Luận văn thạc sĩ ueh tác động của biến đổi khí hậu với ngành trồng lúa vùng đồng bằng sông cửu long và các giải pháp thích ứng luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến ngành trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất giải pháp thích ứng.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2013

62
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: CHƯƠNG MỞ ĐẦU

1.1. Câu hỏi nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Kết cấu luận văn

2. CHƯƠNG 2: KHUNG PHÂN TÍCH

2.1. Khung phân tích về tính dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu

2.2. Biểu hiện của biến đổi khí hậu

2.3. Độ nhạy với biến đổi khí hậu

2.4. Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu

2.5. Phương pháp GIS

2.6. Mô hình số độ cao

2.7. Bản đồ số về hiện trạng sử dụng đất

2.8. Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích

2.9. Khung phân tích tổng hợp của luận văn

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI NGÀNH TRỒNG LÚA DO NƯỚC BIỂN DÂNG VÀ NĂNG LỰC THÍCH ỨNG

3.1. Bằng chứng về biểu hiện nước biển dâng ở Đồng bằng sông Cửu Long

3.2. Thiệt hại ngành trồng lúa do tác động nước biển dâng

3.3. Năng lực thích ứng của ngành trồng lúa với tác động nước biển dâng

3.4. Tổn thương của ngành trồng lúa với tác động nước biển dâng

4. CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BĐKH CHO NGÀNH TRỒNG LÚA VÙNG ĐBSCL

4.1. Giải pháp công trình

4.2. Mô tả về dự án xây dựng đê biển

4.3. Chi phí xây dựng đê biển

4.4. Lợi ích từ việc xây dựng đê biển

4.5. Lựa chọn suất chiết khấu

4.6. Phân tích chi phí – lợi ích

4.7. Giải pháp phi công trình

GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của biến đổi khí hậu đến ngành trồng lúa ĐBSCL

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với ngành nông nghiệp, đặc biệt là ngành trồng lúa tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Vùng này không chỉ là vựa lúa của cả nước mà còn đóng góp lớn vào xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, sự gia tăng mực nước biển và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang đe dọa đến sản xuất lúa. Theo báo cáo của IPCC, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ BĐKH, với ĐBSCL là khu vực bị tác động nghiêm trọng nhất. Việc hiểu rõ về tác động của BĐKH là cần thiết để có những giải pháp ứng phó hiệu quả.

1.1. Biểu hiện của biến đổi khí hậu tại ĐBSCL

Biểu hiện của BĐKH tại ĐBSCL bao gồm sự gia tăng nhiệt độ, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt. Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất lúa mà còn làm gia tăng tình trạng xâm nhập mặn, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.

1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo tại ĐBSCL

ĐBSCL hiện đang đóng góp hơn 50% sản lượng lúa của cả nước và 90% lượng gạo xuất khẩu. Tuy nhiên, sự biến đổi khí hậu đang đe dọa đến năng suất và sản lượng lúa, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực quốc gia.

II. Thách thức lớn từ biến đổi khí hậu đối với ngành trồng lúa

Ngành trồng lúa tại ĐBSCL đang phải đối mặt với nhiều thách thức do BĐKH. Nước biển dâng và xâm nhập mặn là hai yếu tố chính gây ảnh hưởng đến sản xuất lúa. Theo nghiên cứu, nếu mực nước biển dâng lên 1m, khoảng 37,8% diện tích ĐBSCL sẽ bị ngập lụt. Điều này không chỉ làm giảm diện tích đất trồng lúa mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

2.1. Tác động của nước biển dâng đến sản xuất lúa

Nước biển dâng gây ra tình trạng ngập lụt và xâm nhập mặn, làm giảm năng suất lúa. Nghiên cứu cho thấy, nếu mực nước biển dâng 0,75m, 19% diện tích ĐBSCL sẽ bị ngập, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa.

2.2. Các hiện tượng thời tiết cực đoan và ảnh hưởng đến lúa

Các hiện tượng như bão, lũ lụt và hạn hán ngày càng trở nên phổ biến do BĐKH. Những hiện tượng này không chỉ làm mất mùa mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế cho nông dân trồng lúa.

III. Giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu cho ngành trồng lúa

Để ứng phó với tác động của BĐKH, ngành trồng lúa ĐBSCL cần triển khai các giải pháp thích ứng hiệu quả. Việc xây dựng đê biển và cải thiện hệ thống tưới tiêu là những giải pháp quan trọng. Ngoài ra, cần có sự hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức quốc tế để đảm bảo nguồn lực cho các dự án này.

