Chương 1, tác giả đã nêu ra vấn đề nghiên cứu và giới thiệu các câu hỏi nghiên cứu cơ bản nhất, bao gồm: Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, câu hỏi và đề tài nghiên cứu. Tương tự đối với phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của nghiên cứu. Ngoài ra, bài nghiên cứu này còn đưa ra các phương pháp sơ bộ và xây dựng bố cục của bài nghiên cứu, từ đó làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo ở chương sau. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2, đề tài sẽ tập trung giới thiệu lý thuyết tính thanh khoản của NHTM và chỉ ra các biến số ảnh hưởng từ bên trong lẫn bên ngoài.
Tiếp đó, trình bày các dẫn chứng là các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến tính thanh khoản của NHTM.1 TỔNG QUAN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THANH KHOẢN NGÂN HÀNG 2.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại Với sự tồn tại phát triển hàng trăm năm, NHTM đã có những ảnh hưởng mang tầm quan trọng đáng kể trong việc phát triển nền kinh tế hàng hóa. Điều này đã làm cho Ngân hàng trở thành một định chế tài chính không thể thiếu khi nền kinh tế hàng hóa đạt đến giai đoạn cao nhất, mang lại lợi ích cho khách hàng thông qua hoạt động tín dụng, cho phép họ gửi tiền và vay tiền. Sự chênh lệch lãi suất tạo ra lợi nhuận. Vì vậy, các học giả đã quan tâm đến những thay đổi và phát triển liên quan đến ngành ngân hàng nói chung và NH thương mại nói riêng, điều này được thấy từ các nghiên cứu trước đây.
Theo Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những tổ chức hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của hầu hết mọi người dưới hình thức ký thác hay dưới những hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng hoặc tài chính". Theo Peter Rose (2008) thì: "Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức tài chính nào trong nền kinh tế". Định nghĩa này tập trung về khía cạnh các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, theo đó ngân hàng là một định chế tài chính kinh doanh tổng hợp, được coi như một Tổng công ty bách hóa dịch vụ tài chính. Hoặc 8 theo ý kiến của Nguyễn Văn Dờn (2012) "NHTM cũng là một trong những tổ chức cung cấp vốn lưu động, vốn trung hạn và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp".
Bên cạnh đó, Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 của Việt Nam cho rằng "Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã". "Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên hoặc một số các nghiệp vụ sau: Nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản". Theo khoản 3 Điều 4 Luật Các TCTD 2010: "NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận".
Tóm lại, trong nghiên cứu này có thể hiểu NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, có những đặc thù riêng trong hoạt động kinh tế - tài chính. NHTM có đặc điểm giống như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động (tiền vốn) làm yếu tố đầu vào, để sản xuất ra những yếu tố đầu ra dưới hình thức dịch vụ tài chính mà khách hàng yêu cầu. Điều này sẽ phát sinh các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng, góp phần tạo ra các hoạt động mà ngân hàng tác động đến khách hàng. NHTM thực hiện các hoạt động này thông qua chức năng chuyên biệt và sử dụng các công cụ nghiệp vụ ngân hàng.
Việc tối đa hóa lợi nhuận chính là công việc chính của NHTM khi mục đích là kinh doanh đồng vốn. Tổng quan về thanh khoản ngân hàng 2. Khái niệm Thanh khoản là khả năng của một ngân hàng để tài trợ cho sự gia tăng tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ khi đến hạn mà không cần gánh chịu những tổn thất không thể chấp nhận được (BIS, 2008). Theo Keynes (2018) thì khái niệm về "Tính thanh khoản là sự ổn định về giá trị trước những thay đổi trong trạng thái kỳ vọng dài hạn.
Điều này trái ngược với quan niệm thông thường về tính thanh khoản là khả năng chuyển đổi và với các diễn giải 9 hàng đầu của trường phái Hậu Keynes. Định nghĩa được đề xuất giải thích tại sao Keynes lại chú trọng nhiều đến tính thanh khoản, đồng thời giả định các thị trường hoàn hảo cho hàng hóa vốn và viết về tính thanh khoản của đất đai. Nó cũng làm sáng tỏ sự khác biệt mà Keynes đưa ra giữa tính thanh khoản của tiền và 'tính thanh khoản' của các thị trường đầu tư có tổ chức". Theo Greuning và cộng sự Bratanovic (2004) thanh khoản ngân hàng thể hiện khả năng của một ngân hàng để tự tài trợ hiệu quả cho các giao dịch.
Khi một ngân hàng xảy ra rủi ro thanh khoản đồng nghĩa với việc ngân hàng mất khả năng tài trợ cho các hoạt động của mình cũng như không thể thực hiện nghĩa vụ của mình đối với khách hàng (rút tiền gửi, đáp ứng các yêu cầu tài trợ bổ sung cho danh mục cho vay và đầu tư). Trong khi đó, Laker (2007) lại định nghĩa thanh khoản của một ngân hàng là chính dòng tiền được xác định bằng mức độ nắm giữ tiền mặt và tương đương tiền hoặc tài sản lưu động. Còn theo Domanski, Dietrich và cộng sự (2011) thì “Tính thanh khoản là khả năng dễ dàng chuyển đổi một tài sản thành phương tiện thanh toán. Một cách mà việc chuyển đổi có thể xảy ra là thông qua việc bán tài sản.
