Tổng quan luận án

Vấn đề sức khỏe tâm thần (SKTT) chiếm tỷ trọng lớn trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Theo các thống kê được trích dẫn trong luận án, cứ bốn người thì có một người gặp phải vấn đề sức khỏe tâm thần, gây tiêu tốn ước tính 2.500 tỷ đô la trên toàn thế giới vào năm 2010. Tại Việt Nam, thống kê của Bộ Y tế năm 2017 cho thấy khoảng 15% dân số mắc các rối loạn tâm thần phổ biến liên quan đến stress và 3 triệu người bị rối loạn tâm thần nặng; số liệu từ Viện Sức khỏe Tâm thần ghi nhận 30% dân số có các rối loạn tâm thần, trong đó trầm cảm chiếm 25%. Đại dịch COVID-19 bùng phát đã làm trầm trọng thêm tình trạng này khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố tỷ lệ lo âu và trầm cảm toàn cầu tăng 25% trong năm đầu tiên của đại dịch. Đợt dịch thứ tư tại Thành phố Hồ Chí Minh với thời gian giãn cách xã hội kéo dài gần 3 tháng theo Chỉ thị 16 đã gây ra những tác động nặng nề về thể chất và tinh thần. Sinh viên đại học được xác định là nhóm có nguy cơ cao gặp khó khăn về SKTT do phải đối mặt với việc gián đoạn học tập, chuyển đổi sang học trực tuyến và những bất ổn kinh tế - xã hội. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung vào giai đoạn đang diễn ra dịch bệnh hoặc khảo sát trên cộng đồng nói chung, trong khi các nghiên cứu chuyên sâu về trạng thái SKTT lâu dài của đối tượng sinh viên sau khi đã mắc COVID-19 và sự kết hợp giữa khía cạnh bệnh lý với khía cạnh hạnh phúc tích cực còn rất hạn chế tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng SKTT của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh sau khi mắc COVID-19, đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao SKTT và giảm thiểu các khó khăn tâm lý ảnh hưởng đến đời sống của sinh viên.

Để thực hiện mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan các nghiên cứu về SKTT của sinh viên và các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của sinh viên trong bối cảnh COVID-19.
  2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về SKTT của sinh viên sau khi mắc COVID-19 (các khái niệm cơ bản, các luận điểm lý thuyết và mô hình giải thích yếu tố ảnh hưởng).
  3. Nghiên cứu thực tiễn về thực trạng SKTT của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh sau khi mắc COVID-19 và phân tích các yếu tố tác động (yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ).
  4. Đề xuất các khuyến nghị nhằm cải thiện và nâng cao SKTT cho sinh viên sau khi mắc COVID-19.

Luận án thiết lập 7 giả thuyết nghiên cứu cụ thể:

  • Giả thuyết 1: Có mối quan hệ giữa khía cạnh tích cực của SKTT (cảm nhận hạnh phúc) với các khía cạnh tiêu cực của SKTT (đau khổ tâm lý, trầm cảm, lo âu, PTSD) ở sinh viên sau mắc COVID-19.
  • Giả thuyết 2: Có sự khác biệt về SKTT (điểm đau khổ tâm lý, trầm cảm, lo âu, PTSD, cảm nhận hạnh phúc) giữa sinh viên nam và nữ sau mắc COVID-19.
  • Giả thuyết 3: Có sự khác biệt về SKTT (điểm đau khổ tâm lý, trầm cảm, lo âu, PTSD, cảm nhận hạnh phúc) giữa sinh viên không mắc và có mắc COVID-19.
  • Giả thuyết 4: Trạng thái cảm xúc tiêu cực ngay khi mới mắc COVID-19 (khó chịu, lo âu, sợ hãi) có thể tác động lâu dài đến SKTT (điểm đau khổ tâm lý, trầm cảm, lo âu, PTSD, cảm nhận hạnh phúc) của sinh viên sau mắc COVID-19.
  • Giả thuyết 5: Các yếu tố liên quan bệnh COVID-19 có thể tác động đến trạng thái SKTT sau này (điểm đau khổ tâm lý, trầm cảm, lo âu, PTSD, cảm nhận hạnh phúc) của sinh viên đã bị mắc COVID-19.
  • Giả thuyết 6: Nguồn lực tâm lý xã hội (cái tôi hiệu quả, khả năng hồi phục, sự ủng hộ xã hội và sự hài lòng) là những yếu tố có thể bảo vệ SKTT (đau khổ tâm lý, trầm cảm, lo âu, PTSD, cảm nhận hạnh phúc) của sinh viên sau khi mắc COVID-19.
  • Giả thuyết 7: Các áp lực xã hội từ đời sống sinh viên (áp lực tài chính, áp lực học tập, áp lực việc làm sau tốt nghiệp) là những yếu tố nguy cơ đối với SKTT (đau khổ tâm lý, trầm cảm, lo âu, PTSD, cảm nhận hạnh phúc) của sinh viên sau khi mắc COVID-19.

