Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này tác giả giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài. Chương 2: Tổng quan nghiên cứu về quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro, trong chương này tác giả tập hợp và trình bày các bằng chứng thực nghiệm trên Thế giới và Việt Nam trước đây về tác động của quy mô hoạt động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các công ty tài chính, ngân hàng thương mại… và một số quan điểm về sự tác động này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày cụ thể đến phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và cở sở dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến được sử dụng và các giả định phục vụ cho việc nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày kết quả thực nghiệm của nghiên cứu về tác động của quy mô ngân hàng đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam được xử lý thông qua bộ số liệu thu thập được, bao gồm các phân tích, giải thích về các mô tả thống kê, các phân tích về tương quan và hồi quy.
7 Chương 5: Kết luận, trong chương này tác giả tổng hợp lại kết quả của vấn đề được nghiên cứu trên cơ sở kết quả của mô hình thực nghiệm đã sử dụng, nêu bật các hạn chế trong nghiên cứu và hướng mở rộng trong tương lai. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra các khuyến nghị cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách trên cơ sở kết quả thực nghiệm từ nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 2.
Các tranh luận xung quanh vấn đề “TBTF” Các cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra trên toàn cầu trong suốt ba thập kỷ gần đây với sức ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới. Nhiều chuyên gia nghiên cứu, các nhà khoa học đặc biệt dành sự quan tâm lớn đến mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính, các ngân hàng thương mại. Các tranh luận sôi nổi nổ ra về vấn đề quy mô tối ưu, mức độ phức tạp của tổ chức tài chính và phạm vi hoạt động của NHTM. Trên thế giới đã diễn ra nhiều sự liên kết, hợp nhất, sát nhập và hợp tác giữa các ngân hàng của các tập đoàn đa quốc gia với nhau.
Các ngân hàng lớn gia tăng quy mô và trở nên mở rộng hơn bằng nhiều sự kết nối mang tính toàn cầu. Hiện tượng quá lớn để sụp đổ “too big, too fail” được hiểu khi những công ty hay tập đoàn lớn với quy mô hoạt động rộng và liên kết chặt chẽ với nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế quốc gia. Một khi có sự đổ vỡ hay phá sản xảy ra, dù vì lý do gì thì chính phủ của quốc gia đó sẽ không để tập đoàn đó phải sụp đổ để tránh các ảnh hưởng lan truyền gây nên hiệu ứng domino cho toàn nền kinh tế. Chính phủ sẽ phải thực hiện các biện pháp như hỗ trợ vốn hoặc cho sát nhập với các tập đoàn khác, hoặc là chính nhà nước sẽ mua lại tập đoàn đó nhằm đảm bảo giữ vững hoạt động của tập đoàn này.
Mục đích là tránh sự sụp đổ dây chuyền với các công ty liên kết với tập đoàn này, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế nước đó. Những biện pháp đỡ đầu và bảo vệ của Chính phủ đối với các tập đoàn lớn này có thể giải quyết được vấn đề trước mắt nhằm tránh rủi ro hệ thống nhưng trong dài hạn, các nhà đầu tư vào ngân hàng giờ đây có ít lý do hơn để theo dõi chặt chẽ hoạt động của các NHTM được xếp vào nhóm “too big, too fail”. Chính phủ không muốn đóng cửa các ngân hàng vì họ lo sợ ảnh hưởng lan truyền gây rủi ro cho nền kinh tế (Laeven và cộng sự, 9 2015). Các ngân hàng này thường có xu hướng chấp nhận rủi ro quá mức trong hoạt động kinh doanh của mình khi họ nhận thức được sự bảo hộ của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của tập đoàn ngay cả trong trường hợp kinh doanh thất bại hoặc đứng trước rủi ro phá sản.
Tâm lý ỷ lại và tự tin quá mức của các nhà quản trị ngân hàng đối với sự bảo hộ của nhà nước, Chính phủ có thể được xem là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chính sách quản trị doanh nghiệp theo hướng rủi ro mạo hiểm để đạt nhiều lợi nhuận mong muốn. Qua đó, quy mô tập đoàn càng mở rộng, rủi ro càng cao và hiện tượng “too big, too fail” càng được củng cố hơn khi có sự bảo đảm từ Chính phủ (Laeven và cộng sự, 2015). Các ngân hàng thương mại thường tham gia vào các hoạt động giao dịch rủi ro cao khi quy mô càng lớn, điều này dẫn đến các nguy cơ về rủi ro mất khả năng thanh khoản (Shlefer và Vishny, 2010). Các chính sách về “too big, too fail” tạo cho doanh nghiệp quy mô lớn một cơ sở đảm bảo rằng chắc chắn sẽ có các gói cứu trợ của Chính phủ đối với doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh của họ gặp sự cố.
