CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến tỷ giá hối đoái và xuất khẩu Khái niệm TGHĐ Theo quan điểm của kinh tế học, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác. Hay tỷ giá hối đoái còn được ngầm hiểu là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ. Riêng ở Mỹ và ở Anh, thuật ngữ này được sử dụng theo nghĩa ngược lại: số lượng đơn vị ngoại tệ cần thiết để mua một đồng Đô-la hoặc một đồng bảng Anh.
Có hai loại TGHĐ: - Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (e n): là TGHĐ được biết đến nhiều nhất do Ngân hàng Nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày. - Tỷ giá hối đoái thực tế (er): là tỷ giá loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch lạm phát giữa các nước và phản ánh đúng sức mua, sức cạnh tranh của một nước. TGHĐ thực tế được tính theo công thức sau: er = en × Trong đó: là chỉ số giá trong nước là chỉ số giá nước ngoài Theo pháp lệnh về ngoại hối của Việt Nam được Quốc hội ban hành ngày 13/12/2005, tại khoản 9, điều 4: “TGHĐ của đồng tiền Việt Nam là giá của một đồng đơn vị nước ngoài tính bằng đơn vị tiề tệ của Việt Nam”. Theo giáo trình Tài chính quốc tế, Học viện Tài chính, năm 2002, trang 238: “ Thực chất của TGHĐ là tương quan giữa sức mua giữa các đồng tiền có thể chuyển đổi được cho nhau”.
Như vậy, có thể hiểu TGHĐ là mối quan hệ so sánh giữa các đồng tiền với nhau, đó là giá cả chuyển đổi một đơn vị tiền tệ của nước này thành những đơn vị tiền tệ của nước khác. Vì vậy bản chất của TGHĐ là một loại giá cả nhưng là giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt, đó là tiền tệ. SVTH: Vũ Thị Duyên 7 Lớp: K45F3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Thế Sơn Ở Việt Nam, TGHĐ đồng Việt Nam do Ngân hàng Ngoại thương công bố theo thông lệ quốc tế: số đơn vị tiền đồng Việt Nam cần thiết để mua một đơn vị tiền nước ngoài. Khái niệm thị trường ngoại hối: Các nước khác nhau sẽ sử dụng các loại tiền khác nhau hay các phương thức thanh toán khác nhau nên khi các nước mở rộng quan hệ thương mại quốc tế thì cần có một nơi để trao đổi tiền giữa cac nước với nhau, đó chính là thị trường ngoại hối.
Như vậy, thị trường ngoại hối là thị trường quốc tế, trong đó đồng tiền của quốc gia này có thể đổi lấy đồng tiền của quốc gia khác. Khái niệm chính sách tỷ giá: Chính sách tỷ giá là một hệ thống các công cụ dùng để tác động cung-cầu ngoại tệ trên thị trường, từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá nhằm đạt được các mục tiêu cần thiết. Hay chính sách TGHĐ là một thể thống nhất những định hướng và giải pháp của Nhà nước đảm bảo ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế-xã hội đã dự định. Về cơ bản, chính sách TGHĐ tập trung chú trọng vào hai vấn đề: vấn đề lựa chọn TGHĐ (cơ chế vận động TGHĐ) và vấn đề điều chỉnh TGHĐ.
Chính sách tỷ giá có vị trí rất quan trọng, là một bộ phận hữu cơ của chính sách tiền tệ, không thể tách rời khỏi chính sách ổn định tiền tệ. Khi thực hiện tốt chính sách điều hành tỷ giá sẽ góp phần điều hành tốt các chính sách khác. Chính sách tỷ giá có tác dụng tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa trên thị trường quốc tế cũng như bảo vệ ngành, lĩnh vực cần thiết trong nước. Ngoài ra, chính sách tỷ giá còn góp phần tác động đến những dòng chảy ngoại tệ vào mỗi quốc gia.
Khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá giữa các nước. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi thì các quốc gia đều quan tâm và mở rộng hoạt động này.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện rất lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức cơ bản là trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các nước nhưng hiện nay nó đã được biêủ hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá SVTH: Vũ Thị Duyên 8 Lớp: K45F3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Thế Sơn tiêu dùng cho đến xuất khẩu hàng hoá phục vụ sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến các công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục tiêu là đem lại lợi ích cho các quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về điều kiện không gian lẫn điều kiện thời gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong một hai ngày hoặc kéo dài hàng năm, có thể được tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái và xuất khẩu 1. Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái a.