Đối tượng nghiên cứu là SKTT và các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT ở sinh viên sau khi mắc COVID-19. Khách thể nghiên cứu là sinh viên đã từng mắc COVID-19 đang theo học tại các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nội dung giới hạn ở 5 khía cạnh SKTT: trạng thái đau khổ tâm lý (SKTT tổng quát), trầm cảm, lo âu, rối loạn stress hậu sang chấn (PTSD) và cảm nhận hạnh phúc; cùng các nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm: yếu tố liên quan bệnh COVID-19, nguồn lực tâm lý xã hội và áp lực đời sống sinh viên. Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành tại 8 trường đại học: Đại học Sài Gòn, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Nguyễn Tất Thành, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Văn Lang, Đại học Lao động - Xã hội (Cơ sở II tại TP.HCM) và Đại học Kinh tế - Tài chính. Thời gian hoàn thành luận án vào năm 2024.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính: các vấn đề SKTT và các yếu tố tác động đến SKTT của người mắc COVID-19 cũng như sinh viên đại học.

Về các nghiên cứu quốc tế:

  • Tác động tâm thần kinh và bệnh lý hậu COVID-19: Pallanti và cộng sự (2020) chỉ ra các phản ứng miễn dịch liên quan đến virus như viêm dây thần kinh, rối loạn trục HPA và cytokine gây ra các vấn đề tâm thần. Mazza và cộng sự (2020) nghiên cứu 402 người trưởng thành sau điều trị COVID-19, ghi nhận 28% mắc PTSD, 31% trầm cảm, 42% lo âu, 20% triệu chứng ám ảnh cưỡng chế (OC) và 40% mất ngủ. Meinhardt và cộng sự (2021) khảo sát sau 50 ngày chẩn đoán thấy 34,5% bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng về PTSD, lo âu hoặc trầm cảm. Gouraud và cộng sự (2021) phân tích mối liên hệ giữa phàn nàn nhận thức chủ quan và triệu chứng lo âu, trầm cảm. Ferrando và cộng sự (2022) và Marco Colizzi và cộng sự (2023) xác nhận các triệu chứng suy giảm tập trung và rối loạn tâm thần vẫn tồn tại kéo dài sau 12 tháng theo dõi. Farzaneh Badinlou và cộng sự (2024) khảo sát mẫu dọc 236 người nhận thấy người trẻ tuổi và người từng nhiễm bệnh nặng có nguy cơ cao nhất về suy giảm SKTT.
  • Thực trạng SKTT ở sinh viên đại học: Khảo sát SERU do Chirikov và cộng sự (2020) thực hiện trên 30.725 sinh viên đại học và 15.346 học viên sau đại học tại 9 trường đại học ở Mỹ cho thấy 35% sinh viên đại học có dấu hiệu trầm cảm nặng và 39% có rối loạn lo âu tổng quát. Jane Cooley Fruehwirth và cộng sự (2021) ghi nhận tỷ lệ lo âu từ trung bình đến nặng tăng từ 18,1% lên 25,3% và trầm cảm tăng từ 21,5% lên 31,7%. Các nghiên cứu của Changwon và cộng sự (2020) trên 195 sinh viên chỉ ra 71% bị gia tăng căng thẳng, lo âu. Wang và cộng sự (2020) trên mẫu lớn ghi nhận 48,14% trầm cảm từ vừa đến nặng và 18,04% có ý định tự tử. Tetsuro Noda và cộng sự (2021) tại Nhật Bản, Zaza Lyons và cộng sự (2020) tại Úc, Tomasz Wieczorek và cộng sự (2021) tại Ba Lan, Wathelet và cộng sự (2020) tại Pháp, Nisar và cộng sự (2022) tại Pakistan và Pramukti và cộng sự (2021) tại ba quốc gia Thái Lan, Đài Loan, Indonesia đều phản ánh mức độ lo âu, stress và cảm giác cô lập xã hội cao ở sinh viên.
  • Các yếu tố tác động: Changwu Wei và cộng sự (2022) phân tích mối quan hệ giữa áp lực thời gian, kiệt quệ cảm xúc và hỗ trợ xã hội ở 537 sinh viên năm thứ nhất. Eileen Heuman và cộng sự (2023) và Negash và cộng sự (2022) phân tích gánh nặng điều kiện học tập và khó khăn tài chính. Chi X và cộng sự (2020) tiếp cận mô hình gắn bó và biến cố tiêu cực thời thơ ấu. Liu và cộng sự (2020), Zhang và cộng sự (2020), Kecojevic và cộng sự (2020), Nathiya và cộng sự (2020) và Xie và cộng sự (2020) khảo sát các biến số kinh tế, chất lượng giấc ngủ và kiến thức y khoa.

