Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số 62.01) của nghiên cứu sinh Nguyễn Lưu Tuyền, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lâm Thị Hồng Hoa và TS. Lê Hồ An Châu, mang tiêu đề: "Tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam".
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của ngành tài chính ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016 nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống. Trong giai đoạn này, hoạt động mua bán, sáp nhập và cơ cấu lại các tổ chức tín dụng diễn ra mạnh mẽ theo Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 01/03/2012. Quá trình xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém và sáp nhập bắt buộc đã làm giảm số lượng ngân hàng thương mại trong hệ thống, làm dấy lên quan ngại về việc suy giảm mức độ cạnh tranh cũng như xáo trộn mức độ ổn định tài chính. Bên cạnh đó, bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) năm 2015 và tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) với Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Chi-lê và Liên minh Á – Âu đặt ra áp lực cạnh tranh gay gắt. Về mặt học thuật, mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng tồn tại hai luồng quan điểm đối lập là "cạnh tranh – dễ vỡ" và "cạnh tranh – ổn định", nhưng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam hầu như chỉ tiếp cận đơn lẻ một khía cạnh hoặc chưa kiểm định tác động trong điều kiện khủng hoảng tài chính.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích tác động của cạnh tranh đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam thông qua kiểm định hai giả thuyết "cạnh tranh – ổn định" và "cạnh tranh – dễ vỡ", từ đó thảo luận các hàm ý chính sách. Luận án xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Đo lường mức độ cạnh tranh và phân tích các yếu tố tác động đến mức độ cạnh tranh của các NHTM Việt Nam.
- Đo lường mức độ ổn định tài chính và phân tích các yếu tố tác động đến mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam.
- Kiểm định tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam thông qua kiểm định 2 giả thuyết: "cạnh tranh – ổn định" và "cạnh tranh – dễ vỡ".
Tương ứng với các mục tiêu trên, luận án giải quyết năm câu hỏi nghiên cứu:
- Mức độ cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2016 như thế nào?
- Các yếu tố nào tác động đến mức độ cạnh tranh của các NHTM Việt Nam?
- Mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2016 như thế nào?
- Các yếu tố nào tác động đến mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam?
- Tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam ủng hộ giả thuyết: "cạnh tranh – ổn định" hay "cạnh tranh – dễ vỡ"?
Đối tượng nghiên cứu là tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính của NHTM, trong đó mức độ cạnh tranh được đại diện bằng chỉ số Lerner và sự ổn định tài chính được đại diện bằng mức độ rủi ro phá sản thông qua chỉ số Z-score. Phạm vi nghiên cứu về không gian giới hạn ở 24 NHTM cổ phần tại Việt Nam có đầy đủ dữ liệu báo cáo tài chính liên tục; phạm vi thời gian là giai đoạn 2008 – 2016. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm 31/12/2016, toàn hệ thống có 35 NHTM; tổng tài sản của 24 NHTM trong mẫu đạt 5.649 nghìn tỷ đồng, chiếm 72% tổng tài sản của toàn hệ thống NHTM Việt Nam, đảm bảo tính đại diện thống kê cho thị trường ngân hàng trong nước.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án tập trung hệ thống hóa hai trường phái lý thuyết đối lập về mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng, cùng các bằng chứng thực nghiệm quốc tế và trong nước:
Thứ nhất, quan điểm "cạnh tranh – dễ vỡ" (competition-fragility view) được khởi xướng và ủng hộ bởi các nghiên cứu của Marcus (1984), Keeley (1990), Boot và Greenbaum (1993), Allen và Gale (2000, 2004), Carletti và Hartmann (2003), Boyd và cộng sự (2004), Carletti (2008), và Berger và cộng sự (2009). Theo học thuyết giá trị thương hiệu (franchise value), cạnh tranh gia tăng làm xói mòn sức mạnh thị trường, thu hẹp biên lợi nhuận, dẫn tới giảm giá trị thương hiệu của ngân hàng. Khi giá trị thương hiệu sụt giảm, chi phí cơ hội của việc phá sản thấp đi, kích thích nhà quản trị chấp nhận danh mục tài sản rủi ro cao hơn để tìm kiếm lợi nhuận, từ đó làm suy yếu tính ổn định của hệ thống. Đồng thời, thị trường cạnh tranh làm suy giảm mối quan hệ gắn bó lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng, hạn chế lượng thông tin thu thập được và cản trở việc kiểm định hồ sơ tín dụng. Ngược lại, mức độ tập trung độc quyền cao tạo ra "mức đệm vốn dự phòng" giúp ngân hàng hấp thụ tốt hơn các cú sốc kinh tế vĩ mô và thanh khoản.
