CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu Trong quá trình chuyển đổi kinh tế, ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng. Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã chứng kiến những thay đổi vô cùng to lớn trong hệ thống ngân hàng.
Chỉ tính riêng về tổ chức thì việc thôn tính, sáp nhập diễn ra rất sôi động. Về thay đổi công nghệ trong khu vực ngân hàng, không riêng gì Việt Nam mà cả trên thế giới đã trải qua những biến động sâu sắc. Những ứng dụng tiên tiến của cách mangh công nghiệp 4.0 và truyền thông cùng với việc xuất hiện các công cụ tài chính mới đã làm thay đổi cách thức thực hiện nghiệp vụ ngân hàng. Những chuyển biến như vậy làm thay đổi đáng kể công nghệ sản xuất của ngân hàng, khi người ta vẫn luôn coi ngân hàng là một ngành sản xuất dịch vụ.
Về mặt này, một câu hỏi có thể đặt ra ở đây là tác động của những thay đổi này lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng diễn ra như thế nào? Berger và Humphrey (1997) đã có một tổng quan khá đầy đủ trong việc trả lời câu hỏi này bằng việc đề xuất các phương pháp mới để đo hiệu quả của khu vực ngân hàng. Các phương pháp tính hiệu quả được sử dụng rộng rãi nhất là phân tích phi tham số và phương pháp tham số (tiếp cận đường biên ngẫu nhiên). Dưới đây luận án trình bày vắn tắt một số những vấn đề chủ yếu của các nghiên cứu về năng suất và hiệu quả, tập trung vào phương pháp luận được sử dụng trong bài này. Mục tiêu của nghiên cứu này là sử dụng mô hình (các mô hình phi tham số) cũng như các cách lựa chọn đầu vào và đầu ra trong nghiên cứu của luận án để tính toán hiệu quả, tiến bộ công nghệ, tăng trưởng năng suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2008-2020, thời kỳ diễn ra quá trình thâu tóm, sáp nhập mạnh mẽ trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Các nghiên cứu về hiệu quả hoặc năng suất trong khu vực ngân hàng thường phân tích dựa trên cơ sở so sánh những hệ số tài chính. Có một nhóm hệ số thường xuyên được sử dụng và mỗi hệ số đó đề cập đến một khía cạnh riêng của hoạt động ngân hàng. Vì ngành ngân hàng sử dụng nhiều đầu vào để sản xuất nhiều đầu ra, điều này đã đưa đến nghiên cứu về phép gộp thích hợp (Kim, 1986). Một số nghiên cứu đã cố gắng ước lượng các hàm chi phí thực hành trung bình.
Trong khi các tiếp cận này thành công trong việc xác định sự tăng năng suất thực hành trung bình thì chúng lại không tính đến năng suất của các ngân hàng thực hành tốt nhất. Những vấn đề này gắn với cách tiếp cận "cổ 7 điển" đối với năng suất đã dẫn đến các cách tiếp cận khác có đưa vào nhiều đầu vào/đầu ra và xét đến hiệu quả hoạt động tương đối của các ngân hàng. Một loạt nghiên cứu sử dụng phân tích đường biên để phân tách các đơn vị ngân hàng hoạt động hiệu quả với các đơn vị kém hiệu quả, theo một bộ tiêu chuẩn được chỉ định. Tiêu điểm của những nghiên cứu này là những thay đổi của đường biên hiệu quả và các ngân hàng hoạt động gần đường biên hiệu quả như thế nào.
Phương pháp thứ nhất đòi hỏi xác định các đơn vị sản xuất hiệu quả và xây dựng một đường biên hiệu quả tuyến tính từng khúc sử dụng các đơn vị hiệu quả này. Phương pháp này được thực hiện đầu tiên bởi Charnes, Cooper và Rhodes (1978), các tác giả này sử dụng các phương pháp quy hoạch tuyến tính để xác định các đơn vị hiệu quả và đặt ra tên gọi Phân tích bao dữ liệu (DEA). Tác giả có những nghiên cứu nổi bật trong hiệu quả, năng suất và điều tiết hệ thống ngân hàng phải kể đến nghiên cứu của Humphrey, D. Bên cạnh đó, đã có rất nhiều nghiên cứu đã sử dụng phân tích bao dữ liệu vào các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt lĩnh vực ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau.
Ở các nước phát triển có rất nhiều nghiên cứu, chẳng hạn Berg et al. (1991) nghiên cứu cho các ngân hàng Na Uy. Lang và Welzel (1996) nghiên cứu cho các ngân hàng Đức. Resti (1997) nghiên cứu cho các ngân hàng Ý.
Altunbus et al. (1999) và Drake và Hall (2000) nghiên cứu cho các ngân hàng Nhật Bản. Rebelo và Mendes (2000) cho các ngân hàng Bồ Đào Nha. Gilbert và Wilson (1998) nghiên cho các ngân hàng Hàn Quốc.
Leong (2002) cho ngân hàng Singapore và các nước đang phát triển, như Leightner và Lovell (1998) nghiên cứu cho các ngân hàng Thái Lan. Hay các nghiên cứu cho ngân hàng Việt Nam như Hùng (2008), Minh và cộng sự (2013). Có thể chi tiết một vài nghiên cứu chẳng hạn như Leong (2002) và cộng sự sử dụng dữ liệu về ngân hàng Singapore trong giai đoạn 1993-1999 để phát triển điểm hiệu quả và xếp hạng cho các ngân hàng Singapore. Sau đó, họ sử dụng năm điều kiện vững được Bauer và cộng sự (1997) phát triển để kiểm tra những điểm số này và bảng xếp hạng.