3.1. Xây dựng đê biển và hệ thống phòng chống ngập

Xây dựng đê biển là một trong những giải pháp quan trọng để ngăn chặn xâm nhập mặn và bảo vệ đất trồng lúa. Dự kiến, chi phí xây dựng đê biển sẽ lên tới 723 triệu USD, nhưng lợi ích mang lại có thể lên tới 734 triệu USD.

3.2. Cải thiện hệ thống tưới tiêu và quản lý nước

Cải thiện hệ thống tưới tiêu giúp tăng cường khả năng chống chịu của cây lúa trước các hiện tượng thời tiết cực đoan. Việc quản lý nước hiệu quả sẽ giúp bảo vệ đất trồng lúa khỏi tình trạng ngập lụt và xâm nhập mặn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu cho thấy, năng lực thích ứng của ngành trồng lúa ĐBSCL với BĐKH còn yếu. Các nguồn lực như con người, xã hội và tài chính đều không đủ mạnh để ứng phó với BĐKH. Tuy nhiên, việc kết hợp giữa giải pháp công trình và phi công trình có thể mang lại hiệu quả cao trong việc ứng phó với BĐKH.

4.1. Đánh giá năng lực thích ứng của ngành trồng lúa

Năng lực thích ứng của ngành trồng lúa ĐBSCL được đánh giá là thấp. Các yếu tố như nguồn lực tự nhiên, xã hội và tài chính đều không đủ mạnh để ứng phó với BĐKH.

4.2. Kết quả từ các dự án ứng phó với BĐKH

Một số dự án đã được triển khai nhằm nâng cao năng lực thích ứng cho ngành trồng lúa. Kết quả cho thấy, việc kết hợp giữa các giải pháp công trình và phi công trình có thể mang lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ sản xuất lúa.

V. Kết luận và tương lai của ngành trồng lúa ĐBSCL

Tương lai của ngành trồng lúa ĐBSCL phụ thuộc vào khả năng ứng phó với BĐKH. Cần có sự quyết tâm từ chính phủ và cộng đồng để triển khai các giải pháp thích ứng hiệu quả. Việc bảo vệ ngành trồng lúa không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn góp phần vào phát triển kinh tế bền vững cho vùng ĐBSCL.

5.1. Tầm quan trọng của ngành trồng lúa trong phát triển kinh tế

Ngành trồng lúa đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của ĐBSCL. Việc bảo vệ ngành này không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân.

5.2. Hướng đi tương lai cho ngành trồng lúa

Ngành trồng lúa cần phải chuyển mình để thích ứng với BĐKH. Việc áp dụng công nghệ mới và cải thiện quản lý nước sẽ là những yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của ngành.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh tác động của biến đổi khí hậu với ngành trồng lúa vùng đồng bằng sông cửu long và các giải pháp thích ứng luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 trình bày bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2 xây dựng khung phân tích cho đề tài. Phần chính của luận văn tập trung vào Chương 3 và Chương 4. Trong đó, Chương 3 đánh giá thiệt hại ngành trồng lúa do NBD và năng lực thích ứng của ngành.

Chương 4 đề LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 xuất kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao năng lực thích ứng với BĐKH – NBD cho ngành trồng lúa vùng ĐBSCL. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 2 KHUNG PHÂN TÍCH 2. Khung phân tích về tính dễ bị tổn thƣơng do tác động của biến đổi khí hậu Tính dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH (MONRE, 2008, tr. Ba hợp phần cấu thành tính dễ bị tổn thương là Biểu hiện (Exposure – E), Độ nhạy (Sensitivity – S) và Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity – AC).

Một hệ thống dễ bị tổn thương với BĐKH nếu nó có độ nhạy cao hoặc có năng lực thích ứng thấp với BĐKH. Đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH có thể thực hiện trên phạm vi toàn cầu, khu vực, quốc gia, vùng. Tuy nhiên, theo Allison (2009), việc đánh giá trên qui mô quốc gia cung cấp một cái nhìn bao quát về các mô hình dễ bị tổn thương. Và cũng là vì, các chính sách về BĐKH thì được xây dựng và thực hiện phù hợp hơn trên qui mô này, và vì nhiều chỉ số toàn cầu chỉ sẵn có ở qui mô quốc gia.

Những đánh giá này cũng vẫn tốt nếu được thực hiện ở qui mô vùng hoặc tiểu vùng, nơi mà đặc biệt chịu tác động nặng nề của BĐKH hơn các khu vực khác (Perry và Sumaila, 2007; McGoodwin 2007, trích trong Allison 2009, tr. Tính dễ bị tổn thương do BĐKH được sử dụng để đánh giá cho một ngành nào đó. Các nghiên cứu trên thế giới thường tập trung vào ngành sản xuất lúa, ngành cá và thủy sản (được cho là những ngành bị tác động nặng nhất do BĐKH). Hoặc, cũng có thể đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH đối với sinh kế của cá nhân hoặc hộ gia đình, giới, chủ yếu là những đối tượng sống ở vùng ven biển và vùng bị tác động của BĐKH.

Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability – V) là một chỉ số tổng hợp được tính toán dựa vào ba cấu phần E, S, và AC. V = f( E, S, AC) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trong đó: E: Biểu hiện S: Độ nhạy AC: Năng lực thích ứng Nguồn: Gerald Jurasinski và cộng sự, 2003, tr.6 Việc tính toán chỉ số V là hết sức phức tạp. Allison và cộng sự (2009) tính toán định lượng tính dễ bị tổn thương của các nền kinh tế do tác động của BĐKH đối với nghề cá. Kết quả, nước có mức độ tổn thương cao nhất là Angola (0,77), Việt Nam (0,64) đứng thứ 27 (Phụ lục 1).

Amy và cộng sự (2003) định lượng tính dễ bị tổn thương do BĐKH đối với ngành nông nghiệp ở thung lũng Yaqui, Mexico và chỉ ra rằng nếu nhiệt độ tăng 1oC thì mức độ tổn thương trung bình của người nông dân tăng lên 10%. Yoo và Kim (2007) định lượng tính dễ bị tổn thương trong hoạt động sản xuất lúa do BĐKH ở khu vực Tây Nam, Hàn Quốc và mô phỏng bằng bản đồ các cấp độ tổn thương cho toàn khu vực. Nghiên cứu cũng cho thấy, việc giảm tính tổn thương bằng cách cải thiện các lựa chọn thích ứng có thể mang lại 259 tỷ won (ước khoảng 233 triệu USD) vào năm 2030. Tuy nhiên, tính dễ bị tổn thương cũng có thể xem xét một cách định tính thông qua thống kê mô tả và phân tích các số liệu.

Jurasinski và cộng sự (2003) đánh giá tính dễ bị tổn thương cho hoạt động trồng lúa do tác động của hiện tượng thời tiết cực đoan ở Đồng bằng sông Hồng, Việt Nam, và đưa ra kết luận rằng, hoạt động trồng lúa có năng lực thích ứng trung bình với các hiện tượng thời tiết cực đoan, các nhà chính sách nên tập trung vào sự tổn thương của ngành hơn là vấn đề BĐKH. Ngoài ra, còn có các nghiên cứu khác như WF (2012) nghiên cứu tác động của BĐKH và tính dễ bị tổn thương trong nghề cá của Uganda; Tao và cộng sự (2011) nghiên cứu tổn thương của ngành nông nghiệp do BĐKH ở Trung Quốc, … Để đánh giá tính dễ bị tổn thương với BĐKH, khung phân tích tập trung vào ba nhân tố là biểu hiện, độ nhạy và năng lực thích ứng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Biểu hiện của biến đổi khí hậu BĐKH thể hiện ở sự tăng lên của nhiệt độ và mực nước biển.

Tuy nhiên, các tác động của BĐKH có thể là nhiệt độ tăng trong bầu khí quyển và trong nước, NBD, bão, lũ, hạn hán, và các hiện tượng cực đoan khác. Trong phân tích tính dễ bị tổn thương của một ngành nào đó, biểu hiện của BĐKH là những tác động của BĐKH mà hiện hữu trong ngành đó. Vì vậy, biểu hiện của BĐKH ở đây còn liên quan đến vùng nghiên cứu và ngành nghiên cứu. BĐKH có thể ảnh hưởng đến ngành trồng lúa thông qua sự tăng lên của mực nước biển gây hiện tượng đất nhiễm mặn; tăng lên của nhiệt độ làm tăng hay giảm năng suất lúa; bão, lũ lụt, hạn hán gây mất mùa.

Độ nhạy với biến đổi khí hậu Độ nhạy với BĐKH là sự phản ứng lại của đối tượng bị tác động trước mối đe dọa của BĐKH. Nó chính là khả năng mà một kết quả sẽ xảy ra nếu BĐKH xảy ra trên thực tế. Mối đe dọa của BĐKH chính là biểu hiện của BĐKH. Sự phản ứng lại của đối tượng là những thay đổi của đối tượng do tác động của BĐKH.

