Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN TRONG BỐI CẢNH COVID-19 1. Nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe tâm thần của người mắc COVID-19, sinh viên sau khi mắc COVID-19 Mắc COVID-19 đang được xem là nỗi ám ảnh lớn đối với toàn nhân loại trong những năm vừa qua. Người mắc COVID-19 không chỉ phải đối mặt với những nguy cơ về sức khỏe, mà còn phải chịu đựng những gánh nặng tâm lý nặng nề. Từ nhiều nguồn nghiên cứu mà chúng ta sẽ chỉ ra dưới đây đã cho thấy rằng, mắc COVID-19 là mắc phải các rối loạn tâm thần như rối loạn lo âu, stress, trầm cảm, thậm chí dẫn đến tự tử do lo lắng quá mức.
Về cơ bản, mắc COVID-19 không phải là nguyên nhân chính gây ra những vấn đề về sức khỏe tâm thần, tuy nhiên, chúng làm suy yếu hệ miễn dịch gây ra các tình trạng bệnh lý khác và làm suy giảm sức khỏe thể chất và tinh thần. Một nghiên cứu của Pallanti và cộng sự (2020) cho biết các triệu chứng tâm thần sau khi mắc COVID-19 có thể là kết quả của phản ứng miễn dịch liên quan đến vi-rút và hoặc các yếu tố tâm lý xã hội. Viêm dây thần kinh, suy giảm hàng rào máu não, thay đổi dẫn truyền thần kinh, rối loạn chức năng trục dưới đồi-tuyến yên- thượng thận (HPA), rối loạn điều hòa cytokine và kích hoạt microglia được biết là có liên quan đến các vấn đề tâm thần [94]. Theo Mazza và cộng sự (2020), sự bùng phát COVID-19 có liên quan đến những tác động về SKTT trong quá trình mắc vi-rút và trong thời gian theo dõi ngắn hạn.
Dữ liệu nghiên cứu cho thấy tác động tâm lý của COVID- 19 ở những người sống sót, đồng thời xem xét tác động của các yếu tố dự đoán lâm sàng và tình trạng viêm. Kết quả nghiên cứu trên 402 người trưởng thành sống sót sau COVID-19 sau một tháng theo dõi sau khi điều trị tại bệnh viện. Từ kết quả phỏng vấn lâm sàng và kết quả khảo sát các triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), trầm cảm, lo lắng, mất ngủ và ám ảnh cưỡng chế (OC). Kết quả cho thấy có 28% người mắc chứng PTSD, 31% mắc chứng trầm cảm, 42% mắc chứng lo âu và 20% mặc các triệu chứng OC và 40% mắc chứng mất ngủ.
Tổng thể, có 56% đạt điểm trong phạm vi bệnh lý ở ít nhất một khía cạnh lâm sàng. Trong đó nghiên cứu cũng chỉ ra 9 rằng, phụ nữ lại phải chịu đựng nhiều hơn về cả lo lắng và trầm cảm. Bên cạnh đó PTSD, chứng trầm cảm nặng và lo âu, đều là những tình trạng bệnh không lây nhiễm có gánh năng cao liên quan đến nhiều năm sống với tình trạng khuyết tật. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng xem xét tác động đáng báo động của nhiễm trùng COVID-19 đối với sức khỏe tâm thần, những hiểu biết hiện tại về tình viên nhiễm và sự quan sát hiện nay về tình trạng viên nhiễm dẫn đến trầm cảm nặng hơn [86].