Việc bán như vậy càng ít làm thay đổi giá của tài sản thì tính thanh khoản của thị trường càng cao. Ngược lại, việc vay mượn có thể được coi là một cách thay thế để chuyển tài sản thành tiền mặt, bằng cách cầm cố tài sản làm tài sản thế chấp hoặc bằng cách đưa ra các yêu cầu không có bảo đảm đối với những tài sản đó. Việc vay mượn càng ít làm thay đổi giá vốn thì tính thanh khoản của vốn càng lớn”. Theo Basel (2008) "thanh khoản ngân hàng là khả năng ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được".
Ở những giai đoạn khác nhau, Basel cũng có các định nghĩa và khái niệm khác nhau về thanh khoản, tuy nhiên chúng lại vẫn coi thanh khoản là việc sử dụng quỹ tài sản nhằm thanh toán những nghĩa vụ đến hạn với chi phí chấp nhận được. 10 "Thanh khoản theo nghĩa xúc tích là khả năng biến đổi một tài sản nào đó thành tiền mặt một cách nhanh chóng, với một chi phí thấp nhất có thể. Một cách đầy đủ là dựa vào cách tiếp cận tài sản hay nguồn vốn, thanh khoản có khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn ở mức chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng” theo Trương Quang Thông (2012). Alshatti (2015) thì nhận định "thanh khoản của NHTM là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn".
Từ đó có thể hiểu, tính thanh khoản trong NHTM đề cập đến khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh chóng với chi phí thấp nhất có thể. Điều này liên quan đến cách tiếp cận tài sản và vốn, với mục tiêu hỗ trợ các hoạt động đa dạng của ngân hàng với chi phí hợp lý. Tính thanh khoản cao của tài sản bao gồm chi phí chuyển đổi thấp và thời gian chuyển đổi ngắn. Ngược lại, nếu chi phí huy động vốn thấp và thời gian huy động vốn ngắn, thì tính thanh khoản của vốn sẽ cao.
Theo cách giản đơn, "thanh khoản chính là khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của mình". Đo lường về tính thanh khoản của ngân hàng Tỷ lệ thanh khoản thể hiện qua các tỷ lệ khác nhau của bảng cân đối kế toán. Những tỷ lệ này phản ánh thực tế rằng ngân hàng nên đảm bảo nguồn tài trợ phù hợp, chi phí có sẵn trong thời gian ngắn. Điều này có thể liên quan đến việc nắm giữ một danh mục đầu tư tài sản có thể dễ dàng bán được (dự trữ tiền mặt, dự trữ bắt buộc tối thiểu hoặc chứng khoán), nắm giữ khối lượng đáng kể các khoản nợ ổn định (đặc biệt là tiền gửi từ các tổ chức) hoặc duy trì hạn mức tín dụng với các tổ chức tài chính khác.
Phương pháp đo lường tỷ lệ thanh khoản của Ngân hàng. Tính thanh khoản được đo lường bằng phương pháp chỉ số thanh toán đã được nhiều tác giả. Điều này có thể tìm thấy ở một số nghiên cứu trước của Crosse & Hempel (1980), Aspachs và cộng sự (2005), Tamirisa & Igan (2008), Moore (2009) đã tập trung vào 4 tỷ số thanh khoản sau: 11 Chỉ số thứ nhất là tỷ số được sử dụng phổ biến nhất với công thức như sau: Vũ Thị Hồng (2015), Aspach & cộng sự (2005) Trong đó, tài sản lưu động bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, trái phiếu Chính phủ và các chứng khoán tương tự. Nói chung, giá trị này càng cao thì ngân hàng càng có tính thanh khoản cao.
Tuy nhiên, từ góc độ khác, tỷ lệ cao cũng có thể được coi là không hiệu quả vì tài sản lưu động không tạo ra lợi nhuận cao và có thể gây ra chi phí cơ hội cao cho ngân hàng. Chỉ số thứ 2 được sử dụng là: Vodová (2013) Chỉ số đánh giá tính thanh khoản này cũng dựa trên khái niệm về tài sản thanh khoản. Tuy nhiên, tỷ lệ này chú trọng nhiều hơn vào việc lựa chọn nguồn tài trợ thanh khoản của ngân hàng (bao gồm tiền gửi từ hộ gia đình, doanh nghiệp và TCTD). Chỉ số này có sự tương đồng với chỉ số L1, tức là giá trị cao của nó cũng phản ánh tính thanh khoản tốt của ngân hàng (Vodová, 2013).