CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái là một vấn đề phức tạp, là một trong những công cụ cơ bản của Nhà nước trong quản lý và điều hành vĩ mô, nó đang là một chủ đề được tranh luận nhiều và sôi nổi vào bậc nhất của kinh tế học.
Cho đến nay, đã có rất nhiều lý thuyết giải thích sự hình thành và dự đoán sự biến động của tỷ giá. Tuy nhiên, trong khi nhiều chủ đề của kinh tế học vĩ mô đã đạt được sự nhất trí cao của các nhà kinh tế học thì vẫn còn rất nhiều tranh cãi xoay quanh chủ đề tỷ giá hối đoái nhưng chưa có một lý thuyết hoàn chỉnh về tỷ giá hối đoái. Sự chưa hoàn chỉnh của các lý thuyết về xác định tỷ giá hối đoái là do việc phân tích xuất phát từ những thị trường đơn lẻ như thị trường hàng hoá, thị trường tiền tệ, thị trường vốn,. trong xác định tỷ giá hối đoái.
Trong khi đó tỷ giá lại chịu tác động qua lại của nhiều yếu tố với các mức độ khác nhau: từ các yếu tố thực, có thể đo lường được đến các yếu tố tâm lý, kỳ vọng. Hơn nữa, bản thân các yếu tố này lại có tác động qua lại lẫn nhau và chịu tác động trở lại của tỷ giá trong một khuôn khổ biến động. Do vậy, có rất nhiều nhà kinh tế đưa ra những khái niệm khác nhau về tỷ giá hối đoái như: i) Samuelson (nhà kinh tế học người Mỹ) cho rằng: Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ đổi tiền của một nước lấy tiền của một nước khác; ii). Slatyer - nhà kinh tế người Úc, trong một cuốn sách thị trường ngoại hối, cho rằng: Một đồng tiền của một nước nào đó thì bằng giá trị của một số lượng đồng tiền nước khác; iii).
Christopher Pass và Bryan Lowes, người Anh trong 6 Từ điển Kinh tế học xuất bản lần thứ hai, cho rằng: Tỷ giá hối đoái là giá của một loại tiền tệ được biểu hiện qua giá một tiền tệ khác. Các khái niệm trên đây đều phản ánh một số khía cạnh khác nhau của tỷ giá hối đoái. Để thống nhất với các nội dung ở phần sau, cần đưa ra một khái niệm tổng quát; Tỷ giá hối đoái là giá cả của đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác. Về bản chất, tỷ giá hối đoái là một loại giá cả.
Do đó, cũng giống như các loại giá cả khác trong nền kinh tế, tỷ giá được xác định bởi quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường mà ở đó ngoại hối được trao đổi, mua và bán, qua đó tỷ giá hối đoái được xác định và được gọi là thị trường ngoại hối. Các tác nhân hoạt động chủ yếu trên thị trường hoại hối là Ngân hàng Trung ương, các Ngân hàng thương mại, các định chế tài chính phi ngân hàng và các công ty. Trên thực tế, với sự phát triển và hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế toàn cầu, đã hình thành một mạng lưới thị trường ngoại hối trên phạm vi toàn cầu. Các thị trường được kết nối với nhau bởi hệ thống thông tin liên lạc và nhờ đó thị trường ngoại hối toàn cầu hoạt động suốt ngày đêm, đảm bảo không có sự chênh lệch lớn về tỷ giá của các đồng tiền ở các địa điểm khác nhau trên thế giới.
Các loại tỷ giá được sử dụng trong giao dịch gồm tỷ giá giao ngay (spot rate) và tỷ giá kỳ hạn (forward rate). Tỷ giá giao ngay được áp dụng khi giao dịch ngoại hối được thực hiện ngay lập tức. Trong trường hợp số ngày có giá trị của giao dịch ngoại hối là 30, 90,180 ngày hoặc lâu hơn thì tỷ giá đó là tỷ giá kỳ hạn. Tỷ giá có thể được yết giá theo phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp.
Khi được yết theo phương pháp gián tiếp có nghĩa là giá một đồng nội tệ bằng bao nhiêu đồng ngoại tệ. Dưới hình thức này thì sự tăng lên của tỷ giá có nghĩa là đồng nội tệ lên giá. Hoặc tỷ giá có thể được yết giá theo phương pháp trực tiếp, giá đồng ngoại tệ tính theo nội tệ và do đó sự tăng lên của tỷ giá có 7 nghĩa là đồng nội tệ xuống giá. Cách yết giá thứ hai được sử dụng trong cuốn sách này bởi sự thông dụng của nó.