Về các nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Các nghiên cứu thực nghiệm trong đại dịch: Bùi Thị Hồng Thái và cộng sự (2021) ghi nhận tỷ lệ trầm cảm, lo âu, căng thẳng ở sinh viên lần lượt là 18,8%, 25% và 18,4%. Nguyễn Hoàng Thùy Linh và cộng sự (2020, 2021) khảo sát 877 sinh viên y dược tại Huế, Đà Nẵng, TP.HCM chỉ ra 12,7% có dấu hiệu trầm cảm, chịu ảnh hưởng từ tài chính và lo lắng tương lai. Nguyễn Thị Bích Tuyền và cộng sự (2021) khảo sát tại Đại học Đồng Nai về nỗi sợ COVID-19 và việc học trực tuyến. Nguyễn Quốc Doanh và cộng sự (2021) khảo sát 455 nhân viên y tế CDC ghi nhận 45,93% có vấn đề SKTT. Đỗ Lan Hương và cộng sự (2022) theo dõi 793 học viên tại Học viện Quân y về các triệu chứng kéo dài. Nguyễn Văn Tuân và cộng sự (2021) khảo sát 5.390 sinh viên chỉ ra sự gia tăng stress do học trực tuyến và cô lập xã hội. Lê Hồng Phương và cộng sự (2020) ghi nhận 25,1% sinh viên có triệu chứng trầm cảm. Nguyễn Thị Thanh Tình và cộng sự (2022) tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch công bố tỷ lệ lo âu ở sinh viên điều dưỡng lên đến 49,6%. Hoàng Thị Vân và cộng sự (2022) tại Đại học Đại Nam và Nguyễn Thị Lan và cộng sự (2023) tại Đại học Y Hà Nội (với 45% sinh viên từng mắc bệnh, tỷ lệ lo âu 68,40%) cùng các nghiên cứu của Đặng Thanh Nga (2021) và Trần Thư Hà và cộng sự (2021) đã phân tích các rào cản học tập, thiết bị và tâm lý lo sợ lây nhiễm.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù số lượng nghiên cứu về tác động của COVID-19 khá nhiều, các công trình chủ yếu dừng lại ở thời điểm đang bùng phát dịch, tập trung vào nhân viên y tế hoặc cộng đồng chung và chỉ đo lường các triệu chứng bệnh lý tiêu cực đơn lẻ. Luận án chọn giải quyết khoảng trống: đánh giá tình trạng SKTT của sinh viên trong giai đoạn sau khi đã mắc COVID-19 tại địa bàn tâm dịch Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời xem xét SKTT trên cả hai diện mạo: tiêu cực (đau khổ tâm lý tổng quát, trầm cảm, lo âu, PTSD) và tích cực (cảm nhận hạnh phúc), từ đó lượng hóa mối liên hệ giữa các di chứng cảm xúc ban đầu, các yếu tố bệnh lý, nguồn lực bảo vệ tâm lý xã hội và các áp lực thực tế trong đời sống sinh viên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

