CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI VÀ LẠM PHÁT 1. Tổng quan về bộ ba bất khả thi 1. Mô hình Mudell-Fleming Robert Mundell và Marcus Fleming đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ. Hai ông đã chỉ ra rằng ở những quốc gia sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để đạt được sự cân bằng bên trong (Cân bằng tổng cung – tổng cầu) và cân bằng bên ngoài (Cân bằng trong cán cân thanh toán) thì chính sách tiền tệ nên được sử dụng để đạt được sự cân bằng trong cán cân thanh toán và chính sách tài khóa nên được sử dụng để đạt được sự cân bằng trong tổng cung và tổng cầu.
Cân bằng bên trong và bên ngoài Mỗi nền kinh tế đều cố gắng đạt được sự cân bằng vĩ mô dưới hình thức cân bằng bên trong và bên ngoài thông qua nhiều công cụ chính sách khác nhau, nổi bật trong số đó là lãi suất, thuế, mức chi tiêu chính phủ và nợ công. Cân bằng bên trong đạt được khi tổng cầu bằng với tổng cung trong nước tại mức toàn dụng, nghĩa là giá cả và sản lượng trong nước được duy trì ở mức mà tại đó thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ và thị trường lao động đều cân bằng. Nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên, nền kinh tế sẽ chịu áp lực lạm phát hoặc suy thoái tương ứng khi tổng cầu vượt quá hoặc thấp hơn mức toàn dụng của nền kinh tế. Các thành phần của tổng cầu được thể hiện trong phương trình sau đây: Yd = C + I + G + NX Trong đó C là chi tiêu dùng, I là chi đầu tư, G là chi tiêu chính phủ và NX là xuất nhập khẩu ròng, NX được xác định bởi: NX = X0 – mY Với X0 là tổng giá trị xuất khẩu, mY là tổng giá trị nhập khẩu.
Như vậy, xuất khẩu không phụ thuộc Y nhưng nhập khẩu là một hàm của Y. Thị trường hàng hóa cân bằng khi tổng cầu (Yd) bằng tổng cung (Y). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- Cán cân thanh toán của một nền kinh tế bao gồm hai thành phần chủ yếu là tài khoản vãng lai và tài khoản vốn, được diễn tả thông qua phương trình sau: BP = NX + KA Do NX chiếm tỷ trọng lớn trong tài khoản vãng lai nên NX được xem như là tài khoản vãng lai và KA là tài khoản vốn (bằng tài sản trong nước được sở hữu bởi công dân nước ngoài trừ đi tài sản nước ngoài trừ đi tài sản nước ngoài được sở hữu bởi công dân trong nước). Giả sử chu chuyển vốn là hoàn hảo, ta có tài khoản vốn là một hàm của chênh lệch giữa lãi suất trong nước và lãi suất nước ngoài, cụ thể là: KA = k (r – r*) Nếu lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài thì lợi nhuận đầu tư trong nước cao hơn lợi nhuận đầu tư ra nước ngoài, công dân trong nước và nước ngoài có xu hướng tăng mua tài sản trong nước và giảm mua tài sản nước ngoài, vốn có khuynh hướng đổ vào trong nước.
Nói một cách khác, nếu lãi suất trong nước cao hơn lãi suất nước ngoài thì tài khoản vốn sẽ thặng dư và ngược lại. Các khoản mục của một cán cân thanh toán có thể có sự thâm hụt hoặc thặng dư nhưng cán cân thanh toán tổng thể phải luôn cân bằng. Đây là một đóng góp quan trọng của mô hình Mundell – Fleming khi đưa yếu tố nước ngoài vào phân tích trong mô hình IS – LM thông qua việc bổ sung đường cán cân thanh toán BP. Hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá cố định Mundell và Fleming đã minh họa tính hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá cố định thông qua mô hình IS-LM-BP.
Đường IS là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà tại đó thị trường hàng hóa cân bằng. Sự dịch chuyển đường IS thể hiện tác động của chính sách tài khóa. Đường LM là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà tại đó thị trường tiền tệ cân bằng. Sự dịch chuyển của đường LM thể hiện sự tác động của chính sách tiền tệ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- Sự tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có thể làm thay đổi trạng thái của cán cân thanh toán. Đường BP là tập hợp những phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà ở đó cán cân thanh toán cân bằng. Đường BP dốc lên thể hiện mối quan hệ đồng biến giữa lãi suất và thu nhập. Phát hiện này là một sự tiến bộ lớn của mô hình Mundell-Fleming so với mô hình Keynes.
Giả sử cán cân thanh toán cân bằng (BP = 0) ở mức thu nhập Y và lãi suất r. Nếu Y tăng thì lượng nhập khẩu mY tăng làm cho tài khoản vãng lai NX giảm và do đó BP < 0 (cán cân thanh toán thâm hụt). Vì vậy để cán cân thanh toán trở lại cân bằng thì phải gia tăng tài khoản vốn (KA), điều đó đồng nghĩa với việc tăng mức lãi suất trong nước (r). Nói tóm lại, khi thu nhập gia tăng làm cán cân thanh toán thâm hụt thì lãi suất trong nước phải tăng lên để cán cân thanh toán trở về vị trí cân bằng và ngược lại.
