Tổng quan nghiên cứu

Khu vực nông nghiệp đóng vai trò xương sống trong nền kinh tế Việt Nam khi đóng góp khoảng 17% tổng sản phẩm quốc nội và thu hút gần 50% lực lượng lao động xã hội, với hơn 80% dân số nông thôn phụ thuộc vào nguồn thu nhập từ canh tác và chăn nuôi. Mặc dù giữ vị thế chiến lược, tổng vốn đầu tư toàn xã hội vào nông - lâm - thủy sản chỉ chiếm 6,00% tổng vốn đầu tư quốc gia vào năm 2017, tăng nhẹ từ mức 5,04% năm 2014. Tình trạng thiếu hụt vốn tín dụng chính thức đang kìm hãm năng lực mở rộng sản xuất của các nông hộ nhỏ. Theo kết quả Điều tra Tiếp cận Nguồn lực Hộ gia đình Nông thôn, chỉ có hơn 38% nông hộ tiếp cận được nguồn vốn vay, trong đó có tới 63% khoản vay vẫn phải phụ thuộc vào khu vực phi chính thức với chi phí vốn cao và rủi ro lớn. Đồng thời, hơn 80% doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nông nghiệp vừa và nhỏ gặp trở ngại khi tiếp cận vốn ngân hàng thương mại.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề rào cản tiếp cận tài chính của nông hộ quy mô nhỏ và đánh giá vai trò của mô hình tài trợ chuỗi giá trị nông nghiệp trong việc khơi thông dòng vốn. Mục tiêu cụ thể gồm: phân tích thực trạng cung - cầu tín dụng nông thôn, xác định các nhân tố quyết định khả năng tiếp cận vốn chính thức và đề xuất giải pháp tài trợ chuỗi giá trị nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã Quất Động, Tô Hiệu, Nghiêm Xuyên thuộc huyện Thường Tín và phân tích điển hình chuỗi chăn nuôi tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội) trong giai đoạn 2016 - 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để nâng cao tỷ lệ tiếp cận vốn ngân hàng từ mức 38% lên trên 70%, giảm áp lực lãi suất vay tư nhân từ 0,8% - 1,0%/tháng xuống mức lãi suất ưu đãi 6,0% - 7,5%/năm của các ngân hàng nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân bổ tín dụng của Joseph Stiglitz và Andrew Weiss (1981), giải thích hiện tượng các tổ chức tài chính hạn chế cung cấp hạn mức tín dụng do rủi ro lựa chọn nghịch và động cơ bất lợi khi xảy ra tình trạng thông tin bất đối xứng giữa người vay và bên cho vay. Nghiên cứu cũng vận dụng lý thuyết thông tin bất đối xứng trong tài chính nông thôn của Timothy Besley (1993) và các nguyên lý kinh tế tài chính nông nghiệp của Peter Barry (2001) để làm rõ hành vi tín dụng của các hộ sản xuất quy mô nhỏ.

Mô hình nghiên cứu tích hợp khung lý thuyết tài trợ chuỗi giá trị nông nghiệp của Viện Nhiệt đới Hoàng gia Hà Lan và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc. Ba khái niệm cốt lõi được định hình gồm: Nông hộ quy mô nhỏ (nông hộ canh tác diện tích dưới 0,5 ha và phải làm thêm việc phụ để bảo đảm sinh kế); Tín dụng nông nghiệp chính thức (các khoản vay có hợp đồng pháp lý từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Ngân hàng Chính sách Xã hội); Tài trợ chuỗi giá trị nông nghiệp (dòng lưu chuyển tài chính trực tiếp và gián tiếp giữa các tác nhân liên kết từ cung ứng đầu vào, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm nhằm tối ưu hóa chi phí giao dịch và kiểm soát rủi ro thu hồi nợ).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng chặt chẽ để phân tích dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2018 - 2019:

  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Cỡ mẫu gồm 152 hộ nông dân được khảo sát bằng bảng hỏi bán cấu trúc tại 3 xã đại diện của huyện Thường Tín (gồm 32 hộ tại xã Quất Động, 68 hộ tại xã Nghiêm Xuyên và 52 hộ tại xã Tô Hiệu). Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng nhằm bao quát các nhóm hộ có tham gia và không tham gia vay vốn, phân bổ đa dạng các mô hình kinh tế như trồng lúa, rau màu, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Ngoài ra, tác giả thực hiện 5 cuộc phỏng vấn sâu với các chủ hộ tiêu biểu và 3 cuộc phỏng vấn chuyên gia quản lý tại Hội Nông dân và Đoàn Thanh niên địa phương.
  • Phương pháp phân tích: Dữ liệu định lượng được xử lý bằng thống kê mô tả nhằm so sánh đặc trưng nhân khẩu học, kinh tế hộ giữa nhóm vay vốn và không vay vốn. Kỹ thuật xếp hạng Garrett được lựa chọn làm công cụ phân tích chủ đạo để lượng hóa mức độ ưu tiên của các lý do vay vốn và rào cản không thể tiếp cận tín dụng. Công thức vị trí phần trăm được xác định bằng 100 nhân với hiệu số giữa thứ hạng gán cho biến trừ 0,5, sau đó chia cho tổng số biến được xếp hạng. Phương pháp này giúp xử lý triệt để hiện tượng sai lệch do dữ liệu khuyết và phản ánh chính xác mức độ quan trọng tương đối của từng biến số trong điều kiện sản xuất thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm trên 152 nông hộ tại huyện Thường Tín đã chỉ ra các kết quả định lượng nổi bật:

  • Tỷ lệ tham gia tín dụng: Có 108 hộ (chiếm 71,1%) tham gia vay vốn chính thức trong giai đoạn 2016 - 2018, trong đó 61 hộ vay qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và 47 hộ vay qua Ngân hàng Chính sách Xã hội. Nhóm không tham gia gồm 44 hộ (chiếm 28,9%), trong đó có 18 hộ từng nộp hồ sơ vay nhưng bị ngân hàng từ chối.
  • Mục đích vay vốn chủ đạo: Phân tích theo kỹ thuật xếp hạng Garrett cho thấy động lực vay vốn lớn nhất của nông dân là mua con giống và hạt giống với điểm số Garrett đạt 70,05 điểm (xếp hạng 1). Mục đích đầu tư máy móc, công cụ cơ giới hóa nông nghiệp xếp thứ hai với 57,87 điểm. Nhu cầu mở rộng đất canh tác và mở rộng ngành nghề kinh doanh mới đạt lần lượt 37,76 điểm và 37,00 điểm.
  • Rào cản tiếp cận vốn lớn nhất: Thiếu tài sản bảo đảm và không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nguyên nhân hàng đầu khiến nông dân không thể tiếp cận vốn chính thức, đạt điểm Garrett cao nhất là 71,73 điểm. Lý do không có nhu cầu vay vốn xếp thứ hai với 61,73 điểm. Đáng chú ý, 10% tổng số hộ khảo sát (15 hộ) bị từ chối cấp tín dụng chỉ vì gia đình đã dùng sổ đỏ cho một thành viên khác vay vốn trước đó.
  • Sự tồn tại của tín dụng phi chính thức: Khoảng 21% số hộ khảo sát (32 hộ) phải vay kết hợp từ cả nguồn chính thức lẫn tư nhân, bạn bè. Trong nhóm không vay được ngân hàng, có 27% số hộ phải chấp nhận vay nóng từ chủ nợ tư nhân với lãi suất từ 0,8% đến 1,0%/tháng để trang trải chi phí thức ăn chăn nuôi khẩn cấp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bổ tín dụng tại địa bàn nghiên cứu phản ánh sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn rõ rệt, nhưng khung pháp lý và quy trình thẩm định ngân hàng vẫn chưa bắt kịp nhu cầu thực tế. Dù Nghị định 55/2015/NĐ-CP và Nghị định 116/2018/NĐ-CP của Chính phủ đã nâng mức vay không tài sản bảo đảm lên từ 100 đến 200 triệu đồng cho cá nhân, quy trình triển khai tại cơ sở vẫn yêu cầu nông dân nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tổ chức tín dụng giữ làm bảo đảm niềm tin. Điều này tước đi cơ hội tiếp cận vốn của những lao động trẻ từ 27 đến 33 tuổi có năng lực sản xuất tốt nhưng chưa đứng tên quyền sở hữu đất đai.

Dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện phân bố trình độ học vấn (hơn 50% đạt trình độ trung học phổ thông với 74 người) và bảng thống kê so sánh quy mô đất đai (83 hộ sở hữu diện tích từ 1.081 m² đến 1.800 m²). So sánh với các nghiên cứu trước đây tại Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Trung du miền núi phía Bắc, trở ngại lớn nhất của nông dân không nằm ở khoảng cách địa lý hay lãi suất chính thức (chỉ từ 6,0% - 7,5%/năm), mà nằm ở điều kiện ràng buộc chữ ký của các thành viên đủ 18 tuổi trong gia đình và quy mô vốn vay trung - dài hạn chưa tương xứng với chu kỳ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Việc ứng dụng mô hình tài trợ chuỗi giá trị (như chuỗi cung ứng thịt gà của Công ty Tiên Viên tại huyện Chương Mỹ) cho thấy giải pháp liên kết bao tiêu đầu ra chính là chìa khóa thay thế tài sản thế chấp truyền thống bằng dòng tiền của chuỗi liên kết.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích định lượng và đánh giá thực tiễn chuỗi giá trị, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện chính sách tín dụng chuỗi giá trị nông nghiệp: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành hướng dẫn chi tiết về cấp tín dụng dựa trên hợp đồng liên kết bao tiêu sản phẩm nông nghiệp. Mục tiêu nâng tỷ lệ giải ngân không cần tài sản thế chấp cho các hộ tham gia chuỗi liên kết đạt mức tối thiểu 60% tổng dư nợ nông nghiệp vào năm 2023, nâng hạn mức cho vay lên 200 - 300 triệu đồng/hộ gia đình.
  2. Thiết lập cơ chế kiểm soát dòng tiền ba bên: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cùng các ngân hàng thương mại triển khai giải pháp thanh toán khép kín giữa ngân hàng, doanh nghiệp đầu chuỗi (chế biến, thu mua) và nông hộ. Doanh nghiệp cam kết thanh toán tiền bán nông sản trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của nông dân để tự động trích nợ gốc và lãi, giảm thiểu 100% rủi ro nợ xấu tín dụng chu kỳ 2021 - 2024.
  3. Cải tiến quy trình thủ tục và cơ chế bảo lãnh của các đoàn thể địa phương: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên cấp xã tinh giản thủ tục xác nhận hồ sơ vay vốn, loại bỏ quy định bắt buộc phải có đủ chữ ký của mọi thành viên gia đình trên 18 tuổi đối với các khoản vay dưới 100 triệu đồng. Thời gian xử lý hồ sơ thẩm định cần cắt giảm 40%, hoàn thành giải ngân trong vòng 3 đến 5 ngày làm việc kể từ quý 2 năm 2021.
  4. Đa dạng hóa kỳ hạn vốn vay theo chu kỳ sản xuất: Các tổ chức tín dụng nông thôn mở rộng tỷ trọng vốn vay trung hạn từ 3 đến 5 năm, nâng tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn từ mức dưới 30% hiện nay lên mức 50% vào năm 2024 nhằm đáp ứng nhu cầu cải tạo ao thả cá, xây dựng chuồng trại chăn nuôi quy mô bán công nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và cơ sở dữ liệu chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách công: Sử dụng kết quả phân tích điểm Garrett và các lỗ hổng thực thi Nghị định 55/2015/NĐ-CP, Nghị định 116/2018/NĐ-CP để hoàn thiện khung pháp lý về tín dụng tam nông và chính sách khuyến khích liên kết chuỗi giá trị.
  • Lãnh đạo và cán bộ tín dụng tại các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách: Vận dụng mô hình tài trợ chuỗi giá trị nông nghiệp để thiết kế các sản phẩm tín dụng đặc thù, chuyển dịch phương thức đánh giá rủi ro từ thẩm định tài sản bảo đảm sang thẩm định phương án kinh doanh và dòng tiền liên kết.
  • Doanh nghiệp nông nghiệp và Ban quản trị Hợp tác xã: Tham khảo bài học thực tế từ chuỗi liên kết chăn nuôi gia cầm tại huyện Chương Mỹ để xây dựng chiến lược liên kết bền vững với nông hộ vệ tinh, hỗ trợ xã viên tiếp cận vật tư đầu vào chất lượng cao.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Khai thác khung lý thuyết Stiglitz - Weiss, mô hình tài trợ chuỗi giá trị và phương pháp xếp hạng Garrett làm tài liệu tham khảo chất lượng cho các đề tài nghiên cứu về kinh tế phát triển và tài chính vi mô.