Bên cạnh đó nghiên cứu triệu chứng tâm thần và các triệu chứng kéo dài ở những bệnh nhân đã hồi phục sau đợt nhiễm COVID-19 cấp tính. Meinhardt và cộng sự (2021) đã điều tra các sau trung bình gần 50 ngày kể từ khi chẩn đoán, 98 bệnh nhân (34,5%) đã báo cáo PTSD, lo lắng và/hoặc trầm cảm có ý nghĩa lâm sàng, trong đó PTSD là tình trạng phổ biến nhất được báo cáo (25,4%). Các yếu tố dự đoán mức độ nghiêm trọng của triệu chứng PTSD là giới tính nữ, các sự kiện đau buồn trong quá khứ, các triệu chứng kéo dài, sự kỳ thị và quan điểm tiêu cực về đại dịch COVID-19. Mức độ nghiêm trọng của triệu chứng PTSD là yếu tố dự báo độc lập duy nhất cho các triệu chứng kéo dài.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra cho thấy bệnh nhân COVID-19 dễ bị căng thẳng tâm lý nghiêm trọng trong vài tháng đầu sau khi mắc bệnh. Các triệu chứng kéo dài thường xuyên xảy ra trong giai đoạn này và chúng có liên quan chặt chẽ với các triệu chứng sau chấn thương [89]. Với việc xem xét tập trung vào mối liên hệ giữa hiệu suất thần kinh tâm lý và đau khổ tâm thần, cùng với những phàn nàn về nhận thức chủ quan. Gouraud và cộng sự (2021) cũng chỉ ra rằng, điểm kiểm tra tâm lý thần kinh khách quan không liên quan đáng kể đến các phàn nàn về nhận thức chủ quan và các phàn nàn về nhận thức chủ quan có liên quan đến các triệu chứng lo âu và trầm cảm.
Phát hiện của họ cho thấy rằng sức khỏe tâm thần nên là một lĩnh vực chính để đánh giá và quản lý bệnh nhân COVID-19 [61]. Cũng như việc đánh giá tình trạng nhận thức toàn cầu (nghĩa là hiệu suất tổng thể trên RBANS), sự chú ý, trí nhớ, kỹ năng thị giác không gian, tốc độ tâm lý vận động, ngôn ngữ và chức năng điều hành ở bệnh nhân nhiễm trùng sau cấp tính. Ferrando và cộng sự (2022) đã cho thấy, kết quả nghiên cứu có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ, trong PTSD, trầm cảm, lo lắng và sợ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa loại điều trị khi nhập, trong PTSD và lo lắng, những biến đổi tâm lý [55].
10 Trong khi đó, nghiên cứu của Jane Cooley Fruehwirth và cộng sự (2021) nhận thấy rằng tỷ lệ lo lắng ở mức độ trung bình đến nặng đã tăng từ 18,1% trước đại dịch lên 25,3% trong vòng bốn tháng sau khi đại dịch bắt đầu; và tỷ lệ trầm cảm ở mức độ trung bình đến nặng tăng từ 21,5% lên 31,7%. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng học sinh da trắng, nữ và thiểu số có nguy cơ gia tăng các triệu chứng lo âu cao nhất. Và học sinh da đen, nữ không phải gốc Tây Ban Nha có nguy cơ gia tăng các triệu chứng trầm cảm cao nhất [68]. Ngày càng nhiều nghiên cứu cắt ngang làm dấy lên lo ngại về ảnh hưởng của đại dịch đối với sức khỏe tâm thần của sinh viên đại học [96] và một số nghiên cứu đề cập đến các yếu tố tiềm ẩn liên quan đến các yếu tố gây căng thẳng liên quan đến COVID-19 của chúng ta.
Trong nghiên cứu của Tetsuro Noda và cộng sự (2021) cho thấy, có 50% sinh viên đại học và sau đại học cảm thấy lo lắng trầm cảm nhiều hơn mức nhẹ. Khoảng 11% cảm thấy lo lắng trầm cảm nặng, cho thấy lo lắng về tương lai làm trầm trọng thêm mức độ lo lắng trầm cảm. Cuộc sống với lịch trình ngày và đêm bị đảo ngược có liên quan đến việc làm trầm trọng thêm mức độ lo lắng trầm cảm, nhưng cảm giác gắn kết cao có liên quan đến việc giảm mức độ lo lắng trầm cảm. Như vậy, đại dịch COVID-19 đã kích hoạt sự cô lập dẫn đến sức khỏe tinh thần của sinh viên đại học và sau đại học ngày càng xấu đi.
