Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm bối cảnh thực hiện và lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận án và kết cấu của luận án. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về cạnh tranh ngân hàng, sự ổn đinh tài chính và tác động của cạnh tranh đến ổn định tài chính 7 Đưa ra các lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu liên quan đã được thực hiện để hình thành mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thiết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu và mô tả dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Phân tích thực nghiệm về cạnh tranh ngân hàng, sự ổn đinh tài chính và tác động của cạnh tranh đến ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016 Trình bày kết quả nghiên cứu về cạnh tranh ngân hàng, sự ổn đinh tài chính và tác động của cạnh tranh đến ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016 Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trình bày kết luận chính của luận án và đưa ra các hàm ý chính sách.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CẠNH TRANH NGÂN HÀNG, SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CẠNH TRANH ĐẾN ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH 2. Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh NHTM 2. Khái niệm Từ khi nền kinh tế hàng hóa xuất hiện thì đã có cạnh tranh và cạnh tranh đã đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa theo thời gian. Rất nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu về cạnh tranh và cũng có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh.
Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất. Theo Porter (1998), cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980).
Samuelson và Nordhaus (1985) cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường Theo Smith (1776), lợi thế cạnh tranh dựa trên lợi thế tuyệt đối về năng suất lao động. Năng suất lao động cao có nghĩa là chi phí sản xuất giảm. Theo Porter (1980), lợi thế cạnh tranh trước hết dựa vào khả năng duy trì một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hóa sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh. Christensen (2010) cho rằng lợi thế cạnh tranh là bất cứ giá trị nào mà một doanh nghiệp cung cấp nhằm thúc đẩy khách hàng mua sản phẩm hoặc dịch vụ của 9 họ hơn là sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh và tạo rào cản đối với đối thủ tiềm năng và hiện tại Lợi thế cạnh tranh có thể được định nghĩa là lợi thế mà một doanh nghiệp có được trong khi các doanh nghiệp khác không có được, lợi thế cạnh tranh này có thể nằm ngay bên trong doanh nghiệp hoặc bên ngoài doanh nghiệp.
Trong những thập niên gần đây, khái niệm năng lực cạnh tranh đã được đề cập đến và được xem xét ở nhiều cấp độ khác nhau ví dụ như: năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia, năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh giữa các sản phẩm dịch vụ. Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF): năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh (trong nước và ngoài nước). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần của doanh nghiệp có được. Kazarenkova (2006) định nghĩa năng lực cạnh tranh ngân hàng là khả năng thực tế cũng như tiềm năng của một tổ chức tín dụng để tạo ra và phát triển những sản phẩm dịch vụ mang tính cạnh tranh cao trên thị trường nhằm xây dựng hình ảnh tích cực của một ngân hàng hiện đại đáng tin cậy trong việc đáp ứng các nhu cầu từ phía khách hàng.
Theo Nguyễn Thị Quy (2008), năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh. Nguyễn Thanh Phong (2010) định nghĩa năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh. 10 Gorditsa (2012) cho rằng năng lực cạnh tranh của các NHTM trong điều kiện hiện đại được xác định bởi mức độ đáp ứng của nó đối với các nhu cầu của khách hàng và tỷ lệ gia tăng khách hàng của ngân hàng. Tóm lại, năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.
Tính đặc thù trong cạnh tranh của các NHTM Nhìn chung, cạnh tranh giữa các NHTM có những điểm tương đồng với sự cạnh tranh của các tổ chức kinh tế khác trong nền kinh tế. Tuy nhiên, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng có những điểm khác biệt với cạnh tranh trong các lĩnh vực khác do tính chất đặc thù trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của các NHTM. Thứ nhất, cạnh tranh ngân hàng dựa trên uy tín thương hiệu và sự cảm nhận. Có rất ít sự khác biệt về sản phẩm cốt lõi giữa các ngân hàng do sản phẩm mà các NHTM cung cấp cho khách hàng là dạng dịch vụ, vô hình, đồng nhất, dễ bị sao chép.