Cách tiếp cận của họ cho phép các nhà nghiên cứu thử nghiệm với các mô hình khác nhau và lựa chọn mô hình thích hợp nhất cho các mục đích chính sách. Trong nghiên cứu “Banking Efficiency in the Nordic Countries: A four – country Malmquist Index Analysis”, nhóm tác giả Bukh và cộng sự (1995) quan tâm đến sự tác động của các yếu tố cạnh tranh đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại và thực hiện nghiên cứu vấn đề này tại các ngân hàng khu vực Bắc Âu. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phi tham số DEA với các biến đầu vào: giá trị máy móc thiết bị, lao động (tính theo số giờ làm việc), chi phí hoạt động và các biến đầu ra: tiền gửi từ các tổ chức tài chính, cho vay đối với các tổ chức tài chính, số lượng chi 8 nhánh, bảo lãnh cho khách hàng. Kết quả cho thấy các ngân hàng lớn nhất ở Đan Mạch và Thụy Điển có mức hiệu quả cao nhất, có nhiều khả năng phát triển ra thị trường ngoài khu vực Bắc Âu.
Sathye (2001) đã nghiên cứu sự thay đổi năng suất trong ngân hàng Úc trong giai đoạn 1995–1999 bằng cách sử dụng chỉ số Malmquist, và nhận thấy rằng tổng năng suất nhân tố trung bình trong ngân hàng Úc là 1,013. Quesada, (1997) nghiên cứu hiệu quả của các ngân hàng trong so sánh quốc tế. Siems, (1994) đã dự báo đổ vỡ trong ngân hàng bằng tiếp cận phi tham số. Ngoài ra, các nhóm tác giả Lawrence M.
Seiford, Joe Zhu (1999) và Richard S. Siems and Sheri Zimmel (1999) đều sử dụng mô hình phân tích màng bao dữ liệu để đánh giá hiệu suất làm việc của các ngân hàng thương mại. Trong đó nhóm tác giả Lawrence M. Seiford, Joe Zhu (1999) sử dụng những phát triển gần đây trong phân tích màng bao dữ liệu để xem xét hiệu suất của 55 ngân hàng thương mại hàng đầu của Mỹ thông qua: Khả năng sinh lợi (tỷ suất lợi nhuận, mức sinh lợi) và tính thương mại (tính thị trường, khả năng lưu thông).
Hiệu suất không đáng kể được phát hiện ở cả hai chiều. Các ngân hàng tương đối lớn thể hiện hiệu suất tốt hơn về lợi nhuận, trong khi các ngân hàng nhỏ hơn có xu hướng hoạt động tốt hơn đối với tính thương mại. Siems and Sheri Zimmel (1999) sử dụng hệ số nhân bị ràng buộc, định hướng đầu vào, mô hình phân tích màng bao dữ liệu (DEA) để đánh giá hiệu quả năng suất và hoạt động của các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ từ năm 1984 đến 1998. Kết quả cho thấy mối quan hệ bền vững và nhất quán giữa hiệu quả với đầu vào và đầu ra.
Thêm vào đó, kết quả cũng cho thấy tác động của các điều kiện kinh tế khác nhau ở một mức độ nào đó tương quan với hiệu suất tương đối của các ngân hàng. David Grigorian and Vlad Manole (2002) nghiên cứu ước tính các chỉ số về hiệu quả của ngân hàng thương mại bằng cách áp dụng một phiên bản Phân tích màng bao dữ liệu (DEA) cho dữ liệu cấp ngân hàng từ một loạt các quốc gia đang phát triển bằng cách nhấn mạnh tối đa hóa lợi nhuận và cung cấp dịch vụ giao dịch làm mục tiêu chính của ngân hàng. Ngoài việc nhấn mạnh tầm quan trọng của một số biến số cụ thể của ngân hàng, phân tích Tobit được kiểm duyệt cho thấy rằng (1) sở hữu nước ngoài với quyền lực kiểm soát và tái cấu trúc doanh nghiệp giúp nâng cao hiệu quả của ngân hàng thương mại; (2) ảnh hưởng của thắt chặt thận trọng (prudential tightening) đến hiệu quả của các ngân hàng khác nhau giữa các chuẩn mực thận trọng (prudential norms) khác nhau; và (3) hợp nhất có khả năng cải thiện hiệu quả của hoạt động ngân hàng. Nhìn 9 chung, kết quả nghiên cứu xác nhận tính hữu ích của DEA khi dùng để đánh giá hệ thống ngân hàng ở các quốc gia đang phát triển và làm sáng tỏ câu hỏi về kiến trúc tối ưu của hệ thống ngân hàng.
Những tác động tích cực của vốn hóa và sự tập trung thị trường lên các chỉ số DEA đề xuất rằng các lĩnh vực ngân hàng với một vài ngân hàng lớn, có vốn hóa tốt có khả năng tạo ra hiệu quả tốt hơn và tỷ lệ thâm nhập thị trường cao hơn. Avkiran (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa tái cấu trúc ngân hàng sau khủng hoảng, điều kiện cụ thể của quốc gia và hiệu quả ngân hàng ở các nước châu Á từ 1997 đến 2001 bằng cách sử dụng phương pháp tích hợp phân tích mô hình màng bao dữ liệu DEA và phân tích biên ngẫu nhiên SFA. Bài viết tập trung vào các biện pháp tái cấu trúc liên quan đến sở hữu ngân hàng. Kết quả chỉ ra rằng mặc dù sáp nhập trong nước tạo ra các ngân hàng hiệu quả hơn, nhưng về tổng thể, tái cấu trúc không dẫn đến việc các hệ thống ngân hàng hiệu quả hơn.
Sự thiếu hiệu quả của hệ thống ngân hàng chủ yếu là do các điều kiện cụ thể của từng quốc gia, đặc biệt là lãi suất cao, sự tập trung thị trường và sự phát triển kinh tế.