Chương 1: Giới thiệu 1. Lý do chọn đề tài Lý thuyết bộ ba bất khả thi được mở rộng bởi Krugman (1979) và Frankel (1999) dựa trên mô hình IS – LM do Robert Mundell và Marcus Fleming giới thiệu vào đầu những năm 1960. Kể từ đó, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm nhằm kiểm định lý thuyết này và hầu đều xác nhận sự tồn tại của nó. Gần đây xuất hiện những nghiên cứu về tác động của bộ ba bất khả thi đến lạm phát, tăng trưởng, biến động lạm phát và biến động sản lượng.
Đáng chú ý là nghiên cứu của Aizenman, Chinn và Ito năm 2008, với dữ liệu gồm 179 quốc gia giai đoạn 1960 – 2006, các tác giả đã xác nhận sự tồn tại của bộ ba bất khả thi và tìm thấy tác động có ý nghĩa của bộ ba bất khả thi đến lạm phát, tăng trưởng, biến động lạm phát và biến động sản lượng. Tuy nhiên, các nghiên cứu của Yu Hsing đối với từng quốc gia Hy Lạp (2012), Cộng hòa Czech (2012), Bulgari (2012) và Brazil (2013) lại cho ra kết quả không hoàn toàn giống với nghiên cứu của Aizenman, Chinn và Ito, thậm chí một số kết quả trái ngược nhau. Kết quả trong các nghiên cứu của Yu Hsing đối với từng quốc gia cũng không hoàn toàn giống nhau. Như vậy, các gợi ý chính sách do Aizenman và các cộng sự đưa ra cho một nhóm các quốc gia dựa trên mẫu lớn có thể không giúp ích nhiều cho từng quốc gia cụ thể trong việc lựa chọn chính sách của họ.
Từ các vấn đề trên, tác giả chọn đề tài “Tác động của bộ ba bất khả thi đến lạm phát và tăng trưởng ở các nước Châu Á”, nhằm đối chiếu kết quả với nghiên cứu của Aizenman và các cộng sự (2008) và đưa ra gợi ý chính sách đối với một số quốc gia riêng lẻ ở Châu Á. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài có các mục tiêu nghiên cứu sau: i. Kiểm định bộ ba bất khả thi ở các nước Châu Á. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Xem xét tác động của bộ ba bất khả thi đến lạm phát, tăng trưởng, biến động lạm phát và biến động sản lượng ở các nước Châu Á. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Bộ ba bất khả thi và những tác động của nó đến lạm phát, tăng trưởng, biến động lạm phát và biến động sản lượng. Phạm vi nghiên cứu Châu Á có 48 quốc gia ( và 6 vùng lãnh thổ), do hạn chế về số liệu có sẵn được cung cấp bởi Aizenman, Chinn và Ito, IMF, World Bank, luận văn này chỉ nghiên cứu 37 quốc gia và đặc khu hành chính Hồng Kông giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2014.
Phương pháp nghiên cứu Đối với mẫu dữ liệu gồm nhiều quốc gia, luận văn sử dụng phương pháp hồi quy bảng với cả 3 mô hình: mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Đối với từng quốc gia riêng lẻ, luận văn sử dụng phương pháp OLS. Để xem xét tác động của sự ổn định bộ ba bất khả thi đến tăng trưởng, lạm phát, biến động sản lượng, biến động lạm phát, luận văn sử dụng phương pháp phân tích tương quan và kiểm định giá trị trung bình giữa các nhóm. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Nhiều nghiên cứu trước đây dựa trên mẫu lớn, gồm nhiều quốc gia, từ đó đưa ra gợi ý chính sách chung cho các quốc gia.