Chính sách này thực sự nguy hại khi cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp có nhiều sự tự tin hơn khi họ chấp nhận mức độ rủi ro cao trong hoạt động kinh doanh để tìm kiếm cơ hội đầu tư sinh lợi lớn. Theo báo cáo Squam Lake: “Fixing the Financial System”, các cổ đông, chủ nợ, nhân viên và nhà quản lý doanh nghiệp cùng chia sẻ sự cám dỗ đó. Kết quả tất yếu là gia tăng những rủi ro cho toàn xã hội. Khi các ngân hàng phát triển với quy mô ngày càng lớn, cơ cấu tổ chức và quản trị doanh nghiệp của họ sẽ ngày càng phức tạp hơn.
Theo đó dẫn đến phát sinh thêm vấn đề chi phí đại diện trong doanh nghiệp và các vấn đề liên quan đến lợi ích của cổ đông, nhà điều hành, chủ nợ đối với quản trị lợi nhuận doanh nghiệp. Bên cạnh đó, theo lý thuyết về tài chính hành vi, luôn tồn tại những lệch lạc trong việc ra quyết định quản trị do tính chủ quan của nhà quản lý. Điều này tùy thuộc vào khẩu vị rủi ro hoặc tâm lý quá tự tin, khiến nhà quản lý chấp nhận rủi ro cao với các dự án có NVP âm. Mặt khác, theo lý thuyết quyền chọn (option theory), nhiều 10 doanh nghiệp thực hiện việc gắn kết kết quả hoạt động kinh doanh của mình với việc chi thưởng cho nhà quản lý thông qua hình thức cổ phiếu.
Đây cũng là một tác nhân thúc đẩy các nhà quản lý gia tăng chấp nhận rủi ro để nâng cao giá trị cổ phiếu doanh nghiệp, nhằm tìm kiếm thêm thu nhập bản thân. Tác giả kỳ vọng sẽ quan sát được mối quan hệ của các yếu tố này với việc chấp nhận rủi ro thông qua số liệu thực nghiệm. Ngân hàng thương mại Hiểu một cách đơn giản nhất, ngân hàng là một doanh nghiệp chuyên về kinh doanh đồng vốn và các dịch vụ tiền tệ liên quan và được coi là một loại hình kinh doanh đặc thù. Sản phẩm kinh doanh chủ yếu là việc sử dụng những khoản tiền tệ nên có thể hiểu ngân hàng thương mại chính là nơi vừa cung cấp tiền vốn và cũng là nơi giúp khách hàng tiêu thụ những đồng vốn.
Điều này sẽ phát sinh ra các giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng, từ đó sẽ tạo ra những hoạt động làm cho ngân hàng tác động ngược lại với khách hàng. Các hoạt động của ngân hàng thương mại được thực hiện bằng những chức năng nghiệp vụ kết hợp với các công cụ chuyên dụng của ngân hàng. Việc tối đa hóa lợi nhuận chính là công việc chính của ngân hàng thương mại khi mục đích là kinh doanh đồng vốn. Ngân hàng sẽ được phép hoạt động kinh doanh trong các nghiệp vụ được quy định theo Ngân hàng Nhà Nước tại Luật các tổ chức tín dụng.
Trong nền kinh tế, ngân hàng sẽ đóng vai trò trung gian như một nhà điều phối dòng tiền trong nền kinh tế. Ngân hàng thương mại hình thành quỹ và cho vay để phân bổ vốn tới nền kinh tế thông qua việc huy động những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các nhà đầu tư trong kinh tế. Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò tạo ra lợi ích cho các bên tham gia. Đồng thời nó cũng thúc đẩy được sự phát triển của nền kinh tế.
Nếu chọn hình thức gửi tiết kiệm, bạn sẽ được hưởng lãi thông qua khoản tiền nhàn rỗi của mình. Đối với hình thức vay, khi có nhu cầu vay bạn sẽ được cung cấp một khoản tiền trong hạn mức thỏa thuận để sử dụng cho các mục đích chi tiêu, thanh toán cá nhân hoặc nhu cầu vốn để kinh doanh. Mọi giao dịch qua ngân hàng đều minh 11 bạch và được pháp luật bảo vệ. Đồng thời, ngân hàng cũng được hưởng lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất tiền cho vay và lãi tiền gửi từ khách hàng.
Đây được xem là chức năng quan trọng nhất trong ngân hàng thương mại vì đó đem lại nguồn vốn đảm bảo cho quá trình kinh doanh, sản xuất được phát triển và mở rộng hơn. Bên cạnh vai trò là một nhà điều phối, ngân hàng còn đóng vai trò giúp cho ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ. Bằng cách tham gia vào quá trình kiểm soát các hoạt động kinh tế, giúp ổn định của thị trường chứng khoán và thị trường tài chính. Tạo điều kiện phát triển cho nền kinh tế thông qua việc chiết khấu giải quyết khả năng lưu thông tiền tệ, hàng hóa nhanh chóng.
Ngân hàng thương mại còn có vai trò tư vấn, cung cấp thông tin và dịch vụ đầu tư hiệu quả. Rủi ro “Rủi ro” đã được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa theo nhiều cách thức khác nhau. Frank Knight (1962), một học giả người Mỹ, đầu thế kỷ XX định nghĩa “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi”, Inrving Perfer (1964) thì “rủi ro là tổng hợp của những ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất”. Một học giả người Anh là Marillic Hurt Mr Carty (1964) quan niệm: “rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được”.