CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lý thuyết về tỷ giá hối đoái 1. Khái niệm Khái niệm tỷ giá hối đoái Karl Mark (1818-1883) chính là người đầu tiên đưa ra khái niệm tỷ giá hối đoái. Trong bộ “Tư bản”(1858) ông viết: “Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế lịch sử, gắn với giai đoạn phát triển sản xuất của xã hội, tính chất, cường độ tác động của nó phụ thuộc vào trình độ phát triển thị trường và các giai đoạn cụ thể trong lưu thông tiền tệ thế giới”.
Đây là một khái niệm khá phức tạp mang nặng tính lý luận hơn nghiên cứu thực tế song cũng đã thể hiện được phần nào tính lịch sử cũng như sự vận động của tỷ giá. Sau Mark, tỷ giá hối đoái đã được hiểu đơn giản hơn và cho đến nay khái niệm thường được sử dụng nhất là “Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này đươc biểu thị thông qua một số đơn vị tiền tệ khác” (PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên, 2010, tr. Điều đó có nghĩa tỷ giá hối đoái cũng là giá cả song giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt: tiền tệ. Mỗi quốc gia hiện nay thường tạo dựng cho mình một đồng tiền riêng, đồng tiền nước này là ngoại tệ của nước khác, việc thanh toán giữa các quốc gia đòi hỏi phải sử dụng đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia, từ đó lại xuất hiện hai khái niệm cụ thể hơn về tỷ giá hối đoái xét trên phạm vi một quốc gia: - Tỷ giá là giá của đồng ngoại tệ tính theo đơn vị nội tệ.
Khái niệm này biểu trưng cho cách yết giá trực tiếp (ngoại tệ/nội tệ). Ví dụ tỷ giá EUR/VND (EUR: euro, đồng tiền chung Châu Âu) trên thị trường Việt Nam ngày 01/12/2016 là 22078 VND và ở đây giá 1EUR đã được biểu hiện trực tiếp bằngVND. - Tỷ giá là giá cả của đồng nội tệ tính theo ngoại tệ. Đây là khái niệm chỉ cách yết giá gián tiếp (nội tệ/ngoại tệ), ví dụ yết giá 1GBP = 1.
Theo pháp lệnh về ngoại hối của Việt Nam được Quốc hội ban hành ngày 13/12/2005, tại khoản 9, điều 4: “TGHĐ của đồng tiền Việt Nam là giá của một đồng đơn vị nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”. Ở Việt Nam, TGHĐ đồng Việt Nam do Ngân hàng Ngoại thương công bố thông lệ quốc tế: Số đơn vị tiền đồng Việt Nam cần thiết để mua một đơn vị tiền nước ngoài. Khái niệm thị trường ngoại hối. “ Ngoại hối là thuật ngữ dùng để chỉ các phương tiện tiền tệ được sử dụng trong thanh toán quốc tế” (PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên, 2010, tr.
Tùy theo cơ chế 7 Luan van quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia mà ngoại hối bao gồm các loại khác nhau. Ở Việt Nam, theo chế độ quản lý ngoại hối hiện hành, ngoại hối bao gồm: ngoại tệ (tiền xu, tiền giấy, tiền trên tài khoản, tiền điện tử và các phương tiện khác xem như tiền); các phương tiện thanh toán quốc tế (séc, kỳ phiếu, hối phiếu.); giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ (trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác), vàng tiêu chuẩn quốc tế; đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ. Các nước khác nhau sẽ sử dụng các loại tiền khác nhau hay các phương thức thanh toán khác nhau nên khi các nước mở rộng quan hệ thương mại quốc tế thì cần có một nơi để trao đổi tiền giữa các nước với nhau, đó chính là thị trường ngoại hối. Như vậy “Thị trường ngoại hối là một bộ phận của thị trường tài chính, nơi diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền” (PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên, 2010, tr.
Trung tâm của thị trường hối đoái là thị trường liên ngân hàng, thông qua thị trường này, mọi giao dịch mua bán ngoại hối có thể được tiến hành mua bán trực tiếp với nhau. Thị trường ngoại hối có 3 chức năng cơ bản sau: Một là giúp chuyển đồng tiền thành đồng tiền khác; Hai là cung cấp tín dụng cho các hoạt động ngoại thương; Cuối cùng thị trường hối đoái tạo rào cản để hạn chế rủi ro. Phân loại PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên (2010, tr.94-95) cho rằng tỷ giá bao gồm nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu thức nghiên cứu và phân loại như sau: 1. Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối.
- Tỷ giá mua (bid rate/ buy rate): là mức giá mà ngân hàng sẵn sàng mua ngoại hối vào. - Tỷ giá bán (ask rate/ offer rate): là mức giá mà ngân hàng sẵn sàng bán ngoại hối ra. - Tỷ giá giao ngay (spot rate): là tỷ giá được áp dụng trong hợp đồng mua bán ngoại hối giao ngay, trong đó mức giá được thỏa thuận tại thời điểm hôm nay nhưng giao dịch được hoàn thiện sau hai ngày hoàn thiện. - Tỷ giá kì hạn (forward rate): là tỷ giá được áp dụng trong hợp đồng mua bán ngoại hối kỳ hạn trong đó mức giá đã được thỏa thuận tại thời điểm hôm nay nhưng giao dịch được thực hiện sau ba ngày làm việc trở lên.
