì ngân hàng thƣơng mại là một chủ thể kinh doanh dựa trên vốn huy động bên cạnh nguồn vốn tự có nên chỉ số ROA là rất quan trọng. Tài sản ngân hàng là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện quy mô của ngân hàng đó. Với ROA thì nhà đầu tƣ sẽ biết đƣợc ngân hàng kiếm đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng tài sản.3 Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của NHTMCP Việt Nam Các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng có thể đƣợc phân loại thành 2 loại cụ thể các yếu tố bên trong ngân hàng (nội bộ) và các yếu tố bên ngoài ngân hàng (vĩ mô) (Al-Tamimi, 2010). Các yếu tố bên trong về cơ bản chịu ảnh hƣởng bởi các quyết định nội bộ của ban quản lý và hội đồng quản trị.
Các yếu tố bên ngoài là các yếu tố toàn ngành hoặc toàn quốc nằm ngoài tầm kiểm soát của công ty và ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Thứ nhất, sở hữu nhà nƣớc Sở hữu nhà nƣớc hay chính phủ với tƣ cách là chủ sở hữu hoặc cổ đông lớn của ngân hàng có quyền định hƣớng và kiểm soát các hoạt động của ngân hàng theo 10 các mục tiêu chính trị xã hội mà ngân hàng muốn đạt đƣợc, có khả năng tạo ra mâu thuẫn với ban lãnh đạo ngân hàng. Các quan chức chính trị có những mục tiêu thƣờng xuất phát từ lợi ích chính trị nhƣng trái ngƣợc với mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và giúp cho doanh nghiệp tối đa hóa giá trị (MM Cornett và cộng sự, 2010). Sở hữu nhà nƣớc còn đƣợc gọi là sở hữu chính phủ hay sở hữu công.