Hỗ trợ tâm lý cho lối sống và ý thức gắn kết là cần thiết để ngăn chặn sự suy giảm sức khỏe tâm thần ở những học sinh bị cô lập [130]. Trong khi đó, Changwu Wei's và cộng sự (2022) cho biết kết quả nghiên cứu 537 sinh viên năm thứ nhất chỉ ra rằng, những tác động của áp lực thời gian, cạn kiệt cảm xúc, nhận thức về hỗ trợ xã hội, và sự tham gia của sinh viên về sức khỏe tâm thần và cung cấp các biện pháp phù hợp để giảm nguy cơ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần ở sinh viên năm thứ nhất. Áp lực thời gian, hỗ trợ xã hội nhận thức, cạn kiệt cảm xúc, sự tham gia của sinh viên và thang đo sức khỏe tâm thần. Kết quả chỉ ra rằng: (1) Điểm vừa phải về áp lực thời gian và cảm xúc kiệt quệ và điểm cao hơn trung bình một chút về nhận thức về hỗ trợ xã hội, sự tham gia của sinh viên và sức khỏe tâm thần được tìm thấy ở các sinh viên năm thứ nhất trong thời kỳ hậu COVID-19.
(2) Áp lực thời gian có mối quan hệ tích cực với sự kiệt sức của sinh viên và mối quan hệ tiêu cực với sức khỏe tâm thần. Nhận thức về hỗ trợ 11 xã hội có tương quan nghịch với tình trạng kiệt sức của sinh viên nhưng lại có tương quan thuận với sự tham gia của sinh viên, và do đó cải thiện sức khỏe tinh thần. Những phát hiện này cho thấy rằng việc tăng cường nhận thức về hỗ trợ xã hội và sự tham gia của sinh viên đồng thời giảm áp lực thời gian, cũng như tình trạng cạn kiệt cảm xúc của sinh viên có thể thúc đẩy sức khỏe tâm thần ở sinh viên đại học năm thứ nhất [42]. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu Bonnie Horgos và cộng sự (2021) cho thấy rằng, vấn đề hoặc tình trạng sức khỏe tâm thần hoặc cảm xúc gặp nhiều khó khăn hơn khi thích ứng với hướng dẫn trực tuyến so với những học sinh không có mối quan tâm hoặc tình trạng sức khỏe tâm thần hoặc cảm xúc.
Bao gồm gặp phải những trở ngại liên quan đến việc thiếu không gian học tập phù hợp và thiếu công nghệ cần thiết để hoàn thành việc học trực tuyến. Kết quả cũng chỉ ra rằng, những sinh viên có vấn đề hoặc tình trạng sức khỏe tâm thần hoặc cảm xúc ít có khả năng đồng ý rằng họ cảm thấy mình thuộc về khuôn viên trường và ít có khả năng đồng ý rằng trường đã hỗ trợ họ trong đại dịch [37]. Theo khảo sát của Hiệp hội Trải nghiệm sinh viên tại Đại học Nghiên cứu (SERU) với 30.725 sinh viên đại học và 15.346 sinh viên sau đại học và chuyên nghiệp được thực hiện vào tháng 5-7, đại dịch COVID-19 có những tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của sinh viên đại học và sau đại học tại các trường đại học. Nghiên cứu của Chirikov và cộng sự (2020) tại chín trường đại học đã cho thấy.
Kết quả dựa trên các công cụ sàng lọc PHQ-2 và GAD-2, 35% sinh viên đại học và 32% sinh viên tốt nghiệp và chuyên nghiệp được sàng lọc dương tính với chứng rối loạn trầm cảm nặng, trong khi 39% sinh viên đại học, sau đại học và sinh viên chuyên nghiệp được sàng lọc dương tính với chứng rối loạn lo âu tổng quát. Tỷ lệ rối loạn trầm cảm nặng và rối loạn lo âu tổng quát rõ rệt hơn ở những học sinh có thu nhập thấp; học sinh da màu; phụ nữ và sinh viên không thuộc hệ nhị phân; học sinh chuyển giới; học sinh đồng tính nam hoặc đồng tính nữ, song tính, đồng tính, thắc mắc, vô tính và toàn tính.