Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu, phần này giới thiệu lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, những điểm mới của nghiên cứu và kết cấu của luận án. − Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, phần này nêu các cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm liên quan đến câu hỏi nghiên cứu. − Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, chương này trình bày phương pháp ước lượng mô hình thực nghiệm và các vấn đề liên quan đến thu thập ý kiến chuyên gia. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 − Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu, chương này trình bày các kết quả thu thập dữ liệu và kết quả thu được từ ước lượng mô hình thực nghiệm, kết quả phỏng vấn các chuyên gia.
− Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị, chương này tổng kết các kết quả chính của nghiên cứu và nêu các kiến nghị để xây dựng chính sách và các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty phát điện. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Trong lĩnh vực kinh doanh, với cách hiểu thông thường hiệu quả hoạt động (HQHĐ) có thể được định nghĩa là tỷ số giữa kết quả đầu ra thu được từ kinh doanh và yếu tố đầu vào để vận hành hoạt động kinh doanh. Khi nâng cao HQHĐ hàm ý tăng tỷ lệ kết quả đầu ra và yếu tố đầu vào.
Yếu tố đầu vào thông thường là tiền (chi phí), nguồn lực con người hoặc thời gian. Kết quả đầu ra thường là tiền (doanh thu, lợi nhuận, tiền mặt), khách hàng mới, lòng trung thành của khách hàng, thị trường mới, đổi mới chất lượng, đổi mới sản phẩm,… Ở khía cạnh này HQHĐ là một trong các thước đo quan trọng của hiệu quả hoạt động. Trong nghiên cứu hàn lâm, HQHĐ đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ sớm. Ở góc độ doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu thảo luận nhiều đến vấn đề làm thế nào để doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hay các biểu hiện kinh doanh có hiệu quả.
Adam Smith (1776) cho rằng HQHĐ là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Marshall (1920) cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí. Theo Samuelson và Nordhaus “hiệu quả nghĩa là sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người” (Samuelson và Nordhaus, 2011). Daft (2008) hàm ý HQHĐ là quá trình sử dụng các nguồn lực đầu vào có tính chất khan hiếm để đạt lợi nhuận hoặc giúp tiết kiệm chi phí hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
Trong nước, nhiều nghiên cứu cũng có chung quan điểm về HQHĐ khi cho rằng HQHĐ được phản ánh thông qua tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. HQHĐ đi liền với các mục tiêu của doanh nghiệp đã đặt ra. Hiệu quả của một quá trình nào đó theo nghĩa chung nhất là quan hệ tỷ lệ giữa kết quả với những điều kiện, nhân tố chi phí vật chất sử dụng để đạt được kết quả theo mục đích của quá trình đó (Ngô Đình Giao, 1984). Theo tác giả Nguyễn Văn Tạo (2004), ngoài chỉ tiêu kết quả đầu ra so với yếu tố đầu vào, HQHĐ còn được hiểu là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 mức độ hoàn thành mục tiêu đã đặt ra, và nếu không đạt được mục tiêu thì không thể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu ta cần phải sử dụng nguồn lực như thế nào (Nguyễn Văn Tạo, 2004).
Hoặc, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả của mục tiêu hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh (Bùi Thanh Phong, 2010). Như vậy, mặc dù có nhiều phát biểu khác nhau nhưng các phát biểu này đều có cùng điểm chung khi cho rằng HQHĐ là sự so sánh giữa yếu tố đầu ra so với yếu tố đầu vào, HQHĐ phản ánh mức độ và khả năng sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Tóm lại, mặc dù có nhiều cách khác nhau để phản ảnh khái niệm hiệu quả hoạt động của công ty nhưng hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước đều hàm ý hiệu quả hoạt động là việc nhà quản trị sử dụng các nguồn lực giới hạn để đạt hiệu quả mong muốn cao nhất trong kinh doanh. HQHĐ thường gắn liền với các mục tiêu kinh tế cụ thể.
Để đo lường HQHĐ, các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều chỉ tiêu khác nhau, nhưng phổ biến và được sự đồng thuận thường có các chỉ tiêu như tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS), tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE). Các chỉ tiêu này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu gần đây; theo đó, ngoài cách gọi hiệu quả hoạt động, trong nghiên cứu thực nghiệm một số tác giả gọi trực tiếp hiệu quả hoạt động bằng các chỉ tiêu hiệu quả tài chính (ROA, ROS hay ROE). Do vậy hiệu quả tài chính trong trường hợp này chính là hiệu quả hoạt động của công ty. Các tác giả như Freedman và Jaggi (2005), Brammer và Pavelin (2006), Gallego-Alvarez (2010) và Bewli và Li (2000) đã sử dụng chỉ tiêu ROA để phân tích mối quan hệ giữa yếu tố môi trường với hiệu quả hoạt động của các công ty; Liu và Anbumzhi (2009) và Zhang và các tác giả (2008) sử dụng chỉ tiêu ROE để phân tích hiệu quả hoạt động các công ty trong lĩnh vực công nghiệp ở Trung Quốc.