Thứ hai, quan điểm "cạnh tranh – ổn định" (competition-stability view) được phát triển bởi Mishkin (1999), Caminal và Matutes (2002), Boyd và De Nicoló (2005), Beck (2006), Schaeck (2006), Turk-Ariss (2010), và Fu và cộng sự (2014). Mishkin (1999) nhấn mạnh vấn đề "quá lớn để sụp đổ" (too-big-to-fail) tại các thị trường tập trung cao, nơi các ngân hàng quy mô lớn ỷ lại vào các gói cứu trợ của chính phủ, dẫn tới rủi ro đạo đức và hành vi đầu tư mạo hiểm. Boyd và De Nicoló (2005) lập luận rằng trong thị trường ít cạnh tranh, các ngân hàng có sức mạnh độc quyền sẽ ấn định mức lãi suất cho vay cao; chi phí nợ gia tăng đẩy người vay vào tình trạng kiệt quệ tài chính hoặc lựa chọn các dự án có độ rủi ro cao để bù đắp chi phí lãi vay, làm gia tăng nợ xấu và xác suất vỡ nợ của ngân hàng. Ngoài ra, Martinez-Miera và cộng sự (2010) phát hiện tác động bù trừ giữa rủi ro đạo đức của khách hàng và thu nhập từ lãi vay biên độ cao, tạo ra mối quan hệ phi tuyến hình chữ U giữa cạnh tranh và mức độ ổn định.
Về bằng chứng thực nghiệm đo lường cạnh tranh và ổn định, tác giả điểm lại các công trình của Fernandes và cộng sự (2005), Goddard và cộng sự (2013), Laurent (2013) tại thị trường châu Âu; Fungáčová và cộng sự (2010) tại Nga; Demirgüç-Kunt và Peria (2010) tại Jordan; Bolt và Humphrey (2012) tại Mỹ; Repková (2012) tại Séc; Simpasa (2013) tại Zambia; Hamza và Kachtouli (2014) tại Trung Đông, Bắc Phi và Đông Nam Á; Saibu (2015) tại Nigeria. Về đo lường ổn định bằng chỉ số Z-score, tác giả khảo sát các công trình của Hesse và Čihák (2007) trên 29 nước OECD, Ivičić và cộng sự (2008) tại 7 nước Trung và Đông Âu, và Soedarmono và cộng sự (2011) trên 12 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây phân tách thành hai nhánh biệt lập:
- Nhóm nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự ổn định tài chính: Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Bá Hướng (2016), Hoàng Công Gia Khánh và Trần Hùng Sơn (2015), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015), Nguyễn Đăng Tùng và Bùi Thị Len (2015).
- Nhóm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh: Phan Thị Thơm và Thân Thị Thu Thủy (2015), Võ Xuân Vinh và Dương Thị Ánh Tiên (2017).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện:
- Thiếu vắng các công trình định lượng nghiên cứu trực tiếp và đồng thời mối quan hệ tác động qua lại giữa mức độ cạnh tranh và sự ổn định tài chính trong hệ thống NHTM Việt Nam.
- Các nghiên cứu trước đây chưa cập nhật chuỗi dữ liệu sau giai đoạn tái cơ cấu 2011-2015 đến năm 2016.
- Chưa xem xét, phân tách tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính trong các bối cảnh điều kiện kinh tế khác nhau, đặc biệt là điều kiện khủng hoảng tài chính (năm 2008, 2009) so với điều kiện bình thường.
