CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGIÊN CỨU CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 này trình bày về các khái niệm nghiên cứu chính như chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ công, sự hài lòng dịch vụ, sự công bằng dịch vụ, bên cạnh đó lượt khảo các tài liệu nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước để cho thấy được mối quan hệ cụ thể giữa Chất lượng dịch vụ công và sự công bằng dịch vụ công ảnh hưởng đến hài lòng dịch vụ.1 Các khái niệm nghiên cứu chính 2.1 Chất lượng dịch vụ Theo Haywood-Farmer (1988) thì Chất lượng dịch vụ được xem là yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh, nó có thể giúp một tổ chức phân biệt chính nó với các tổ chức khác và thông qua việc đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài. Chất lượng dịch vụ cao được coi là yếu tố quyết định quan trọng đối với lợi nhuận lâu dài không chỉ của các tổ chức dịch vụ mà còn của các tổ chức sản xuất. Trong một số ngành công nghiệp sản xuất Chất lượng dịch vụ cao cấp là chìa khóa để cải thiện khả năng sinh lời, chứ không phải chi phí kinh doanh. Theo Anchal Gupta (2018) Trong trường hợp một cách tiếp cận chiến lược hoặc chủ động, thì chất lượng dịch vụ được sử dụng để phân biệt việc cung cấp dịch vụ của tổ chức.
Chất lượng dịch vụ nằm ở trung tâm của chiến lược của tổ chức để đạt được lợi thế cạnh tranh. Ở đây, thông thường chất lượng là một trong những chương trình chính của tổ chức. Hình ảnh tổ chức được xây dựng bởi chất lượng của sản phẩm được cung cấp. Hiện tượng “Chất lượng” là nguồn để tăng cường và phân biệt việc chào bán những gì được cung cấp bởi các đối thủ cạnh tranh, các tổ chức dịch vụ áp dụng cách tiếp cận chiến lược để quản lý chất lượng cải thiện đáng kể khả năng cạnh tranh của họ.
(1988) cho rằng Ngành dịch vụ bao gồm một loạt các tổ chức và doanh nghiệp đa dạng và phức tạp. Chúng bao gồm: chính quyền địa phương và quốc gia. Ví dụ như giáo dục, y tế, an sinh xã hội, cảnh sát, quân đội, giao thông, pháp lý, thông tin và tín dụng; Các dịch vụ tư nhân phi lợi nhuận, ví dụ: tổ chức từ thiện, nhà thờ, cơ sở nghiên cứu, xã hội, và nền tảng nghệ thuật; Các dịch vụ tư TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 nhân vì lợi nhuận, ví dụ: tiện ích, khách sạn, hãng hàng không, kiến trúc sư, nhà hàng, luật sư, nhà bán lẻ, giải trí. Người cung cấp dịch vụ như công ty bảo hiểm, cơ quan quảng cáo, công ty tư vấn, công ty nghiên cứu thị trường và thông tin liên lạc.
Theo Ian Roper. (2000) Chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại của cả người sử dụng dịch vụ hiện tại và người sử dụng dịch vụ tiềm năng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng người sử dụng dịch vụ không hài lòng với một dịch vụ sẽ tiết lộ kinh nghiệm của họ cho nhiều người khác. Vì vậy, có lý để kết luận rằng dịch vụ kém sẽ làm giảm cơ sở người sử dụng dịch vụ tiềm năng.
Theo Dự án Nghiên cứu Hỗ trợ Kỹ thuật (TARP), chi phí sẽ tăng gấp bốn lần để thu hút người sử dụng dịch vụ mới. Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng truyền miệng tích cực có thể là một công cụ rất mạnh mẽ để thu hút người sử dụng dịch vụ mới. Truyền miệng tiêu cực có thể có tác động tàn phá đến độ tin cậy và hiệu quả của các nỗ lực của tổ chức để thu hút người sử dụng dịch vụ mới. Như vậy thông qua các khái niệm của các tác giả, cho thấy chất lượng dịch vụ đề cập đến những tính năng mà dịch vụ có thể đáp ứng người sử dụng dịch vụ một cách tối ưu, chất lượng dịch vụ sẽ đại diện cho tổ chức giúp người sử dụng dịch vụ cảm nhận rõ những gì tổ chức cung cấp đến cho người sử dụng dịch vụ, chính chất lượng dịch vụ là chìa khóa thành công cho tổ chức.2 Chất lượng dịch vụ công Javier (1997) cho rằng chất lượng dịch vụ công là chất lượng dịch vụ của chính phủ phải được đánh giá theo quan điểm của người sử dụng dịch vụ, mở rộng phạm vi, không chỉ một số đơn vị, phòng ban mà còn học kinh nghiệm thành công của khu vực tư nhân và chuyển sang ứng dụng khu vực công.
Bên cạnh đó, trong đánh giá liên quan, vai trò của người đánh giá chất lượng phải được xác minh, đánh giá nội bộ sẽ xem xét sự tham gia tích cực của các nhà quản lý và thành viên tổ chức hàng đầu, so sánh sự khác biệt của các nhóm tương tự hoặc các nhóm khác nhau. Dịch vụ công có thể thay đổi phương tiện và nội dung dịch vụ bằng cách liên hệ với người sử dụng dịch vụ và biết nhu cầu của họ, để người sử dụng dịch vụ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nhận được sự hài lòng tối đa. Do đó, chất lượng dịch vụ công trong tương lai chắc chắn là chìa khóa để cải thiện hiệu quả quản trị và năng lực cho khu vực công. Theo Chiang (1999) Chất lượng dịch vụ công chủ yếu được thảo luận về khía cạnh nhu cầu hoặc chiến lược.