Luận án vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận và mô hình lý thuyết chuyên ngành:

  • Nguyên tắc hoạt động và nguyên tắc hệ thống: Xem xét SKTT của sinh viên là hiện tượng tâm lý nảy sinh trong hoạt động sống, học tập và các mối quan hệ xã hội; đồng thời SKTT nằm trong một chỉnh thể tương tác đa chiều giữa các yếu tố bên trong và môi trường bên ngoài.
  • Mô hình Tâm lý – Sinh học – Xã hội (Biopsychosocial Model): Dựa trên mô hình của Engel và sơ đồ của Delphis (2019), luận án phân tích SKTT như một trạng thái tổng hòa chịu tác động đồng thời của các yếu tố thể chất/bệnh lý (nhiễm SARS-CoV-2, triệu chứng thực thể), tâm lý (cái tôi hiệu quả, khả năng phục hồi, cảm xúc khi nhiễm bệnh) và xã hội (ủng hộ xã hội, áp lực học tập, tài chính, việc làm).
  • Các mô hình về sức khỏe tâm thần: Luận án hệ thống hóa ba cách tiếp cận:
    1. Mô hình đơn cực: Coi SKTT là sự vắng mặt của bệnh lý tâm thần.
    2. Mô hình lưỡng cực (Eaton, 1951): Coi sức khỏe tâm thần và bệnh tâm thần là hai đầu đối lập trên cùng một trục liên tục.
    3. Mô hình liên tục – kép (Dual-continua Model): Coi bệnh lý tâm thần (ill-being) và trạng thái hạnh phúc tâm trí (well-being) là hai trục riêng biệt nhưng có liên hệ; một người có thể tồn tại triệu chứng bệnh nhưng vẫn có mức độ hạnh phúc nhất định hoặc ngược lại.
  • Quan niệm của WHO (2012, 2022): Định nghĩa SKTT không chỉ là không có rối loạn tâm thần mà là trạng thái hạnh phúc, thoải mái, nhận biết được tiềm năng cá nhân, có khả năng đối phó với căng thẳng và đóng góp cho cộng đồng.
  • Lý thuyết nguồn lực tâm lý xã hội: Tiếp cận quan điểm của Luthans và cộng sự (2006) về vốn tâm lý (cái tôi hiệu quả, hy vọng, lạc quan, phục hồi) và Pellerin và cộng sự (2020) về các năng lực tinh thần bảo vệ cá nhân trước các yếu tố gây căng thẳng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính:

Phương pháp Công cụ / Thang đo Mục đích và chỉ số kỹ thuật
Khảo sát bảng hỏi định lượng (N = 508 sinh viên) - Thang đo GHQ-12
- Thang đo PHQ-9
- Thang đo GAD-7
- Thang đo PTSD COVID-19
- Thang đo WHO-5
Đo lường đau khổ tâm lý tổng quát, mức độ trầm cảm, mức độ lo âu, triệu chứng stress hậu sang chấn và mức độ cảm nhận hạnh phúc. Đánh giá độ tin cậy bằng hệ số Cronbach's Alpha.
Đo lường nguồn lực và áp lực - Thang đo GSE
- Thang đo BRS
- Thang đo MSPSS
Đo lường cái tôi hiệu quả tổng quát, khả năng phục hồi ngắn gọn và sự ủng hộ xã hội đa diện; kết hợp bảng hỏi đánh giá áp lực học tập, tài chính, việc làm.
Thống kê toán học Phần mềm xử lý số liệu thống kê Tính tần số, tỷ lệ phần trăm (%), điểm trung bình, kiểm định khác biệt theo các lát cắt nhân khẩu, hệ số tương quan Pearson, tạo biến giả (Dummy) và phân tích mô hình hồi quy tổng hợp.
Phương pháp định tính Phỏng vấn sâu, nghiên cứu trường hợp (Case study) Phân tích sâu các ca điển hình, mã hóa định tính các ấn tượng tiêu cực, hình ảnh, âm thanh, bối cảnh thiếu thốn và sự hạn chế liên hệ xã hội còn ám ảnh lâu dài ở sinh viên sau mắc bệnh.
Phân tích tài liệu Văn bản quy phạm, hướng dẫn y tế Phân tích các chính sách 5K của Bộ Y tế, Chỉ thị 16 của Chính phủ, Chỉ thị 03/CT-UBND và các văn bản chỉ đạo phòng chống dịch tại TP.HCM.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ 508 sinh viên từng mắc COVID-19 tại 8 trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, bảo đảm tính đại diện về khối ngành và đặc điểm nhân khẩu học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của sinh viên trong bối cảnh COVID-19