Mức độ thay đổi nhiều hay ít thể hiện độ nhạy của BĐKH cao hay thấp. Mức độ tác động của BĐKH tăng lên hay giảm đi ít, làm đối tượng thay đổi nhiều, chứng tỏ đối tượng rất nhạy cảm với BĐKH. Theo Yoo và Kim (2007, tr.21), độ nhạy của ngành trồng lúa với BĐKH chính là sự thay đổi trong sản lượng lúa. Còn theo Jurasinski và cộng sự (2003, tr.6), nó có thể là diện tích đất bị mất do NBD, năng suất cây, con giảm do nhiệt độ tăng, sản lượng giảm do bão lũ,… 2.

Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu IPCC (2007) định nghĩa năng lực thích ứng với BĐKH là khả năng hay tiềm năng mà một hệ thống điều chỉnh thành công với BĐKH để (i) giảm nhẹ các tác động tiềm tàng, (ii) lợi dụng các cơ hội, (iii) và/hoặc đương đầu với những hậu quả của BĐKH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Như vậy, năng lực thích ứng với BĐKH là khả năng của một hệ thống hoặc xã hội trong việc điều chỉnh hoặc ứng phó với BĐKH nhằm đạt được 3 mục tiêu: giảm khả năng bị tổn thương, giảm nhẹ các thiệt hại có thể xảy ra, tận dụng các cơ hội mới do BĐKH mang lại. Năng lực thích ứng bao gồm những điều chỉnh trong hành vi, nguồn lực và công nghệ. Các yếu tố kinh tế - xã hội có vai trò quan trọng đối với khả năng thích ứng của một hệ thống, và vai trò không thể thiếu của các tổ chức, quản trị, và quản lý trong xác định khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Một vài yếu tố kinh tế xã hội nói chung của năng lực thích ứng là giáo dục, thu nhập và sức khỏe. Các yếu tố còn lại cụ thể hơn cho từng loại tác động của BĐKH như thể chế, kiến thức, công nghệ (Fellmann, 2012, trích trong Allison, 2009). Đánh giá năng lực thích ứng dựa vào cách tiếp cận nguồn lực tập trung vào phân tích 5 nguồn lực bao gồm nguồn lực con người, nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất – phương tiện, và nguồn lực tài chính (Hình 2. Trong đó: Nguồn lực con người được đánh giá thông qua các yếu tố kiến thức và nhận thức của con người về rủi ro và các thảm họa của BĐKH; Các kỹ năng và kỹ thuật trong sản xuất mà có thể vận dụng để đương đầu với các thảm họa của BĐKH; Sức khỏe của người lao động.

Nguồn lực xã hội được phản ánh bởi vai trò của các tổ chức đoàn thể xã hội trong việc giúp nông dân thích ứng với BĐKH; Tính liên kết của cộng đồng thể hiện ở tương tác của một cá nhân với các cá nhân khác trong cộng đồng, sự ảnh hưởng lẫn nhau và mạng lưới liên kết trong toàn vùng. Sự liên kết chặt chẽ hay lỏng lẻo góp phần tạo nên năng lực thích ứng cao hay thấp cho vùng, ngành; Mạng lưới thông tin cảnh báo sớm thảm họa và các hiện tượng của BĐKH.1 đánh giá năng lực thích ứng theo cách tiếp cận nguồn lực. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Khung đánh giá năng lực thích ứng Nguồn: Thân Thị Hiền và cộng sự, 2010 Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên được phản ánh qua tiềm lực của các hệ sinh thái và dịch vụ hệ sinh thái như RNM ven biển và cửa sông, các khu đất ngập nước; Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật, tất cả những nguồn tài nguyên này đều có tác dụng hỗ trợ để hệ thống có thể ứng phó với BĐKH. Nguồn lực vật chất, phương tiện là cơ sở hạ tầng, hệ thống đê điều, thủy lợi, giao thông và các trang thiết bị sử dụng trong sản xuất.

Nguồn lực này hỗ trợ ngành trồng lúa như thế nào và có thể đương đầu với BĐKH ra sao? Nguồn lực tài chính được phản ánh thông qua khả năng đa dạng hóa thu nhập của người dân trong vùng bị tác động hoặc trong ngành, lĩnh vực bị tác động. Khả năng đa dạng hóa nguồn thu càng lớn, thì người dân càng giảm được những rủi ro từ BĐKH. Khả năng tiết kiệm của người dân cũng làm tăng năng lực thích ứng của người dân với BĐKH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Thân Thị Hiền và cộng sự (2011) đánh giá hoạt động thích ứng với BĐKH trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam thông qua phân tích 5 nguồn lực.

Kết quả cho thấy năng lực thích ứng của người dân trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản còn thấp. Trong 5 nguồn lực, chỉ có nguồn lực tự nhiên là có năng lực thích ứng cao, còn lại đều thấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