Chính sách lãi suất thường chịu sự giám sát chặt chẽ của Ngân Hàng Nhà Nước, do đó cạnh tranh về giá (lãi suất và phí) hầu như bị kiểm soát rất chặt. Vì vậy, cạnh tranh giữa các ngân hàng chủ yếu dựa vào uy tín, thương hiệu, cảm nhận của khách hàng hơn là sự khác biệt về sản phẩm hay cạnh tranh về giá (Hồ Thiên Thanh và Nguyễn Chí Đức, 2012). Thứ hai, mối quan hệ giữa các NHTM không chỉ là mối quan hệ cạnh tranh mà còn là hợp tác và chia sẻ rủi ro với nhau. Hoạt động kinh doanh của các NHTM liên quan đến hầu hết các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội và đến từng cá nhân thông qua nghiệp vụ huy động vốn và tín dụng.
Đồng thời, trong quá trình hoạt động, các NHTM cũng mở tài khoản cho nhau để phục vụ cho các khách hàng chung, bên cạnh đó, trong quá trình tác nghiệp các ngân hàng cũng phải hợp tác với nhau để thực thi các chức năng có tính hệ thống như thanh toán bù trừ, liên minh thanh toán thẻ, cho vay hợp vốn, đồng bảo lãnh. Ngoài ra, các NHTM còn chia sẻ thông tin khách hàng để giảm thiểu rủi ro khách hàng gian lận, ngăn chặn tác động 11 dây chuyền làm sụp đổ hệ thống. Việc một ngân hàng gặp khó khăn trong kinh doanh sẽ ảnh hưởng đến các ngân hàng khác, và đến cả các tổ chức tài chính phi ngân hàng, dẫn đến phản ứng Domino mang tính dây chuyền, hậu quả là sự đổ vỡ của cả thị trường tài chính – tiền tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế. Vì thế, trong quá trình hoạt động các NHTM một mặt phải cạnh tranh với nhau để mở rộng thị phần nhưng mặt khác phải luôn hợp tác với nhau để đảm bảo sự lành mạnh của cả hệ thống để tránh xảy ra rủi ro hệ thống (Nguyễn Trọng Tài, 2008).
Một điểm quan trọng nữa đó là các NHTM phải cạnh tranh lành mạnh, tránh các hình thức cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn để làm sụp đổ hay thôn tính lẫn nhau, bởi vì hậu quả của nó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ nền kinh tế. Thứ ba, cạnh tranh ngân hàng chịu sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng nhằm đảm bảo sự an toàn, ổn định, ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro hệ thống. Chính vì tầm ảnh hưởng quan trọng của hệ thống NHTM đối với nền kinh tế mà các tổ chức này phải chịu sự chi phối rất chặt chẽ bởi môi trường pháp lý để tránh xảy ra sự suy sụp của nền kinh tế do sự đổ vỡ của một ngân hàng. Thứ tư, hội nhập quốc tế có vai trò quan trọng tác động đến cạnh tranh ngân hàng.
Ngày nay, hoạt động kinh doanh ngân hàng đã vượt ra khỏi phạm vi trong một nước nhằm hổ trợ cho hoạt động kinh tế đối ngoại. Cùng với quá trình hội nhập, từng bước tự do hóa dòng vốn, các NHTM trong nước cần phải liên kết với các NHTM nước ngoài để thực hiện đầy đủ và hiệu quả các dịch vụ của mình. Do vậy, cạnh tranh trong ngân hàng chịu sự chi phối không chỉ bởi luật pháp của quốc gia mà còn phải chịu sự chi phối của nhiều quy định, thông lệ quốc tế. Điều đó cũng có nghĩa là sự cạnh tranh giữa các NHTM là một loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi các chuẩn mực khắt khe hơn hơn bất cứ loại hình kinh doanh nào khác trong nền kinh tế (Nguyễn Trọng Tài, 2008).
Phương pháp đo lường Các nghiên cứu trên thế giới đo lường cạnh tranh ngân hàng bằng nhiều phương pháp khác nhau, có thể kể đến như phương pháp cấu trúc thị trường dựa 12 trên lý thuyết cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP: structure – conduct – performance) và phương pháp phi cấu trúc dựa trên các chỉ số tập trung (concentration ratios). Phương pháp cấu trúc thị trường (market structures) Phương pháp này dựa trên lý thuyết cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP: structure – conduct – performance).