Chương 1 tập trung phân tích bối cảnh y tế công cộng và hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến tác động của đại dịch COVID-19 đối với SKTT:

  • Điểm lại các bằng chứng y sinh học và tâm lý học về các di chứng cấp tính và sau cấp tính (PACS/COVID kéo dài) do SARS-CoV-2 gây ra, dẫn đến suy giảm nhận thức, mệt mỏi, mất ngủ, trầm cảm, lo âu và PTSD.
  • Phân tích các nghiên cứu chuyên biệt trên nhóm đối tượng sinh viên đại học trên thế giới (Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Ba Lan, Trung Quốc, Úc, Pakistan...) và tại Việt Nam (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Đồng Nai, TP.HCM). Các nghiên cứu chỉ ra sinh viên là nhóm dễ tổn thương do việc phong tỏa, thay đổi hình thức đào tạo sang trực tuyến, gián đoạn tương tác xã hội và gia tăng lo âu về tương lai nghề nghiệp.
  • Tổng hợp các nhóm yếu tố tác động đã được phát hiện trong y văn gồm: yếu tố cá nhân (giới tính, tiền sử tâm lý), yếu tố dịch bệnh (mức độ mắc, nhập viện, người thân nhiễm bệnh hoặc tử vong), yếu tố kinh tế - xã hội (thu nhập gia đình, việc làm thêm) và môi trường học tập.
  • Xác định rõ khoảng trống: Các công trình tại Việt Nam chưa đi sâu vào giai đoạn sau khi mắc bệnh ở sinh viên, chưa đánh giá đầy đủ đồng thời cả mặt tiêu cực và tích cực của SKTT cũng như vai trò của các nguồn lực tâm lý nội tại trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch bệnh.

Chương 2: Cơ sở lý luận về sức khỏe tâm thần của sinh viên sau khi mắc COVID-19

Chương 2 xây dựng khung lý thuyết định hướng cho toàn bộ nghiên cứu thực tiễn:

  • Phân tích các khái niệm nền tảng: sức khỏe tâm thần, bệnh tâm thần, nhiễm COVID-19 và trạng thái sau khi mắc COVID-19.
  • Trình bày ba mô hình lý thuyết về cấu trúc SKTT: mô hình đơn cực, mô hình lưỡng cực (Eaton, 1951) và mô hình liên tục – kép. Luận án lựa chọn quan điểm của WHO (2012, 2022) kết hợp với mô hình liên tục – kép để tiếp cận SKTT như một cấu trúc đa chiều gồm cả đau khổ tâm lý (GHQ-12), các rối loạn cụ thể (PHQ-9, GAD-7, PTSD) và cảm nhận hạnh phúc (WHO-5).
  • Luận giải mô hình Tâm lý – Sinh học – Xã hội (Delphis, 2019; Engel, G.) áp dụng vào bối cảnh dịch bệnh: SKTT của sinh viên chịu sự chi phối tổng hợp của yếu tố sinh học (tình trạng nhiễm virus), yếu tố tâm lý (cảm xúc khi mắc, năng lực tự hiệu quả GSE, khả năng phục hồi BRS) và yếu tố xã hội (sự hỗ trợ từ gia đình/bạn bè MSPSS, các áp lực tài chính, học tập, việc làm).
  • Khái quát bối cảnh đặc thù tại Thành phố Hồ Chí Minh: đợt bùng phát dịch thứ tư, các quy định cách ly, phong tỏa, thông điệp 5K, chỉ đạo phòng chống dịch của UBND TP.HCM và các văn bản điều chỉnh hoạt động dạy học của Bộ Y tế, Sở Y tế.
  • Thiết lập mô hình nghiên cứu lý thuyết và 7 giả thuyết khoa học nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa các biến số độc lập (yếu tố bệnh lý, nguồn lực tâm lý xã hội, áp lực đời sống) và các biến số phụ thuộc (5 chiều cạnh SKTT).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 mô tả quy trình tổ chức thực nghiệm, các công cụ đo lường và phương pháp xử lý dữ liệu:

  • Tổ chức nghiên cứu: Chọn mẫu khảo sát gồm 508 sinh viên từng mắc COVID-19 tại 8 trường đại học ở TP.HCM (Đại học Sài Gòn, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Nguyễn Tất Thành, Đại học Sư phạm TP.HCM, Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM, Đại học Văn Lang, Đại học Lao động - Xã hội, Đại học Kinh tế - Tài chính).
  • Thiết kế công cụ:
    • Bộ câu hỏi thông tin nhân khẩu và các biến số liên quan đến bệnh COVID-19 (số lần nhiễm, thời gian nhiễm, mức độ bệnh, nơi điều trị, tình trạng tiêm vắc xin, khu vực phong tỏa, người thân nhiễm/mất).
    • Các thang đo chuẩn hóa quốc tế: GHQ-12 (SKTT tổng quát), PHQ-9 (trầm cảm), GAD-7 (lo âu), Thang đo PTSD COVID-19, WHO-5 (chỉ số hạnh phúc), GSE (cái tôi hiệu quả), BRS (khả năng phục hồi), MSPSS (ủng hộ xã hội).
    • Bảng hỏi đánh giá các áp lực đời sống sinh viên (áp lực tài chính, áp lực học tập, áp lực việc làm).
  • Phân tích kỹ thuật: Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha cho các thang đo; quy trình tạo biến số, mã hóa biến giả (Dummy variables); phương pháp thống kê mô tả, kiểm định tương quan Pearson, so sánh nhóm và phân tích mô hình hồi quy tuyến tính/tổng hợp.
  • Phương pháp định tính: Xây dựng quy trình phỏng vấn sâu, thu thập dữ liệu nghiên cứu trường hợp và mã hóa nội dung các câu hỏi mở về những trải nghiệm, hình ảnh, âm thanh, bối cảnh gây bất an và ám ảnh lâu dài ở sinh viên.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về sức khỏe tâm thần của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh sau khi mắc COVID-19

Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích định lượng và định tính thu được từ mẫu khảo sát N = 508:

  • Thực trạng SKTT: Trình bày phân bố điểm và tỷ lệ phần trăm các mức độ đau khổ tâm lý (GHQ-12), trầm cảm (PHQ-9), lo âu (GAD-7), PTSD liên quan đến COVID-19 và cảm nhận hạnh phúc (WHO-5). Thống kê chi tiết các biểu hiện triệu chứng chiếm tỷ lệ cao và số lượng vấn đề SKTT mà sinh viên gặp phải cùng lúc.
  • Tương quan giữa các chiều cạnh SKTT: Phân tích hệ số tương quan Pearson giữa trầm cảm, lo âu và hạnh phúc. Kết quả cho thấy mối liên hệ nghịch giữa các chiều cạnh tiêu cực và cảm nhận hạnh phúc, đồng thời khẳng định sự tồn tại độc lập tương đối giữa bệnh lý và trạng thái sống tốt theo mô hình liên tục – kép.
  • So sánh theo các lát cắt nhân khẩu: Phân tích sự khác biệt về SKTT theo giới tính (nam so với nữ), năm học, khối ngành đào tạo, tình trạng tiêm chủng và tiền sử bệnh lý.
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng:
    • Ảnh hưởng của các yếu tố bệnh COVID-19: Số lần mắc, mức độ nặng của bệnh, việc có người thân mất do COVID-19 và trạng thái cảm xúc tiêu cực ngay khi mới nhiễm bệnh (sợ hãi, lo lắng) có tác động kéo dài đến điểm số lo âu, trầm cảm và PTSD sau này.
    • Ảnh hưởng của nguồn lực tâm lý xã hội: Điểm cái tôi hiệu quả (GSE), khả năng phục hồi (BRS) và sự ủng hộ xã hội (MSPSS) đóng vai trò là các yếu tố bảo vệ có ý nghĩa thống kê, làm giảm đau khổ tâm lý và gia tăng cảm nhận hạnh phúc.
    • Ảnh hưởng của các áp lực đời sống: Áp lực tài chính, áp lực học tập và áp lực việc làm sau tốt nghiệp là những yếu tố nguy cơ làm gia tăng mức độ trầm cảm và lo âu.
    • Mô hình hồi quy tổng hợp: Xác định các con đường dẫn đến rối loạn lo âu và suy giảm SKTT ở sinh viên.
  • Phân tích định tính và nghiên cứu trường hợp: Trích xuất dữ liệu từ các hộp phỏng vấn sâu (Hộp 1 đến Hộp 4), phân loại các nhóm ám ảnh tiêu cực kéo dài gồm: âm thanh còi xe cấp cứu, hình ảnh cáng thương/bệnh viện dã chiến, bối cảnh không có sự sống, nỗi sợ lây nhiễm tái phát, sự thiếu thốn lương thực/vật dụng y tế trong giai đoạn phong tỏa và cảm giác cô lập do bị hạn chế liên hệ xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về SKTT của sinh viên sau khi mắc COVID-19 dựa trên việc kế thừa các quan điểm của WHO và các nghiên cứu chuyên ngành trên thế giới.
  2. Xây dựng và kiểm chứng thực nghiệm mô hình lý thuyết nghiên cứu SKTT ở sinh viên sau mắc bệnh, tích hợp tác động dài hạn của yếu tố bệnh học, vai trò bảo vệ của nguồn lực tâm lý xã hội và vai trò nguy cơ của các áp lực đời sống.
  3. Kiểm chứng sự phù hợp của mô hình Tâm lý – Sinh học – Xã hội trên khách thể sinh viên sau khi mắc COVID-19 tại Việt Nam, chứng minh cách thức các hệ thống yếu tố tương tác và tác động tích lũy lên SKTT.
  4. Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định mô hình liên tục – kép về SKTT, chỉ ra mối quan hệ phức tạp giữa chiều cạnh bệnh lý (đau khổ tâm lý, trầm cảm, lo âu, PTSD) và chiều cạnh tích cực (cảm nhận hạnh phúc), khẳng định tính cần thiết phải đo lường song song hai khía cạnh này khi đánh giá SKTT tổng thể.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện và số liệu khoa học về các vấn đề SKTT ở sinh viên 8 trường đại học tại TP.HCM sau giai đoạn mắc COVID-19.
  2. Xác định rõ thứ bậc tác động của các yếu tố nguy cơ (áp lực tài chính, học tập, việc làm, cảm xúc tiêu cực ban đầu) và yếu tố bảo vệ (cái tôi hiệu quả, khả năng phục hồi, ủng hộ từ gia đình và bạn bè), làm căn cứ cho việc xây dựng các can thiệp tâm lý học đường.
  3. Góp phần nâng cao nhận thức của gia đình, nhà trường và xã hội về việc chăm sóc sức khỏe tinh thần dài hạn cho người trẻ sau đại dịch.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với nhà trường và cơ sở giáo dục đại học: Xây dựng và kiện toàn các trung tâm tư vấn tâm lý học đường; thiết lập các chương trình tầm soát định kỳ các vấn đề trầm cảm, lo âu và PTSD; tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng ứng phó với stress, kỹ năng quản lý tài chính cá nhân và định hướng nghề nghiệp nhằm giảm tải các áp lực thực tế cho sinh viên.
  • Đối với giảng viên và tổ chức Đoàn - Hội: Tăng cường các hoạt động kết nối xã hội, xây dựng môi trường học tập linh hoạt, hỗ trợ các sinh viên gặp khó khăn học tập sau thời gian điều trị bệnh; phát huy mạng lưới hỗ trợ đồng đẳng.
  • Đối với gia đình và bản thân sinh viên: Tăng cường sự chia sẻ, đồng hành từ người thân; sinh viên cần chủ động nhận diện sớm các dấu hiệu suy giảm SKTT, tích cực rèn luyện năng lực tự hiệu quả, nâng cao khả năng phục hồi tâm lý và chủ động tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn khi cần thiết.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung vào 508 sinh viên tại 8 trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các tỉnh thành khác để so sánh sự khác biệt vùng miền.
    • Thiết kế nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp cắt ngang tại một thời điểm sau dịch, chưa theo dõi dọc liên tục qua nhiều mốc thời gian để đánh giá sự biến đổi của các di chứng tâm lý theo tiến trình nhiều năm.
    • Việc thu thập dữ liệu về cảm xúc khi mới mắc bệnh dựa trên phương pháp hồi tưởng có thể chịu ảnh hưởng nhất định bởi độ trễ thời gian.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên nhiều nhóm đối tượng thanh niên, học sinh và các khu vực địa lý khác nhau.
    • Triển khai các nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal studies) để theo dõi quỹ đạo phục hồi SKTT dài hạn của người sau mắc COVID-19.
    • Thiết kế và thử nghiệm thực nghiệm các chương trình can thiệp tâm lý dựa trên việc tăng cường nguồn lực tâm lý xã hội (vốn tâm lý, kỹ năng phục hồi) trong môi trường đại học.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Tâm lý học, Công tác xã hội, Y tế công cộng: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về mô hình liên tục – kép, mô hình tâm lý – sinh học – xã hội và quy trình chuẩn hóa các công cụ đo lường SKTT (GHQ-12, PHQ-9, GAD-7, PTSD COVID-19, WHO-5, GSE, BRS, MSPSS).
  • Cán bộ quản lý giáo dục và lãnh đạo các trường đại học: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng để hoạch định chính sách hỗ trợ sinh viên, thiết lập phòng tham vấn tâm lý học đường và xây dựng các chính sách hỗ trợ học bổng, việc làm phù hợp.
  • Chuyên viên tham vấn, trị liệu tâm lý: Tham khảo các phát hiện định tính về các dạng ám ảnh, sang chấn tinh thần đặc thù do dịch bệnh để xây dựng các kỹ thuật can thiệp lâm sàng phù hợp cho người trẻ tuổi.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những công cụ đo lường chuẩn hóa nào để đánh giá sức khỏe tâm thần và các nguồn lực tâm lý?