Galani và các tác giả (2011), Richardson và Welker (2001) cũng sử dụng ROE là chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động. Trong khi Prado-Lorengo (2001) sử dụng đồng thời ROA và ROE để đo lường hiệu quả hoạt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 động của các công ty. Clarkson và các tác giả (2008), Nakao và các tác giả (2007) sử dụng cả hai chỉ số ROA và Tobin’Q để đại diện khi phân tích hiệu quả hoạt động các công ty thuộc lĩnh vực công nghiệp gây ô nhiễm ở Mỹ và Nhật Bản. Ngoài ROA và ROE, một số nghiên cứu sử dụng lợi suất cổ tức - DY (Ming và Gee, 2008; Ongore, 2011), lợi nhuận trên doanh thu - ROS (Le và Buck, 2011), hoặc lợi nhuận trên vốn đầu tư - ROI (Shah, Butt và Saeed, 2011) để đo lường hiệu quả hoạt động của công ty.
Khi tính chỉ tiêu ROA và ROE, tùy theo quan điểm của nhà nghiên cứu có thể sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế hoặc trước thuế. Một số nghiên cứu sử dụng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) để tính hai hệ số trên, điển hình như Hu và Izumida (2008), Le và Buck (2011), Wang và Xiao (2011). Một số nghiên cứu khác sử dụng lợi nhuận thuần cộng với lãi vay (trước hoặc sau thuế) điển hình như Shah, Butt và Saeed (2011), Thomsen và Pedersen (2000), hoặc đơn giản chỉ là lợi nhuận thuần như LI và các tác giả (2009), Tian và Estrin (2008). Ngoài ý nghĩa tài chính khác nhau, lý do sử dụng các cách tính khác nhau có thể do hạn chế về cơ sở dữ liệu.
Tại Việt Nam, trong các văn kiện của Đảng cũng xem chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi trên vốn là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, 1996). Chỉ tiêu ROA và ROE cũng được nhiều tác giả sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động các công ty lĩnh vực công nghiệp và bất động sản như Quan Minh Nhựt và Lý Thị Phương Thảo (2014), Mai Văn Nam, Nguyễn Quốc Nghi (2011), Võ Xuân Vinh (2014). Đoàn Vinh Thăng (2016) cho rằng ROA là một trong những thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá thành quả tài chính, trong khi ROE là một trong những tỉ số quan trọng mà nhà đầu tư xem xét hiệu quả hoạt động của công ty. Như vậy thước đo HQHĐ được sử dụng phổ biến hiện nay là chỉ tiêu ROA và ROE.
Luận án cũng sử dụng các chỉ tiêu này như thước đo chính để đo lường HQHĐ các công ty phát điện ở Việt Nam. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu để đo lường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 HQHĐ khác cũng được dùng để phân tích như giá trị thị trường của công ty (chỉ tiêu Tobin’Q) và chi phí kinh doanh (giá vốn hàng hàng bán trên doanh thu, COR). Việc sử dụng đồng thời nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động sẽ giúp Luận án có thêm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp với nhà quản lý và doanh nghiệp. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hiệu quả hoạt động các công ty phát điện 2.1 Khái niệm biến đổi khí hậu Theo điều 1, Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (1992): “BĐKH là những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.
Biến đổi khí hậu có thể được thể hiện qua các hiện tượng thời tiết như: hạn hán, lũ lụt, mưa bão, nước biển dâng, v. Tại Việt Nam, chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu cho rằng “biến đổi khí hậu là sự biến đổi của trạng thái khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể do quá trình bên trong hoặc do tác động bên ngoài hoặc do tác động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất” (Bộ Tài Nguyên Môi Trường 2008, trang 6). Nghiên cứu này đã sử dụng biến đổi nhiệt độ so với trung bình 50 năm trước đó để đánh giá BĐKH tại Việt Nam.
BĐKH được quan sát qua thay đổi của nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển, bão, số đợt không khí lạnh, số ngày mưa phùn. Một nghiên cứu khác của Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường do Nguyễn Văn Thắng và các tác giả khác (2010) thực hiện cũng định nghĩa BĐKH với nội dung tương tự.