- Đa số nghiên cứu chỉ đánh giá các biến số nội tại của ngân hàng mà chưa kết hợp đầy đủ với các yếu tố vĩ mô và xem xét dạng quan hệ phi tuyến.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm và học thuyết nền tảng về tổ chức ngành và lý thuyết tài chính ngân hàng:
Về cạnh tranh ngân hàng, tác giả tổng hợp lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Adam Smith (1776) về năng suất lao động tuyệt đối; Michael Porter (1980, 1998) về cấu trúc chi phí thấp, sự khác biệt hóa sản phẩm và chiếm lĩnh thị phần; Samuelson và Nordhaus (1985); Christensen (2010); Kazarenkova (2006); Nguyễn Thị Quy (2008); Nguyễn Thanh Phong (2010); Gorditsa (2012). Cạnh tranh ngân hàng mang các đặc thù riêng biệt theo Hồ Thiên Thanh và Nguyễn Chí Đức (2012), Nguyễn Trọng Tài (2008): sản phẩm dịch vụ tài chính có tính vô hình, đồng nhất và dễ sao chép; cạnh tranh dựa trên uy tín thương hiệu; các ngân hàng vừa cạnh tranh vừa hợp tác chia sẻ rủi ro liên ngân hàng; hoạt động chịu sự giám sát nghiêm ngặt của Ngân hàng Nhà nước để ngăn ngừa phản ứng dây chuyền Domino; và chịu tác động mạnh từ các cam kết hội nhập quốc tế.
Về phương pháp đo lường cạnh tranh, luận án phân biệt hai hướng tiếp cận:
- Tiếp cận cấu trúc: Dựa trên lý thuyết cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP) của Mason (1939) và Bain (1951, 1956), sử dụng chỉ số tập trung thị trường HHI (Hirschman, 1945; Herfindahl, 1950).
- Tiếp cận phi cấu trúc: Dựa trên lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES) và mô hình tổ chức công nghiệp thực nghiệm mới (NEIO), sử dụng chỉ số Panzar-Rosse H (Panzar và Rosse, 1987) và chỉ số Lerner (Lerner, 1934). Chỉ số Lerner đo lường sức mạnh thị trường thông qua tỷ lệ chênh lệch giữa giá bán (P) và chi phí cận biên (MC):
$$\text{Lerner} = \frac{P - MC}{P}$$
Chỉ số Lerner nhận giá trị từ 0 đến 1. Khi cạnh tranh hoàn hảo ($P = MC$), Lerner bằng 0; giá trị càng tiến gần tới 1 phản ánh sức mạnh độc quyền của ngân hàng càng lớn và mức độ cạnh tranh càng thấp.
Về ổn định và bất ổn tài chính, luận án vận dụng lý thuyết bất ổn tài chính của Hyman Minsky với "khoảnh khắc Minsky", định nghĩa của Mishkin (1999), Davis (2001), Chant và cộng sự (2003), Buiter (2008), Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ (2001), Ngân hàng Trung ương Đức (2003), Ngân hàng Trung ương Châu Âu - ECB (2014); mô hình tháo chạy ngân hàng của Diamond và Dybvig (1983); lý thuyết khủng hoảng thanh khoản do mất cân đối kỳ hạn nợ - tài sản của Lai (2002); và khung phân tích sự ổn định ngân hàng của Thomas và Tanju (2014) dựa trên ba kênh: giá trị thanh khoản của tài sản rủi ro, tỷ lệ vốn chủ sở hữu (đòn bẩy) và kỳ hạn nợ/mức nắm giữ tiền mặt.
Phương pháp đo lường ổn định tài chính riêng lẻ sử dụng chỉ số Z-score, kế thừa từ nghiên cứu gốc của Altman (1968) và các phát triển cho ngành ngân hàng của Boyd và Graham (1986), Hannan và Hanweck (1988), Boyd và Runkle (1993), Boyd, De Nicoló và Jalal (2006):
$$\text{Z-score} = \frac{\text{ROA} + \text{EQTA}}{\sigma_{\text{ROA}}}$$
Trong đó:
- $\text{ROA}$: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân.
- $\text{EQTA}$: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu bình quân trên tổng tài sản bình quân (nghịch đảo của đòn bẩy tài chính).
- $\sigma_{\text{ROA}}$: Độ lệch chuẩn của ROA, đo lường sự biến động thu nhập và rủi ro danh mục tài sản của ngân hàng (tính trên chu kỳ 3 năm từ $t$ đến $t-2$ hoặc $t-3$).