Tỷ giá hối đoái nói trên được gọi là tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Trong kinh tế học, người ta còn sử dụng một số định nghĩa khác về tỷ giá hối đoái. Một khái niệm về tỷ giá hối đoái khác được phổ biến là tỷ giá hối đoái thực (RER- Real Exchange Rate). Tỷ giá hối đoái thực được hiểu theo hai cách được xác định trong mối tương quan với một bạn hàng thương mại hoặc với tất cả các bạn hàng thương mại.
Trong trường hợp thứ nhất, tỷ giá tỷ giá hối đoái thực xác định được gọi là tỷ giá hối đoái thực song phương (BRER). Trong trường hợp thứ hai, khi tỷ giá hối đoái thực được xác định trong tương quan với tất cả các bạn hàng thương mại thì được gọi là tỷ giá hối đoái thực đa phương, hay còn gọi là tỷ giá hối đoái hiệu quả thực (REER). Phân loại tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái có nhiều loại và được phân loại dựa trên các căn cứ sau: 1. Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối 1.
Tỷ giá mua vào - Bid Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá. Tỷ giá bán ra - Ask (or Offer) Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá. Tỷ giá giao ngay - Spot Rate: Là tỷ giá được thoả thuận hôm nay,nhưng việc thanh toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo (nếu không có thoả thuận khác thì thường là ngày làm việc thứ hai). Tỷ giá kỳ hạn - Forward Rate: Là tỷ giá được thoả thuận ngày hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên.
Tỷ giá mở cửa - Opening Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày. Tỷ giá đóng cửa - Closing Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối 8 cùng được giao dịch trong ngày. Thông thường, ngân hàng không công bố tỷ giá của tất cả các hợp đồng đã được ký kết trong ngày, mà chỉ công bố tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá đóng cửa là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá trong ngày.
Tỷ giá đóng cửa hôm nay không nhất thiết phải là tỷ giá mở cửa ngày hôm sau nhưng nó là cơ sở quan trọng giúp NHNN xác định tỷ giá của phiên giao dịch đầu tiên ngày hôm sau. Tỷ giá chéo - Crosed Rate: Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba (còn gọi là đồng tiền trung gian). Tỷ giá chuyển khoản - Transfer Rate: Tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng. Tỷ giá tiền mặt - Bank Note Rate: Tỷ giá tiền mặt áp dụng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng.
Thông thường, tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản. Tỷ giá điện hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Ngày nay, do ngoại hối được chuyển chủ yếu là bằng điện nên tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng là tỷ giá điện hối. Tỷ giá thư hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư (không phổ biến).
Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá 1. Tỷ giá chính thức - Official Rate (ở Việt Nam ngày nay là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng): Là tỷ giá do NHNN công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Tỷ giá chính thức được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức. Ngoài ra, ở Việt Nam tỷ giá chính thức còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho phép.
Tỷ giá chợ đen - Black Market Rate: Là tỷ giá được hình thành bên 9 ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định. Tỷ giá cố định - Fixed Rate: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ dao động hẹp. Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi. Tỷ giá thả nổi hoàn toàn - Freely Floating Rate: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp.
Tỷ giá thả nổi có điều tiết - Managed Floating Rate: Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế. Căn cứ mức độ ảnh hưởng lên cán cân thương mại 1. Tỷ giá danh nghĩa song phương: Là tỷ lệ trao đổi số tuyệt đối giữa hai đồng tiền, ví dụ, tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại hối Việt Nam là 1USD = 15.500 VND, tại Tokyo là 1 USD = 123,21 JPY, tại Châu Âu là 1EUR = 1,1679 USD. Như vậy, tỷ giá danh nghĩa song phương chính là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá giữa chúng, do đó, khi tỷ giá danh nghĩa thay đổi không nhất thiết phải tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá.
Tỷ giá thực song phương (bilateral real exchange rate): Là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và ở nước ngoài, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. Tỷ giá danh nghĩa trung bình (nominal effective exchange rate - NEER): NEER phản ánh sự thay đổi giá trị của một đồng tiền đối với tất cả 10 các đồng tiền còn lại (hay một rổ các đồng tiền) 4. Tỷ giá thực trung bình (real effective exchange rate - REER): Để biết được tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại ta phải dùng đến khái niệm tỷ giá thực trung bình.