Vai trò của TGHĐ Thứ nhất, tỷ giá là đại lượng xác đinh quan hệ về mặt giá trị, so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau, hình thành nên tỷ giá trao đổi giữa các đồng tiền khác nhau với nhau để thuận tiện cho các giao dịch quốc tế. Thứ hai, tỷ giá có tác động to lớn đến thương mại quốc tế, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của một nước. Thứ ba, tỷ giá có tác động đến khía cạnh khác của nền kinh tế như: mặt bằng giá cả trong nước, lạm phát, công ăn, việc làm, thất nghiệp…Do vậy, chính phủ của các nước phải lợi dụng tác động này để điều tiết nền kinh tế. Các chế độ tỷ giá hối đoái Chế độ TGHĐ là các loại hình tỷ giá được các quốc gia lựa chọn và sử dụng, bao gồm các loại cơ bản sau: chế độ tỷ giá cố định, chế độ tỷ giá thả nổi tự do, chế độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của Nhà nước.
Chế độ tỷ giá cố định Là chế độ trong đó tỷ giá được quyết định bởi Ngân hàng trung ương, Ngân hàng trung ương công bố mức tỷ giá chính thức và cam kết duy trì khả năng chuyển đổi đồng tiền trong nước với đồng tiền nước ngoài theo giá công bố dù cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ có thay đổi. Khi có sự biến động thị trường, muốn duy trì tỷ giá đã ấn định thì Ngân hàng trung ương phải điều hòa lượng ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để đảm bảo cân bằng cung cầu. Tỷ giá cố định là tỷ giá được giữ không đổi hoặc chỉ được phép dao động trong một phạm vi rất hep. Nếu tỷ giá bắt đầu dao động quá nhiều thì chính phủ có thể can thiệp để duy trì TGHĐ trong vòng giới hạn của phạm vi này.
Chế độ TGHĐ cố định là một cơ chế TGHĐ được Nhà nước công bố sẽ duy trì không thay đổi tỷ giá giữa đồng nội tệ với một đồng ngoại tệ nào đó. SVTH: Vũ Thị Duyên 9 Lớp: K45F3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Đào Thế Sơn Mục đích của việc giữ TGHĐ cố định là phải giữ tỷ giá ổn định để kiềm chế lạm phát ở mức thấp và củng cố niềm tin của người dân vào đồng tiền nội địa. Đặc điểm của chế độ TGHĐ cố định: Nhà nước cam kết sẽ duy trì TGHĐ ở mức cố định nào đó bằng cách nếu cung trên thị trường lớn hơn cầu ở mức tỷ giá cố định thì Nhà nước đảm bảo mua hết số dư cung ngoại tệ. Nếu cung trên thị trường nhỏ hơn cầu ở mức tỷ giá cố định thì Nhà nước đảm bảo cung cấp một lượng ngoại tệ bằng chính lượng cầu dư.
Nhà nước sẽ thực hiện việc mua bán lượng dư cung hay dư cầu đó với tư cách là người mua bán cuối cùng, người điều phối. Điều kiện để thực hiện là phải có sự can thiệp của Chính phủ. Chế độ tỷ giá thả nổi tự do Là chế độ trong đó TGHĐ được hoàn toàn dựa trên tương quan cung cầu giữa các đồng tiền trên thị trường ngoại hối mà không cần đến bất kỳ sự can thiệp nào của NHTW. Đặc điểm của chế độ tỷ giá thả nổi tự do: TGHĐ được xác định và thay đổi hoàn toàn tùy thuộc vào tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường.
Nhà nước hoàn toàn không có bất cứ một tuyên bố, một cam kết nào điều hành và chỉ đạo tỷ giá, không có bất cứ sự can thiệp trực tiếp nào vào thị trường ngoại tệ. Khi xảy ra những biến động về cung cầu của các đồng tiền thì các đồng tiền sẽ có xu hướng tăng hoặc giảm giá một cách tự động. Chế độ này được áp dụng với những nước có thị trường ngoại hối tương đối hoàn chỉnh. Chế độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của Nhà nước Về cơ bản tỷ giá do thị trường quyết định nhưng có sự can thiệp của Nhà nước vào những lúc cần thiết để tránh những cơn sốt về tỷ giá, hạn chế sự biến động.
Tỷ giá được xác định và thay đổi hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình quan hệ cung cầu trên thị trường. NHTW tuyên bố một mức biến động cho phép đối với tỷ giá và chỉ can thiệp vào thị trường với tư cách là người mua bán cuối cùng khi tỷ giá có sự biến động mạnh vượt mức cho phép. Nếu tình hình kinh tế có những sự thay đổi lớn thì mức TGHĐ, biên độ dao động cho phép được Nhà nước xác định và công bố lại. Chế độ tỷ giá linh hoạt được nhiều quốc gia áp dụng, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.