Chỉ số Z-score biểu thị số độ lệch chuẩn mà lợi nhuận trên tài sản phải sụt giảm trước khi vốn chủ sở hữu bị cạn kiệt; Z-score càng cao phản ánh xác suất vỡ nợ càng thấp, mức độ ổn định tài chính của ngân hàng càng cao. Luận án cũng kết hợp biến tỷ lệ nợ xấu để đo lường rủi ro tín dụng.
Phương pháp ước lượng thực nghiệm: Luận án áp dụng kỹ thuật hồi quy cho dữ liệu bảng (panel data) bằng phương pháp GMM (ước lượng sai phân DGMM và ước lượng hệ thống SGMM - System GMM) dựa trên khung mô hình của Raúl Osvaldo Fernández và cộng sự (2015). Việc sử dụng biến công cụ trong phương pháp GMM nhằm kiểm soát triệt để hiện tượng nội sinh tiềm ẩn giữa cạnh tranh và ổn định, hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu: Luận án thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên và bản cáo bạch của 24 NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016.
| STT |
Mã viết tắt |
Tên đầy đủ của ngân hàng thương mại cổ phần |
| 1 |
ABB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần An Bình |
| 2 |
ACB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu |
| 3 |
BID |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam |
| 4 |
CTG |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam |
| 5 |
HDB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh |
| 6 |
KIENLB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kiên Long |
| 7 |
MARIB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam |
| 8 |
MBB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội |
| 9 |
NAMAB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á |
| 10 |
NCB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Dân |
| 11 |
OCB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông |
| 12 |
PGB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xăng Dầu Petrolimex |
| 13 |
SCB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn |
| 14 |
SEAB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á |
| 15 |
SGB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương |
| 16 |
SHB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn - Hà Nội |
| 17 |
STB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín |
| 18 |
TCB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam |
| 19 |
TIENPB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong |
| 20 |
VCB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam |
| 21 |
VIB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế Việt Nam |
| 22 |
VIETAB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Á |
| 23 |
VIETCAPB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt |
| 24 |
VPB |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu tổng quát về nghiên cứu
Chương 1 thiết lập khung đề cương nghiên cứu hoàn chỉnh, bao gồm bối cảnh tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ năm 2012 và hội nhập khu vực. Chương này trình bày lý do lựa chọn đề tài, xác lập mục tiêu tổng quát và 3 mục tiêu cụ thể, đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu (24 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016, đại diện 72% tổng tài sản hệ thống năm 2016), giới thiệu sơ lược phương pháp ước tính Lerner, Z-score và kỹ thuật ước lượng DGMM/SGMM, đồng thời khái quát 5 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về cạnh tranh ngân hàng, sự ổn định tài chính và tác động của cạnh tranh đến ổn định tài chính
Chương 2 trình bày có hệ thống các lý thuyết kinh tế về cạnh tranh, lý thuyết thị trường ngân hàng và tính bất ổn tài chính:
- Hệ thống hóa các phương pháp đo lường cạnh tranh: tiếp cận cấu trúc (mô hình SCP, chỉ số HHI) và tiếp cận phi cấu trúc (chỉ số PR-H, chỉ số Lerner).
- Phân tích khái niệm ổn định tài chính vĩ mô và vi mô; cơ chế rút vốn hàng loạt theo mô hình Diamond và Dybvig (1983); sự mất cân đối thanh khoản theo Lai (2002); và khung lý thuyết của Thomas và Tanju (2014) về tác động của thanh khoản tài sản (Hình 2.1), mức vốn chủ sở hữu (Hình 2.2), và kỳ hạn nợ cùng tỷ lệ dự trữ tiền mặt (Hình 2.3) tới độ an toàn ngân hàng.
- Phân tích hai học thuyết cạnh tranh: học thuyết giá trị thương hiệu ủng hộ giả thuyết "cạnh tranh – dễ vỡ" và học thuyết "quá lớn để sụp đổ" ủng hộ giả thuyết "cạnh tranh – ổn định", cùng mô hình tác động bù trừ phi tuyến của Martinez-Miera và cộng sự (2010).
- Lược khảo các công trình thực nghiệm quốc tế và Việt Nam, từ đó xác lập các khoảng trống học thuật cần giải quyết.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
Chương 3 xây dựng quy trình nghiên cứu định lượng và các mô hình kinh tế lượng:
- Mô tả quy trình thu thập dữ liệu bảng cân bằng từ 24 NHTMCP Việt Nam qua các báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán giai đoạn 2008 – 2016.