Tuy nhiên, các nghiên cứu của Yu Hsing ở vài quốc gia riêng lẽ thì đưa ra gợi ý chính sách không giống như vậy. Do đó, các gợi ý chính sách chung cho một nhóm quốc gia có thể không phù hợp với từng quốc gia. Bài luận văn giúp đưa ra gợi ý chính sách cho từng quốc gia riêng lẻ ở Châu Á. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2. Tổng quan lý thuyết 2. Lý thuyết bộ ba bất khả thi Lý thuyết bộ ba bất khả thi là một trong những vấn đề trọng tâm của Tài chính quốc tế. Robert Mundell và Marcus Fleming được xem là những người đã đặt nền móng cho lý thuyết này vào đầu thập niên 1960 với mô hình IS – LM (hay còn gọi là mô hình Mundell – Fleming).
Dựa trên đó, Krugman (1979) và Frankel (1999) đã mở rộng thành lý thuyết bộ ba bất khả thi, theo lý thuyết này, một quốc gia không thể đạt được đồng thời cả ba mục tiêu: ổn định tỷ giá, độc lập tiền tệ, và hội nhập tài chính. Hay nói cách khách, một quốc gia chỉ có thể đạt được đồng thời tối đa hai trong ba mục tiêu trên. Tỷ giá linh hoạt Đóng cửa thị Tỷ giá cố định Liên minh trường tài chính tiền tệ Hình 2. Tam giác bất khả thi (Nguồn: Aizenman, Chinn và Ito http://web.edu/~ito/trilemma_indexes.htm) Ổn định tỷ giá là việc ngân hàng trung ương neo đồng nội tệ theo một (hay một rỗ) đồng ngoại tệ, từ đó tạo ra cái neo danh nghĩa giúp tăng niềm tin LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 của nhà đầu tư vào đồng nội tệ.
Tuy nhiên, ổn định tỷ giá quá mức làm cho ngân hàng trung ương mất đi một công cụ quan trọng để can thiệp vào nền kinh tế khi có cú sốc từ bên ngoài, nó cũng được xem là nguyên nhân gây ra tình trạng “nhập khẩu lạm phát”. Hội nhập tài chính nghĩa là dòng vốn được tự do di chuyển, nó cho phép các nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng đầu tư vào trong nước và các nhà đầu tư trong nước đa dạng hóa danh mục đầu tư của họ bằng các khoản đầu tư ra nước ngoài. Hội nhập tài chính được xem là nguyên nhân góp phần gây ra các cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây do việc dừng đột ngột hoặc đảo chiều của dòng vốn, đặc biệt là các dòng vốn ngắn hạn. Độc lập tiền tệ là ngân hàng trung ương sử dụng chính sách tiền tệ để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hay kiềm chế lạm phát.
Ngân hàng trung ương có thể giảm cung tiền, tăng lãi suất khi nền kinh tế phát triển quá nóng, hoặc tăng cung tiền, giảm lãi suất khi nề kinh tế suy thoái. Thước đo bộ ba bất khả thi Có nhiều phương pháp khác nhau để đo lường bộ ba bất khả thi, luận văn này sử dụng thước đo của Chinn và Ito xây dựng, các số liệu về thước đo độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá, và hội nhập tài chính được tính sẵn bởi Aizenman, Chinn và Ito (http://web.edu/~ito/trilemma_indexes. Các kết quả nghiên cứu trước đây 2. Các nghiên cứu kiểm định bộ ba bất khả thi Rose (1996) kiểm định lý thuyết bộ ba bất khả thi bằng mô hình tiền tệ dựa trên cung tiền, sản lượng, biến động tỷ giá thực, điều kiện kiểm soát vốn và cơ chế tỷ giá, với dữ liệu gồm 22 quốc gia giai đoạn 1976 – 1992.
Kết quả xác nhận sự tồn tại của bộ ba bất khả thi, nhưng khá yếu. Obstfeld, Shambaugh và Taylor (2004) lập luận rằng kết quả yếu của Rose là do mô hình tiền tệ không nắm bắt hết bộ ba bất khả thi vì cầu tiền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 không ổn định. Các tác giả thay thế cách đo lường chính sách tiền tệ của Rose dựa trên cung tiền bằng một cách khác, đó là dựa trên mức giá. Kết quả cho thấy dấu hiệu mạnh mẽ ủng hộ bộ ba bất khả thi.