Chất lượng dịch vụ trở thành điểm nóng nhất của nghiên cứu về khu vực công. Trong khi khu vực công có sự khác biệt về đặc trưng do các hệ thống biến đổi, các thể chế quốc gia và tổ chức hành chính khác nhau. Trong lý thuyết quản lý ngành hành chính, hầu hết các nghiên cứu điển hình về quản lý hộ gia đình, quản lý đất đai hoặc tổ chức công. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào kết quả ban đầu, nhiều cách để kỳ vọng của người sử dụng dịch vụ về dịch vụ được cung cấp.
Kết quả định hướng người sử dụng dịch vụ thường được đánh giá về nhận dạng chủ quan của người sử dụng dịch vụ bên ngoài, người sử dụng dịch vụ là quan tòa duy nhất về chất lượng dịch vụ. Nếu chỉ đánh giá kết quả, sau đó dịch vụ định hướng người sử dụng dịch vụ, không thâm nhập vào tổ chức nội bộ. Nếu sự khác biệt xảy ra giữa doanh nghiệp tổ chức hành chính và đối tượng người sử dụng dịch vụ, thì kết quả đánh giá sự hài lòng thường bị nghi ngờ về tính khách quan và tính chuyên nghiệp. Như vậy chất lượng dịch vụ công chính là chất lượng dịch vụ được cung cấp bởi những tổ chức cung cấp dịch vụ công, chất lượng dịch vụ công mang đầy đủ tính chất của chất lượng dịch vụ, ngoài ra nó có những đặc thù trong khu vực công.3 Sự công bằng dịch vụ Mowday (1987) cho rằng sự công bằng được xem như là một cấu trúc đa chiều, công bằng thường được khái niệm hóa theo 3 thành phần trong công bằng tương tác, công bằng thủ tục và công bằng phân phối, 3 thành phần này giải quyết toàn bộ quá trình trao đổi, trong kết quả đạt được như thế nào và cách thức mà các cá nhân nhận được trong quá trình sử dụng dịch vụ của tổ chức.
Homans (1961) cho rằng Công bằng tương tác được định nghĩa là sự công bằng của việc tiếp xúc giữa các cá nhân mà một cá nhân nhận được trong quá trình hoạt động, nó liên quan đến cách thức mà người sử dụng dịch vụ được xử lý bởi các đại lý dịch vụ trong suốt quá trình. Một số khía cạnh cụ thể được đề xuất liên quan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đến công bằng là lịch sự, quan tâm, nghe cẩn thận, nỗ lực, tin cậy, giải thích, đồng cảm, “xin lỗi và giao tiếp tốt”. Vì kết quả dịch vụ được tạo ra bởi các thủ tục, công bằng thủ tục là một sự cân nhắc quan trọng trong đánh giá công bằng. Ba tiêu chí cho công bằng thủ tục trong các tình huống chung, bao gồm tính thống nhất, tính trung lập và độ chính xác của thông tin.
Adams (1965) thì cho rằng Công bằng phân phối đề cập đến nhận thức về kết quả của quá trình được định nghĩa là mức độ cảm xúc của người sử dụng dịch vụ về sự công bằng dựa trên so sánh lợi ích của chúng với chi phí, được hình thành bằng cách so sánh đầu vào và đầu ra của chúng trong một trao đổi. Theo Alsalem and Alhaiani, (2007) Công bằng phân phối đề cập đến cảm nhận công bằng về kết quả mà các cá nhân nhận được từ tổ chức. Các kết quả này có thể được phân chia dựa tên sự công bằng, sự cần thiết hoặc là sự đóng góp và các cá nhân đánh giá sự công bằng phân phối thông qua so sánh với những người khác. Nó từ lâu đã được xem là những lý thuyết nền được bắt nguồn từ những lý thuyết công bằng từ những năm 1950 và 1960.
Công bằng về phân phối trong lý thuyết được mô tả như là những sự công bằng có liên quan đến sự phân phối các nguồn lực về kết quả và quyết định. Các nguồn lực hoặc là những kết quả có thể hữu hình hoặc vô hình, lý thuyết ngang bằng có thể được xác định sự công bằng thông qua kết quả. Lý thuyết ngang bằng có thể được dùng để giải thích như những hành vi của nhân viên gây ra bởi việc những cảm nhận về sự không công bằng. Nhận thức về công bằng thủ tục ngày càng được nhận biết phổ biến ngày nay nhưng Thibaut and Walker (1975) đã được xem là những người tiên phong về những tác động của thủ tục, nếu nhân viên mà cảm thấy họ được trao cơ hội để tham gia vào quy trình được áp dụng để đạt được kết quả thì họ sẽ cảm thấy kết quả là công bằng.
Những khám phá này đã đưa cho chúng ta một khía cạnh mới về nhận thức công bằng tổ chức. Tác giả Folger và Konovsky đã xác định có sự khác biệt lớn về sự công bằng trong môi trường sử dụng dịch vụ của tổ chức. Có ý kiến cho rằng “Công bằng phân phối là đề cập đến công bằng trong nhận thức về kết quả mà nhân viên, khách hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đạt được thông qua bù đắp của tổ chức còn công bằng về thủ tục là đề cập đến những công bằng trong nhận thức, là những phương tiện được sử dụng để xác định kết quả đấy”.