CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tỷ giá hối đoái a. Khái niệm tỷ giá hối đoái và phân loại tỷ giá hối đoái Định nghĩa tỷ giá :“ Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác”. Tỷ giá hối đoái vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa thể hệ quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.
Có thể phân loại tỷ giá hối đoái dựa vào giá trị tỷ giá theo hai loại: tỷ giá hối đoái danh nghĩa (Nominal Exchange Rate - NER) và tỷ giá hối đoái thực (Real Exchange Rate – RER) Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: là tỷ giá được sử dụng thường nhật trong giao dịch trên thị trường ngoại hối có nghĩa là loại tỷ giá này cho biết rằng cần có bao nhiêu đồng nội tệ để mua được 1 đồng ngoại tệ và ngược lại. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được chia thành tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương và tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương (Bilateral Exchange Rate) là giá cả của 1 đồng tiền so với 1 đồng tiền khác mà chưa đề cập đến mức lãi suất và tỷ lệ lạm phát dù đây 2 yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá của 2 đồng tiền. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương (NEER–Nominal Effective Exchange Rate) là 1 chỉ số được tính bằng cách chọn ra 1 số ngoại tệ đặc trưng của các quốc gia có quan hệ thương mại lớn với quốc gia (rổ tiền tệ) và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của các đồng tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng: 𝑛 𝑁𝐸𝐸𝑅𝑡 = ∑ (𝐸𝑅𝑖𝑡 ∗ 𝑤𝑖𝑡 ) 𝑖=1 Với NEER là tỷ giá danh nghĩa đa phương, ER là tỷ giá danh nghĩa song phương, t là kỳ thanh toán, w là trọng số ứng với đồng tiền thứ i trong rổ tiền tệ.
NEER được dùng để đo lường sức mạnh hàng hóa của một nước với nhiều nước khác nhau. 7 Tỷ giá hối đoái thực: là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tương quan giá cả giữa 2 nước và là chỉ số thể hiện sức mua của đồng tiền này so với đồng tiền khác. RER được dùng để đo lường sức cạnh tranh trong thương mại quốc tế giữa 2 nước. Tỷ giá hối đoái thực cũng được chia làm 2 loại tương tự như tỷ giá hối đoái danh nghĩa là: tỷ giá hối đoái thực song phương (Bilateral Real Exchange Rate - BRER) và tỷ giá hối đoái thực đa phương (Multilateral Real Exchange Rate - MRER.
Tỷ giá thực song phương là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh theo mức chênh lệch tỷ lệ lạm phát giữa 2 nước, là chỉ số thể hiện sức mua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ. Do vậy, có thể xem tỷ giá thực song phương là thước đo cho sức cạnh tranh trong mậu dịch quốc tế của 1 nước so với 1 nước khác. Tỷ giá thực song phương ở hai trạng thái: tĩnh và động. Tỷ giá thực song phương ở trạng thái tĩnh: là tỷ giá thực song phương được xét ở một thời điểm nhất định.
Công thức tính như sau: 𝐸𝑅. 𝑃 ∗ 𝑅𝐸𝑅 = 𝑃 Trong đó: RER là tỷ giá thực song phương, ER là tỷ giá danh nghĩa, P* là mức giá ở nước ngoài, P là mức giá trong nước. Như vậy, có thể thấy, tỷ giá thực song phương là tỷ số giữa giá hàng hóa nước ngoài so với giá hàng hóa trong nước (cùng đơn vị tiền tệ). Nếu RER = 1 thì giá hàng hóa trong nước bằng với giá hàng hóa ở nước ngoài, như vậy các hàng hóa này ngang giá với nhau.
Nếu RER > 1 thì giá hàng hóa ở nước ngoài đắt hơn một cách tương đối so với hàng hóa trong nước, đồng tiền nước ngoài bị định giá thấp. Nếu RER < 1 thì giá hàng hóa ở nước ngoài rẻ hơn một cách tương đối so với hàng hóa trong nước. Qua đó, có thể thấy sự biến động của RER được gây ra bởi ba yếu tố được sử dụng để tính RER đó là tỷ giá danh nghĩa, mức giá nước ngoài và mức giá trong nước: %∆RER = (%∆ER + %∆P* + %∆P). Trong đó, %∆P là tỷ lệ lạm phát trong nước, %∆P* là tỷ lệ lạm phát của nước ngoài, và %∆ER là tỷ lệ thay đổi (lên giá, hay mất giá) của tỷ giá danh nghĩa.