- Thiết lập mô hình đo lường chỉ số Lerner thông qua ước lượng hàm chi phí biên xuyên logarit (translog cost function).
- Thiết lập công thức đo lường Z-score và tỷ lệ nợ xấu đại diện cho ổn định tài chính.
- Xây dựng mô hình hồi quy kiểm định tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính kế thừa từ mô hình của Raúl Osvaldo Fernández và cộng sự (2015), bao gồm biến bậc hai của chỉ số Lerner nhằm kiểm định mối quan hệ phi tuyến, và biến tương tác giữa cạnh tranh với biến giả khủng hoảng tài chính (năm 2008, 2009).
- Trình bày kỹ thuật ước lượng mô hình dữ liệu bảng động bằng phương pháp GMM (SGMM/DGMM) nhằm kiểm soát hiện tượng nội sinh tiềm ẩn, kiểm định Hansen/Sargan về tính hợp lệ của biến công cụ và kiểm định Arellano-Bond (AR(1), AR(2)) về tự tương quan của sai số.
Chương 4: Phân tích thực nghiệm về cạnh tranh ngân hàng, sự ổn định tài chính và tác động của cạnh tranh đến ổn định tài chính các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016
Chương 4 công bố toàn bộ kết quả phân tích định lượng thực nghiệm:
- Thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan giữa các biến nghiên cứu.
- Đo lường mức độ cạnh tranh: Kết quả tính toán chỉ số Lerner bình quân giai đoạn 2008 – 2016 (Hình 4.1, Hình 4.2), phân tích chỉ số Lerner theo hình thức sở hữu (Hình 4.3) và theo nhóm ngân hàng niêm yết (Hình 4.4). Kết quả cho thấy mức độ cạnh tranh giữa các NHTM Việt Nam diễn ra khá khốc liệt so với khu vực châu Á và thế giới.
- Đo lường mức độ ổn định tài chính: Kết quả tính toán Z-score bình quân giai đoạn 2008 – 2016 (Hình 4.5, Hình 4.6), phân tích Z-score theo hình thức sở hữu (Hình 4.7) và so sánh với kết quả Z-score của các nghiên cứu quốc tế (Bảng 4.4).
- Kết quả ước lượng hồi quy SGMM (Bảng 4.3, Bảng 4.5, Bảng 4.6):
- Cạnh tranh gia tăng nhìn chung giúp các NHTM Việt Nam nâng cao mức độ ổn định tài chính, ủng hộ quan điểm "cạnh tranh – ổn định".
- Tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính có dạng phi tuyến hình chữ U ngược: khi mức độ cạnh tranh gia tăng vượt qua một ngưỡng nhất định, áp lực cạnh tranh sẽ chuyển hóa thành yếu tố làm suy giảm mức độ ổn định.
- Trong điều kiện khủng hoảng tài chính, sự bất ổn định và tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam đều gia tăng rõ rệt; đồng thời, cạnh tranh trong bối cảnh khủng hoảng có xu hướng gây ra sự bất ổn định cho hệ thống ngân hàng.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 tổng hợp các kết quả thực nghiệm và đề xuất các nhóm hàm ý chính sách:
- Đóng góp khoa học và thực tiễn của công trình nghiên cứu.
- Hàm ý chính sách đối với các nhà quản trị NHTM Việt Nam: Quản trị cấu trúc vốn và thanh khoản, kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng và nợ xấu, xây dựng chính sách định giá dịch vụ và kiểm soát chi phí cận biên trong môi trường cạnh tranh cao.
- Hàm ý chính sách đối với cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước): Hoàn thiện khung khổ pháp lý giám sát an toàn vĩ mô và vi mô, duy trì mức độ cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, điều tiết quá trình tái cơ cấu và sáp nhập tổ chức tín dụng phù hợp, xây dựng các biện pháp can thiệp đặc thù trong giai đoạn nền kinh tế có khủng hoảng tài chính.
