CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỨC MẠNH MỀM 1. Khái niệm sức mạnh và sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế 1. Khái niệm sức mạnh trong quan hệ quốc tế Trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu là nghiên cứu về Sức mạnh (tiếng Anh: Power). Sức mạnh theo cách hiểu thông thường nhất là khả năng tác động, ảnh hưởng đến người khác để có thể đạt được điều mình mong muốn.
Sức mạnh có thể biểu hiện ở dạng vật chất dễ nhận thấy (vũ khí, tài chính, tài nguyên, dân số, lãnh thổ.), hoặc ở dạng phi vật chất (văn hóa, giá trị, tư tưởng, sự đoàn kết dân tộc. Với một quốc gia, sức mạnh chính là khả năng tác động tới hành vi của các chủ thể khác nhằm có được kết quả như mong muốn, dù kết quả này có thể trùng khớp hoặc không trùng khớp với nguyện vọng, ước muốn, lợi ích của chủ thể (TS.Trần Nguyên Khang, 2018). Sức mạnh là phương tiện để bảo đảm an ninh và sự tồn tại của quốc gia, giúp các quốc gia thực hiện lợi ích của mình và là mục tiêu mà tất cả các nước tìm kiếm. Theo đó, sức mạnh có thể được biểu hiện qua khả năng của một quốc gia trong việc thực hiện một hành động nào đó.
Đối với chủ nghĩa hiện thực, sức mạnh là khái niệm cốt lõi. Tuy nhiên, những nhà chủ nghĩa hiện thực vẫn có những cách hiểu về khái niệm sức mạnh khác nhau. Vì theo họ khái niệm sức mạnh còn dựa trên quan điểm nhìn nhận khái niệm đó mang tính tĩnh hay động. Đối với những người cho rằng khái niệm sức mạnh mang tính tĩnh, sức mạnh là sự tổng hòa của tất cả các nguồn lực về kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ cùng nhiều yếu tố tĩnh khác của một quốc gia như tài nguyên, lãnh thổ… từ đó cho phép một quốc gia có khả năng thực hiện một hành động nào đó.
Quan điểm này dẫn đến cách hiểu về sức mạnh tuyệt đối của một quốc gia. Còn đối với những người cho rằng sức mạnh có tính động, sức mạnh của một quốc gia được xem xét dựa trên các mối quan hệ tương quan với các quốc gia khác. Sức mạnh 16 của một chủ thể nhất định được đánh giá thông qua đặt khả năng của chủ thể đó trong quan hệ với các khả năng của các chủ thể khác và khi đó việc đánh giá sức mạnh mang tính tương đối. Trong quan hệ quốc tế, khi chủ thể chính là các quốc gia thì khái niệm sức mạnh đương nhiên được hiểu là sức mạnh của quốc gia.
Để kết hợp được tính chất động và tĩnh của sức mạnh, về khái niệm theo một cách dễ hiểu thì sức mạnh là khả năng của quốc gia đó trong việc gây ảnh hưởng lên hành vi của quốc gia khác phù hợp với mục đích của mình. Đồng thời, việc đo lường sức mạnh góp phần quan trọng vào việc giải thích và dự đoán hành vi của một quốc gia trong quan hệ với các quốc gia khác (Đào Minh Hồng & Lê Hồng Hiệp, 2013). Việc tìm hiểu về sức mạnh còn giúp cho chúng ta có thể dự đoán về những sự kiện quốc tế sẽ xảy ra trong tương lai và các mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới. Qua đó chúng ta nhận thấy được tầm quan trọng cả về thực tiễn và lý luận, yếu tố sức mạnh đã trở thành một trong những yếu tố chủ chốt trong nghiên cứu quan hệ quốc tế (PGS-TS.Hoàng Khắc Nam, 2011).
Sức mạnh tổng hợp quốc gia là một khái niệm trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, dùng để chỉ toàn bộ thực lực đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của một quốc gia bao gồm các nhân tố vật chất (phần cứng); tinh thần (phần mềm); ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế. Trong sức mạnh tổng hợp của quốc gia bao gồm sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Thuật ngữ Sức mạnh cứng (tiếng Anh: Hard Power) được định nghĩa là một phương pháp cưỡng chế đối với quan hệ chính trị quốc tế, liên quan đến việc sử dụng sức mạnh quân sự và kinh tế để gây ảnh hưởng hoặc kiểm soát hành vi hoặc lợi ích của các quốc gia hoặc nhóm chính trị khác. Điều này có nghĩa là các quốc gia mạnh hơn sẽ gây ảnh hưởng đến các quốc gia yếu hơn thông qua việc giảm các rào cản thương mại, cung cấp an ninh quân sự hoặc bất kỳ lời đề nghị có lợi nào khác.
Tương tự như vậy, họ cũng có thể ảnh hưởng đến các quốc gia đó thông qua việc sử dụng các mối đe dọa như áp đặt 17 các biện pháp trừng phạt kinh tế, hạn chế thương mại, can thiệp quân sự và sử dụng vũ lực. Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, người ta thường đề cập đến khái niệm Sức mạnh mềm (tiếng Anh: Soft power) và vai trò của nó. Khi mà thế giới đang chuyển động hướng tới đa cực, sức mạnh mềm ngày càng trở thành trụ cột quan trọng, góp phần nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của các quốc gia. Vì vậy, các nước trên thế giới, dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển, đều quan tâm xây dựng, củng cố, khai thác và phát huy sức mạnh mềm của mình như một nhiệm vụ mang tầm chiến lược quốc gia.