Các quốc gia thả nổi tỷ giá và dòng vốn tự do có thể duy trì được sự độc lập tiền tệ, trong khi các quốc gia khác neo tỷ giá và dòng vốn tự do thì đánh mất đáng kể sự độc lập tiền tệ. Frankel, Schmukler và Serven (2004): sử dụng mẫu 18 nước công nghiệp và 28 nước đang phát triển chỉ ra rằng trong ngắn hạn, các nước có tỷ giá thả nổi phản ứng với lãi suất quốc tế với tốc độ chậm hơn, điều này ngụ ý rằng, họ có một mức độ độc lập tiền tệ nào đó. Mặc dù một số nước phát triển có thể chọn mức lãi suất dài hạn riêng, hầu hết các nước khác với tỷ giá thả nổi phản ứng hoàn toàn với lãi suất quốc tế trong dài hạn. Một trong những nghiên cứu đáng quan tâm nhất là nghiên cứu của Aizenman, Chinn và Ito (2008), sử dụng mẫu lớn gồm 179 quốc gia giai đoạn 1961 – 2006.
Nghiên cứu cho thấy, đầu những năm 1990, các nước công nghiệp đẩy mạnh hội nhập tài chính, giảm mức độ độc lập tiền tệ và gia tăng ổn định tỷ giá, phản ánh bởi sự ra đời của đồng Euro. Ngược lại, các nước mới nổi xem ổn định tỷ giá là ưu tiên hàng đầu từ cuối những năm 1980, các nước đang phát triển không thuộc các nước mới nổi thì theo đuổi ổn định tỷ giá trong suốt những năm 1970. Đây là nghiên cứu đầu tiên sử dụng phương trình hồi quy gồm ba biến độc lập là các thước đo bộ ba bất khả thi, biến phụ thuộc là hằng số. Kết quả xác nhận mạnh mẽ sự tồn tại lý thuyết bộ ba bất khả thi.
Nghiên cứu của Aizenman (2010) cho thấy toàn cầu hóa tài chính trong những năm 1990 và những năm 2000 làm giảm ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ. Một hệ quả không mong muốn của toàn cầu hóa tài chính là các nước đang phát triển ngày càng nhạy cảm với dòng vốn ngắn hạn và khủng hoảng nợ. Các nước mới nổi phản ứng bằng cách gia tăng ổn định tài chính. Cùng với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hội nhập tài chính, các nước mới nổi gia tăng dự trữ ngoại hối, như một phương tiện để tự phòng ngừa các bất ổn tài chính.
Căpraru và Ihnatov (2011) xem xét các hệ thống tỷ giá khác nhau tác động đến độc lập tiền tệ như thế nào, dựa trên mẫu dữ liệu gồm 8 quốc gia mới gia nhập Eurozone. Họ thấy rằng các quốc gia với hệ thống tỷ giá cố định hoặc trung gian thì ít nhạy cảm hơn đối với lãi suất của Ngân hàng trung ương Châu Âu (European Central Bank), so với các nước có tỷ giá thả nổi. Các quốc gia có hệ thống tỷ giá trung gian thì độc lập tiền tệ nhiều hơn. Điều này gợi ý rằng các nước có hệ thống tỷ giá thả nổi thì ít độc lập tiền tệ hơn so với các nước có hệ thống tỷ giá cố định hoặc trung gian.
Yu Hsing (2012, 2013) nghiên cứu các quốc gia riêng lẻ Hy Lạp, Cộng hòa Czech, Bulgaria và Brazil đều xác nhận sự tồn tại bộ ba bất khả thi ở các quốc gia này. Các nghiên cứu xem xét tác động của bộ ba bất khả thi 2.