- Nêu rõ các hạn chế của nghiên cứu và định hướng các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định các kết quả và đóng góp mới về mặt khoa học cũng như thực tiễn như sau:
Về mặt khoa học:
- Luận án cung cấp các bằng chứng thực nghiệm định lượng toàn diện về mức độ cạnh tranh (chỉ số Lerner) và mức độ ổn định tài chính (chỉ số Z-score) của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016. Đây là nghiên cứu cập nhật cho hệ thống ngân hàng tại một quốc gia đang phát triển thuộc nhóm thị trường cận biên (frontier market) – nơi hệ thống tài chính dựa chủ yếu vào kênh trung gian ngân hàng thương mại.
- Luận án kiểm định trực tiếp hai giả thuyết đối lập "cạnh tranh – ổn định" và "cạnh tranh – dễ vỡ" trong cùng một khung phân tích, khắc phục hạn chế phân tách nghiên cứu đơn lẻ của các đề tài trước đây tại Việt Nam.
- Nghiên cứu phát hiện mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định tài chính tại Việt Nam mang tính phi tuyến dạng chữ U ngược, chứng minh rằng cạnh tranh đem lại sự ổn định nhưng nếu vượt ngưỡng kiểm soát sẽ phát sinh rủi ro bất ổn.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tính chất thay đổi của mối quan hệ cạnh tranh – ổn định trong điều kiện có khủng hoảng tài chính, chỉ ra rằng trong khủng hoảng, áp lực cạnh tranh sẽ khuếch đại rủi ro bất ổn và gia tăng tỷ lệ nợ xấu.
Về mặt thực tiễn:
- Kết quả nghiên cứu giúp ban điều hành các NHTM nhận diện chính xác hiện trạng sức mạnh thị trường, mức độ ổn định của tổ chức theo quy mô và hình thức sở hữu, từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh, định giá sản phẩm và đệm vốn an toàn thích ứng với áp lực cạnh tranh.
- Cung cấp luận cứ thực nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước trong việc điều tiết chính sách tiền tệ, giám sát an toàn hệ thống, kiểm soát việc mua bán – sáp nhập ngân hàng, và ban hành các chính sách ứng phó linh hoạt giữa giai đoạn bình thường và thời kỳ khủng hoảng kinh tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản luận án, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi mẫu nghiên cứu mới chỉ thu thập dữ liệu cân bằng từ 24 NHTM cổ phần do nhiều ngân hàng thiếu hụt dữ liệu kế toán liên tục trong toàn bộ giai đoạn 2008 – 2016. Dù chiếm 72% tổng tài sản toàn hệ thống, mẫu nghiên cứu vẫn chưa bao phủ được 100% các tổ chức tín dụng tại Việt Nam.
- Việc đo lường sự ổn định tài chính thông qua chỉ số Z-score phụ thuộc vào số liệu kế toán trên báo cáo tài chính của các ngân hàng. Trong trường hợp dữ liệu kế toán bị can thiệp hoặc điều chỉnh, chỉ số Z-score có thể phản ánh mức độ ổn định cao hơn thực tế.
- Khung thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2016, chưa phản ánh được các biến động cấu trúc thị trường trong những năm tiếp theo.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ các ngân hàng thương mại và các định chế tài chính khác tại Việt Nam khi có đầy đủ dữ liệu công bố.
- Cập nhật chuỗi dữ liệu bảng cho các năm tiếp sau 2016 để đánh giá các tác động dài hạn của đề án tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng.
- Bổ sung và đối chiếu các phương pháp đo lường cạnh tranh khác (như mô hình Panzar-Rosse, mô hình Bresnahan) hoặc các phương pháp đo lường rủi ro hệ thống hiện đại hơn (như mô hình Merton, Distance to Default - DD, xác suất vỡ nợ First to Default, hoặc chỉ số dự đoán thiếu hụt hệ thống SES).
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Tài chính – Ngân hàng: Tài liệu là nguồn tham khảo trực tiếp về phương pháp luận nghiên cứu định lượng tài chính ngân hàng, cung cấp quy trình chi tiết từ ước lượng hàm chi phí translog để tính chỉ số Lerner, kỹ thuật chuẩn hóa chỉ số Z-score đến phương pháp hồi quy GMM (SGMM/DGMM) cho dữ liệu bảng động để xử lý nội sinh. Các chương 2, 3 và 4 là những phần có giá trị học thuật cao trong việc phát triển khung phân tích kinh tế lượng.