Chính xác thì sức mạnh mềm là gì và nó hữu ích như thế nào trong việc đối phó với những thách thức ngày nay? 1. Khái niệm sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế Sức mạnh mềm (tiếng Anh: Soft power) là một khái niệm do giáo sư người Mỹ Joseph Samuel Nye, Jr. ở đại học Harvard, Nguyên Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, chính thức đưa ra vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Khái niệm này được đưa ra lần đầu tiên trong một quyển sách phát hành năm 1990, Bound to Lead: The Changing Nature of American Power.
Vào năm 2004, khi quyển sách Soft Power: The Means to Success in World Politics ra đời, Joseph Nye đã giải thích rõ hơn về khái niệm sức mạnh mềm. Định nghĩa ban đầu của Joseph Nye về sức mạnh mềm là khả năng khiến người khác muốn cái mà bạn muốn, do đó họ sẽ tự nguyện làm điều đó mà không phải ép buộc hoặc mua chuộc. Đến năm 1999, ông đưa ra một khái niệm cụ thể hơn. Sức mạnh mềm là kết quả lý tưởng có được thông qua sức hấp dẫn của văn hoá chứ không phải sức mạnh cưỡng chế của một quốc gia, có thể làm cho các nước khác tin phục đi theo mình và hành xử theo ý tưởng của mình (Đào Minh Hồng & Lê Hồng Hiệp, 2013).
Theo giáo sư Joseph Nye, sức mạnh mềm là dùng khả năng giành được những thứ mình muốn thông qua việc gây ảnh hưởng để khiến người khác làm theo những gì mình muốn (Joseph Nye, 2004). Cha đẻ của khái niệm sức mạnh mềm cho rằng đó là một loại 18 năng lực, có thể giúp đạt được mục đích thông qua sức hấp dẫn chứ không phải ép bức hoặc dụ dỗ. Một đặc điểm của sức mạnh mềm là không cưỡng bức, ép buộc. Ngược lại với sức mạnh mềm là sức mạnh cứng, dựa trên yếu tố quân sự và kinh tế, được thể hiện chủ yếu bằng cách đe dọa về quân sự và lôi cuốn về kinh tế, mua chuộc.
Còn sức mạnh mềm thì đạt được những gì mình muốn bằng cách tác động tới hệ thống giá trị của người khác, là khả năng tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút để các nước khác “tự nguyện” thay đổi hành vi, làm thay đổi cách suy nghĩ khiến người khác mong muốn chính điều mà mình mong muốn. Qua đó họ điều chỉnh chính sách phù hợp với điều mà mình muốn, thay vì cưỡng bức, ép buộc thông qua sức mạnh kinh tế và quân sự. Đó chính là Sức mạnh mềm (soft power), là sức mạnh được thực hiện thông qua sự hấp dẫn và thuyết phục. Những tư tưởng cơ bản của “Sức mạnh mềm” - coi sự hấp dẫn là một loại sức mạnh - xuất hiện trong tư tưởng kinh tế - chính trị phương Đông cổ đại.
Quan niệm về sức mạnh mềm của phương Tây rất gần gũi với quan điểm đức trị của phương Đông: “Dĩ đức phục nhân” (Lấy nhân đức để thu phục người), hay là “Trị dân mà dùng đức thì như sao Bắc Đẩu, ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả” (Ths Bùi Việt Hương, 2011). Thuật ngữ Sức mạnh mềm hiện được các nhà phân tích và chính trị gia sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa và kỷ nguyên công nghệ thông tin, khi mà các giá trị văn hóa, chính sách… và sự hấp dẫn từ những yếu tố đó tạo ra một sức mạnh tinh tế hơn sức mạnh cứng. Đối với một quốc gia, sức mạnh mềm dựa trên ba nguồn lực chính: Nền văn hoá (ở những điểm thu hút), giá trị về chính trị (áp dụng trong và ngoài nước), và các chính sách (khi được cho là hợp pháp và phù hợp đạo đức) (J. Qua đó, chúng ta nhận thấy sức mạnh mềm là một loại sức mạnh tổng hợp, được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau.
Sức mạnh mềm không phải là một thực thể tĩnh mà là một quá trình động, trong đó các nhân tố tạo nên sức mạnh mềm bổ sung, hỗ trợ và tương tác, chuyển hóa lẫn nhau. Theo thời gian, các nhân tố của sức mạnh mềm có thể thay đổi, tiếp biến, do vậy, sức mạnh mềm tổng thể của quốc gia cũng có những biến đổi. 19 Joseph Nye cho rằng, sức mạnh cứng dựa trên sự khuyến dụ (“củ cà rốt”) hay đe dọa (“cây gậy”). Nhưng đôi khi bạn có thể đạt được ước nguyện mà không cần đe doạ hay dụ dỗ.
Cách gián tiếp để đạt được ước nguyện có khi còn được gọi là một loại sức mạnh mới, một khái niệm mới ra đời vào khoảng thập niên cuối của thế kỉ XX. Ví dụ, một quốc gia có thể đạt được ước nguyện của mình trên trường quốc tế bởi vì các quốc gia khác bị ảnh hưởng, ngưỡng mộ và yêu thích các giá trị của nó, học hỏi và làm theo chính sách, ước muốn có được sự phồn vinh và đạt được thành công, muốn đi theo bước chân của quốc gia đó. Đó chính là nhờ vào sức mạnh mềm của quốc gia. Sức mạnh mềm dựa trên khả năng định hình sở thích của người khác, đồng thời tạo ra một sức hấp dẫn lan tỏa đến họ, khiến họ yêu thích và làm theo.
Một ví dụ đơn giản ở cấp độ cá nhân, tất cả chúng ta đều hiểu được sức mạnh của sự thu hút.