Dưới chế độ tỷ giá cố định, không có bất kỳ lý do nào để đảm bảo cán cân thanh toán luôn cân bằng. Nếu sự kết hợp tạo cân bằng bên trong giữa thu nhập và lãi suất nằm bên phải đường BP (chẳng hạn như điểm F trong hình 1.1) thì cán cân thanh toán thâm hụt (BP < 0). Nếu sự kết hợp này nằm bên trái đường BP (điểm G) thì cán cân thanh toán thặng dư (BP > 0). Giả sử ban đầu, nền kinh tế đang cân bằng bên trong và bên ngoài tại điểm E(Y*, r*) trên hình 1.
Khi chính phủ áp dụng chính sách tài khóa mở rộng, đường IS dịch chuyển đến IS’, cắt LM tại G, nền kinh tế đạt cân bằng bên trong: sản lượng tăng đồng thời lãi suất cũng tăng. Kết quả, dòng vốn có xu hướng chảy vào trong nước nên cán cân thanh toán sẽ thặng dư và tỷ giá có xu hướng giảm. Để duy trì tỷ giá cố định, NHTW phải đưa thêm nội tệ vào nền kinh tế để mua ngoại tệ. Do đó đường LM dịch chuyển sang phải thành đường LM’, tạo điểm cân bằng vĩ mô mới tại H.
Đây là điểm cân bằng dài hạn bền vững. Trong một trường hợp khác, xuất phát từ điểm E(Y*, r*) , nếu chúng ta áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng, thì đường LM dịch chuyển sang phải thành đường LM’. Nền kinh tế cân bằng bên trong tại điểm F: Sản lượng tăng lên, lãi suất giảm. Do đó dòng vốn có xu hướng chảy ra nước ngoài khiến cán cân thanh toán thâm hụt và tỷ giá có xu hướng tăng lên.
Để duy trì tỷ giá ban đầu, NHTW phải bán ngoại tệ ra để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- đối lấy nội tệ, do đó lượng dự trữ ngoại tệ giảm và lượng cung tiền trong nước cũng giảm xuống, kết quả đường LM dịch chuyển sang trái trở về vị trí ban đầu và điểm cân bằng sẽ quay về lại điểm E. Nghĩa là sản lượng sau khi gia tăng trong một thời gian ngắn sẽ quay lại điểm cân bằng ban đầu.1: Quan hệ IS, LM, BP khi áp dụng cơ chế tỷ giá cố định. Như vậy, dưới chế độ tỷ giá cố định và chu chuyển vốn hoàn hảo, chính sách tài khóa có hiệu quả cao trong khi chính sách tiền tệ không có hiệu quả. Hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá thả nổi Giả sử nền kinh tế đang cân bằng bên trong và bên ngoài tại điểm E (Y*, r*) trên hình 1.
Một chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm đường LM dịch chuyển sang phải thành đường LM’. Nền kinh tế cân bằng bên trong tại điểm F. Tại điểm F, sản lượng tăng lên, lãi suất giảm xuống, dòng vốn có xu hướng chảy ra nước ngoài khiến cán cân thanh toán bị thâm hụt và tỷ giá có xu hướng tăng lên, khi tỷ giá tăng lên có nghĩa là đồng nội tệ bị giảm giá, nhờ đó làm tăng sức cạnh tranh quốc tế dẫn đến xuất khẩu tăng và nhập khẩu giảm nên NX tăng lên. Kết quả, lượng ngoại tệ đi vào ròng tăng lên, làm đường IS và BP dịch chuyển sang phải thành đường IS’ và BP’ hình thành điểm cân bằng mới tại J ở mức sản lượng cao hơn sản lượng cân bằng ban đầu.
Như vậy, chính sách tiền tệ có tác dụng mạnh để gia tăng sản lượng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Quan hệ giữa IS , LM, BP khi áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi. Ta xem xét tác động của chính sách tài khóa. Xuất phát từ điểm E là điểm cân bằng ban đầu.
Một chính sách tài khóa mở rộng làm đường IS dịch chuyển sang phải thành IS’’. Nền kinh tế đạt cân bằng bên trong tại điểm G với sản lượng tăng đồng thời lãi suất trong nước cũng tăng. Kết quả là dòng vốn chảy vào có xu hướng tăng lên nên cán cân thanh toán thặng dư và do đó tỷ giá có xu hướng giảm xuống. Khi tỷ giá giảm nghĩa là đồng nội tệ tăng giá làm sức cạnh tranh giảm, do đó xuất khẩu ròng NX giảm và lượng ngoại tệ đi vào ròng giảm nên đường BP sẽ dịch chuyển sang trái thành BP’’ và đường IS’’ sẽ dịch chuyển ngược lại thành IS’ hình thành nên điểm cân bằng mới K với sản lượng và lãi suất đều giảm so với mục tiêu.
Như vậy chính sách tài khóa có tác dụng yếu hơn trong việc gia tăng sản lượng. Qua đó ta có thể rút ra kết luận: Trong chế độ tỷ giá linh hoạt và dòng vốn chu chuyển hoàn toàn, chính sách tiền tệ có tác dụng mạnh hơn trong khi chính sách tài khóa có tác dụng yếu hơn. Bộ ba bất khả thi trong nền kinh tế mở 1. Mẫu hình cổ điển Dựa vào những kết luận của mô hình Mundell - Fleming, hai nhà kinh tế học Krugman (1979) và Frankel (1999) đã phát triển lên thành lý thuyết bộ ba bất khả thi.
Lý thuyết bộ ba bất khả thi được phát biểu như một định đề: Một quốc gia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.