- Các nhà quản trị tại các NHTM Việt Nam: Kết quả phân tích về mối quan hệ phi tuyến chữ U ngược và ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính cung cấp cơ sở để nhà quản trị định hình chiến lược tăng trưởng thị phần hài hòa với tỷ lệ an toàn vốn (CAR), xây dựng chính sách quản trị rủi ro thanh khoản và trích lập dự phòng nợ xấu.
- Các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia): Nội dung chương 4 và chương 5 cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về tác động của quá trình tái cơ cấu, sáp nhập ngân hàng tới mức độ tập trung thị trường và rủi ro đạo đức, hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc thiết kế các quy định giám sát vĩ mô phù hợp cho từng chu kỳ kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu nghiên cứu của luận án bao gồm bao nhiêu ngân hàng và chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam?
Luận án lựa chọn mẫu nghiên cứu gồm 24 ngân hàng thương mại cổ phần có đầy đủ dữ liệu bảng cân bằng trong suốt giai đoạn 2008 – 2016. Tại thời điểm 31/12/2016, tổng tài sản của 24 ngân hàng này đạt 5.649 nghìn tỷ đồng, chiếm 72% tổng tài sản của 35 NHTM trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.
2. Mức độ cạnh tranh và mức độ ổn định tài chính của các NHTM được luận án đo lường thông qua các chỉ số cụ thể nào?
Mức độ cạnh tranh được đo lường bằng chỉ số Lerner (tỷ lệ chênh lệch giữa giá cả dịch vụ và chi phí cận biên). Mức độ ổn định tài chính được đo lường vi mô thông qua chỉ số Z-score (khoảng cách đến trạng thái phá sản, tính bằng tổng tỷ suất sinh lời trên tài sản ROA và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản EQTA chia cho độ lệch chuẩn của ROA) kết hợp với tỷ lệ nợ xấu.
3. Kết quả hồi quy mô hình ủng hộ quan điểm "cạnh tranh – ổn định" hay "cạnh tranh – dễ vỡ"?
Trong điều kiện kinh tế bình thường, kết quả nghiên cứu ủng hộ quan điểm "cạnh tranh – ổn định", chỉ ra rằng sự gia tăng mức độ cạnh tranh giúp các NHTM Việt Nam hoạt động an toàn và ổn định hơn.
4. Mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định tài chính tại hệ thống NHTM Việt Nam có tính chất phi tuyến như thế nào?
Mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam mang tính phi tuyến có dạng hình chữ U ngược. Điều này hàm ý rằng cạnh tranh giúp nâng cao tính ổn định của hệ thống đến một ngưỡng nhất định; khi mức độ cạnh tranh vượt qua ngưỡng tối ưu này, sự cạnh tranh quá mức sẽ dẫn tới nguy cơ làm suy giảm mức độ ổn định tài chính.
5. Tác động của cạnh tranh tới sự ổn định của hệ thống NHTM Việt Nam thay đổi ra sao trong bối cảnh khủng hoảng tài chính?
Trong điều kiện khủng hoảng tài chính (như giai đoạn khủng hoảng 2008 – 2009), mức độ bất ổn định và tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam đều gia tăng rõ rệt. Đồng thời, trong bối cảnh khủng hoảng, cạnh tranh không còn hỗ trợ ổn định mà chuyển hướng gây ra sự bất ổn định cho hệ thống ngân hàng thương mại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Lưu Tuyền là một công trình nghiên cứu định lượng có hệ thống về tác động của cạnh tranh tới sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2016. Bằng việc kết hợp chỉ số Lerner, thước đo Z-score và kỹ thuật hồi quy GMM cho dữ liệu bảng của 24 NHTM cổ phần đại diện cho 72% quy mô tài sản toàn ngành, tác giả đã chứng minh mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định tài chính mang tính phi tuyến hình chữ U ngược, đồng thời xác nhận cạnh tranh làm gia tăng tính dễ tổn thương của ngân hàng trong bối cảnh khủng hoảng tài chính. Các kết quả thực nghiệm và hệ thống hàm ý chính sách trong luận án cung cấp căn cứ thực chứng có giá trị cho cả công tác quản trị rủi ro tại các NHTM lẫn công tác thanh tra, giám sát an toàn vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.