Do không có quốc gia nào công bố giá hàng hóa của nước mình, cho nên tỷ giá thực ở trạng thái tĩnh chỉ mang ý nghĩa lý thuyết. Vì thế, nên sử dụng tỷ giá ở trạng thái động để tính toán sự biến động của tỷ giá thực qua thời gian thông qua việc điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa với chênh lệch lạm phát giữa hai nước. Tại thời điểm t: 8 𝑡 𝐶𝑃𝐼𝑜𝑡∗ 𝑒𝑜𝑟 = 𝑒𝑡 ∗ 100 𝐶𝑃𝐼𝑜𝑡 Trong đó: 𝑒𝑜𝑡 = 𝐸𝑡 /𝐸𝑜 là chỉ số tỷ giá danh nghĩa thời điểm t so với thời điểm 0 𝑡 𝑒𝑜𝑟 = 𝐸𝑡𝑟 /𝐸𝑜𝑟 là chỉ số tỷ giá thực thời điểm t so với thời điểm 0 𝐶𝑃𝐼𝑜𝑡∗ là chỉ số giá ở nước ngoài thời điểm t 𝐶𝑃𝐼𝑜𝑡 là chỉ số giá ở trong nước thời điểm t Tỷ giá thực đa phương “là một chỉ số phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia” (Phạm Hồng Phúc, 2009) và là cơ sở để xem xét đồng nội tệ bị đánh giá cao hay thấp. Tỷ giá thực đa phương được tính toán để định ra giá trị thực của đồng nội tệ so với các ngoại tệ (rổ ngoại tệ).
MRER là trung bình của các tỷ giá hối đoái thực song phương giữa các quốc gia đó với mỗi quốc gia bạn hàng thương mại của nó, có tính đến trọng số của tỷ phần thương mại tương ứng của mỗi quốc gia bạn hàng. “Công thức tính MRER: 𝑀𝑅𝐸𝑅𝑗.BRERj/i,t Với MRERj.t là chỉ số tỷ giá hối đoái thực đa phương nước j so với N quốc gia bán hàng (i=1…N); wi là trọng số ngoại thương quốc gia i trong thương mại đối với quốc gia j; BRERj/j,t các chỉ số tỷ giá hối đoái thực song phương của quốc gia j đối với quốc gia i ở năm t. Ngoài ra, nếu dựa vào kỳ hạn thanh toán thì tỷ giá được phân thành tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn. Còn nếu dựa vào thời điểm tiến hành giao dịch ngoại hối, tỷ giá được phân thành tỷ giá mua (ngoại tệ vào của ngân hàng) và tỷ giá bán (ngoại tệ ra của ngân hàng).
Chế độ tỷ giá hối đoái Chế độ tỷ giá hối đoái là cách thức một quốc gia quản lý đồng tiền của nước mình liên quan đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối. Chế độ tỷ giá hối đoái được phân chia thành: chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết. (1) Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn là một chế độ trong đó giá trị của một đồng tiền được phép biến động tự do trên thị trường ngoại hối theo cung cầu ngoại tệ mà không có sự can thiệp của Chính phủ. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thả nổi.
Theo cơ chế này, các doanh nghiệp phải dành thời gian và tiềm lực để phòng ngừa rủi ro khi tỷ giá biến động. Trong chế độ tỷ giá này, khi tỷ giá tăng thì đồng nội tệ giảm giá và ngược lại. (2) Chế độ tỷ giá cố định là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm.
Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định. Mặc dù việc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ hạn chế khả năng của Chính phủ trong vận hành một chính sách tiền tệ nội địa độc lập nhằm duy trì ổn định kinh tế trong nước, song trong thực tế, nhiều Chính phủ vẫn thích chế độ tỷ giá hối đoái cố định bởi nó tạo ra sự ổn định. Trong chế độ tỷ giá cố định, bằng điều chỉnh các chính sách tiền tệ, Chính phủ cố gắng giữ tỷ giá ở một giá trị nhất định nhằm ổn định thị trường tránh những biến động đột ngột gây cản trở nền kinh tế. Có nhiều quan điểm cho rằng tỷ giá hối đoái cố định quá cứng nhắc nên che mất những thông tin cần thiết cho thị trường hoạt động đúng hướng, đồng tiền không còn thể hiện giá trị thị trường thực của nó.
Sự che đậy thông tin này tạo ra tính không chắc chắn, kích thích các kẻ đầu cơ "tấn công" các đồng tiền cố định và Chính phủ phải tốn nhiều tiềm lực (phải có dự trữ ngoại hối đủ mạnh và đủ lớn đến can thiệp vào thị trường khi cần thiết), làm cho chính sách tiền tệ mất hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá cố định. 10 (3) Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là chế độ hỗn hợp giữa chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn và cố định. Trong chế độ này, tỷ giá biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường và ngân hàng trung ương có tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối nhằm ảnh hưởng đến tỷ giá nhưng ngân hàng trung ương không cam kết duy trì một tỷ giá cố định hay biên độ biến động nào xung quanh tỷ giá trung tâm.
Cụ thể hơn đó là tỷ giá được điều tiết theo quan hệ cung cầu ngoại tệ nhưng nếu tăng vượt mức kiểm soát, có khả nay tác động xấu đến kinh tế, Chính phủ sẽ dùng dự trữ ngoại hối và các chính sách tiền tệ để can thiệp. Ưu điểm của chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là tỷ giá tương đối ổn định do đó góp phần ổn định kinh tế, thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế, đảm bảo tính độc lập tương đối của chính sách tiền tệ, hạn chế được những ảnh hưởng do các cú sốc từ bên ngoài đến với kinh tế. Nhưng để duy trì chế độ này, ngân hàng trung ương cũng phải có lượng ngoại tệ đủ mạnh để can thiệp vào thị trường khi cần thiết và phải xác định mức độ can thiệp phù hợp, nếu không sẽ trở thành chế độ tỷ giá cố định.