- Tỷ giá mở cửa (opening rate): là mức giá áp dụng cho hợp đồng mua bán ngoại hối đầu tiên trong ngày. - Tỷ giá đóng cửa (closing rate): là mức giá áp dụng cho hợp đồng mua bán ngoại hối cuối cùng trong ngày. - Tỷ giá chuyển khoản (transfer rate): là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại hối với ngân hàng thông qua hạch toán trên tài khoản khách hàng. 8 Luan van - Tỷ giá tiền mặt ( bank note rate): là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại hối mà việc thanh toán ngân hàng thực hiện bằng tiền mặt.
Căn cứ vào cơ chế, chính sách tỷ giá. - Tỷ giá chính thức (official rate): là tỷ giá do NHTW công bố, phản ánh chính thức giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia và làm cơ sở để xác định tỷ giá kinh doanh của NHTM trong biên độ cho phép, tính thuế xuất nhập khẩu và giao dịch khác liên quan tới tỷ giá chính thức. - Tỷ giá thị trường tự do/ chợ đen (black maket rate): là tỷ giá được hình thành ngoài hệ thống ngân hàng và do quan hệ cung cầu trên thị trường tự do quyết định. - Tỷ giá cố định (fixed rate): là tỷ giá do NHTW và được cố định trong biên độ hẹp.
Để duy trì tỷ giá này NHTW can thiệp trên thị trường ngoại hối bằng cách bán ra hoặc mua vào ngoại hối). - Tỷ giá thả nổi hoàn toàn (freely floating rate): là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường và ngân hàng trung ương không tham gia can thiệp trên thị trường ngoại hối. - Tỷ giá thả nổi có điều tiết (managed floating rate): là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường nhưng ngân hàng trung ương có can thiệp theo mục tiêu của chính sách tiền tệ. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên (2010, tr.93-94) đã nêu rõ tỷ giá chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau: 1.
Tác động của sức mua đồng tiền. Việc so sánh sức mua đồng tiền là vấn đề không đơn giản. Thuyết ngang giá sức mua cho chúng ta thấy một ý tưởng về vấn đề này. Theo thuyết ngang giá sức mua, tỷ giá giữa các đồng tiền của bất kỳ 2 quốc gia nào sẽ điều chỉnh để phản ánh sự thay đổi trong mức giá của 2 quốc gia đó.
Thuyết ngang giá sức mua gợi ý rằng nếu mức giá của một nước tăng tương đối so với nước khác thì đồng tiền của nước đó sẽ giảm giá, đồng tiền của nước kia sẽ tăng giá. Nói cách khác, nếu tỷ lệ lạm phát ở một nước cao hơn các nước khác thì đồng tiền đó có xu hướng giảm giá so với đồng tiền nước kia. Tác động của cung cầu ngoại hối. Khi cầu ngoại hối không thay đổi, nếu cung ngoại hối tăng sẽ làm ngoại tệ giảm giá và ngược lại.
Khi cung ngoại hối không thay đổi, nếu cầu ngoại hối tăng sẽ làm cho ngoại tệ tăng giá và ngược lại, cung cầu ngoại hối trên thị trường lại chịu tác động bởi các yếu tố: 9 Luan van Cán cân thanh toán quốc tế (Banlance of Payment) Cán cân thanh toán quốc tế của một nước cho thấy tình hình cung và cầu ngoại tệ của nước đó. Nếu cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt dẫn đến nhu cầu ngoại tệ gia tăng, cầu > cung, tỷ giá có xu hướng tăng lên. Ngược lại nếu cán cân thanh toán quốc tế thặng dư dẫn đến cung ngoại tệ gia tăng, cung > cầu, tỷ giá có xu hướng giảm xuống. Tuy nhiên sự biến động tăng giảm tỷ giá hối đoái nói trên chỉ xảy ra trong điều kiện trường hợp môi trường kinh tế ổn định không xảy ra những biến cố kinh tế - chính trị trọng đại, vì những biến động và chính trị, xã hội sẽ tác động nhanh chóng đến sự thay đổi của tỷ giá.
Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước Nước nào có lãi suất ngắn hạn cao hơn nước khác sẽ có nguồn vốn ngắn hạn chảy vào nhằm thụ hưởng phần chênh lệch lãi xuất cao hơn, làm cho cung ngoại hối tăng lên, dẫn đến ngoại tệ giảm giá và ngược lại. Tuy nhiên, chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự di chuyển luồng vốn giữa các quốc gia, nhưng luồng vốn có thực sự di chuyển không và sự di chuyển với quy mô và tốc độ như thế nào còn tùy thuộc vào quan điểm của các nhà đầu tư, tùy thuộc vào tình hình kinh tế chính trị, tình hình lưu thông tiền tệ. của quốc gia có mức lãi suất cao hơn. Vai trò của chính phủ Chính phủ có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối.
Sự can thiệp này thực hiện bằng việc bán ra hoặc mua vào ngoại tệ với khối lượng lớn nhằm làm thay đổi quan hệ cung cầu ngoại tệ, từ đó tác động đến tỷ giá nhằm đạt mục tiêu chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương. Chính sách của chính phủ: Một chính phủ có thể tác động đến tỷ giá hối đoái bằng phương pháp trực tiếp hay gián tiếp: - Can thiệp trực tiếp: Các NHTW có thể tác động đến tỷ giá bằng cách trực tiếp mua vào ngoại tệ hoặc bán nội tệ ra thị trường. Khi NHTW can thiệp vào thị trường hối đoái có sự điều chỉnh sự thay đổi trong mức cung tiền tệ.