Câu hỏi thường gặp

Tài trợ chuỗi giá trị nông nghiệp khác biệt như thế nào so với cho vay truyền thống?
Tài trợ chuỗi giá trị nông nghiệp tập trung tài trợ dựa trên mối quan hệ hợp tác và hợp đồng bao tiêu giữa nông dân, doanh nghiệp chế biến và ngân hàng. Thay vì bắt buộc thế chấp sổ đỏ, tổ chức tín dụng kiểm soát rủi ro thông qua dòng tiền luân chuyển khép kín trong chuỗi, như trường hợp liên kết sản xuất thịt gà tại huyện Chương Mỹ.

Vì sao hơn 20% nông hộ vẫn phải sử dụng tín dụng phi chính thức dù lãi suất cao?
Khoảng 21% nông hộ tại địa bàn nghiên cứu phải vay vốn từ thị trường phi chính thức với lãi suất 0,8% - 1,0%/tháng vì nguồn vốn này giải ngân tức thì trong ngày, không yêu cầu thủ tục hành chính phức tạp, giúp nông dân kịp thời xử lý các tình huống khẩn cấp như mua thức ăn chăn nuôi hay phòng chống dịch bệnh.

Yếu tố nào cản trở lớn nhất khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của nông hộ nhỏ?
Phân tích thứ hạng Garrett khẳng định việc thiếu tài sản bảo đảm và không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất độc lập là rào cản lớn nhất với 71,73 điểm. Quy định giữ sổ đỏ làm tài sản bảo lãnh khiến những người trẻ tuổi trong gia đình không còn hạn mức thế chấp để mở rộng sản xuất.

Phương pháp xếp hạng Garrett mang lại ưu điểm gì cho nghiên cứu kinh tế nông thôn?
Kỹ thuật xếp hạng Garrett chuyển đổi thứ bậc ưu tiên do 152 hộ nông dân đánh giá thành các điểm số định lượng chuẩn hóa theo công thức vị trí phần trăm. Phương pháp này giải quyết triệt để vấn đề dữ liệu khuyết và sai lệch chủ quan khi đo lường mức độ quan trọng của các rào cản tín dụng.

Nghị định 116/2018/NĐ-CP đã có những sửa đổi quan trọng nào về hạn mức vay vốn nông nghiệp?
Nghị định 116/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 55/2015/NĐ-CP đã nâng mức vay không có tài sản bảo đảm cho cá nhân và hộ gia đình cư trú tại nông thôn từ 50 triệu đồng lên tối đa 100 triệu đồng, và nâng mức vay cho các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao liên kết lên đến 200 triệu đồng.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tín dụng nông thôn và khẳng định vai trò then chốt của tài trợ chuỗi giá trị trong việc phá vỡ vòng luẩn quẩn nghèo đói của nông hộ nhỏ.
  • Nghiên cứu thực nghiệm trên 152 nông hộ tại huyện Thường Tín xác định tỷ lệ tiếp cận vốn chính thức đạt 71,1%, đồng thời chỉ ra nhu cầu vay vốn lớn nhất là mua cây con giống (70,05 điểm) và đầu tư máy móc (57,87 điểm).
  • Rào cản thế chấp tài sản và quy định thủ tục bảo lãnh phức tạp được chứng minh là điểm nghẽn nghiêm trọng nhất kìm hãm dòng vốn chính thức đến tay nông dân (71,73 điểm Garrett).
  • Mô hình tài trợ chuỗi giá trị nông nghiệp được luận chứng là giải pháp tối ưu giúp giảm chi phí giao dịch, thay thế tài sản bảo đảm bằng dòng tiền liên kết và hạn chế sự phụ thuộc vào tín dụng đen.
  • Lộ trình triển khai chính sách tiếp theo cần tập trung thí điểm các gói tín dụng chuỗi giá trị giai đoạn 2021 - 2025, hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro giữa ngân hàng và doanh nghiệp đầu chuỗi.

Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách quan tâm có thể tiếp tục ứng dụng khung phân tích này để mở rộng khảo sát trên các chuỗi giá trị nông sản chủ lực khác trên phạm vi toàn quốc.