Luận án sử dụng 8 thang đo chuẩn hóa quốc tế gồm: Thang đo sức khỏe tổng quát (GHQ-12), Thang đo sức khỏe bệnh nhân (PHQ-9 để đo trầm cảm), Thang đo rối loạn lo âu tổng quát (GAD-7), Thang đo triệu chứng rối loạn stress hậu sang chấn liên quan đến COVID-19 (PTSD COVID-19), Thang chỉ số hạnh phúc (WHO-5), Thang đo cái tôi hiệu quả tổng quát (GSE), Thang đo khả năng phục hồi ngắn gọn (BRS) và Thang đo ủng hộ xã hội đa diện (MSPSS).

2. Mẫu khách thể nghiên cứu thực tiễn của luận án được chọn như thế nào?

Nghiên cứu định lượng được thực hiện trên mẫu N = 508 sinh viên đã từng mắc COVID-19 tại 8 trường đại học thuộc Thành phố Hồ Chí Minh: Đại học Sài Gòn, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Nguyễn Tất Thành, Đại học Sư phạm TP.HCM, Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM, Đại học Văn Lang, Đại học Lao động - Xã hội và Đại học Kinh tế - Tài chính. Ngoài ra, tác giả kết hợp nghiên cứu trường hợp và phỏng vấn sâu đối với các ca điển hình.

3. Khái niệm sức khỏe tâm thần được luận án tiếp cận theo mô hình lý thuyết nào?

Luận án tiếp cận SKTT dựa trên Mô hình liên tục – kép (Dual-continua Model) và định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Theo cách tiếp cận này, SKTT không chỉ đơn thuần là sự vắng mặt của các rối loạn bệnh lý (trầm cảm, lo âu, PTSD, đau khổ tâm lý) mà còn bao hàm cả trạng thái tích cực là sự an lạc, cảm nhận hạnh phúc (well-being) và khả năng nhận biết tiềm năng cá nhân để ứng phó với áp lực.

4. Những yếu tố nào đóng vai trò nguy cơ và yếu tố nào đóng vai trò bảo vệ đối với sức khỏe tâm thần của sinh viên sau mắc COVID-19?

Theo kết quả nghiên cứu:

  • Yếu tố nguy cơ: Trạng thái cảm xúc tiêu cực ban đầu khi mắc bệnh (lo âu, sợ hãi), mức độ bệnh nặng, có người thân mất do dịch và các áp lực hiện thời trong đời sống sinh viên (áp lực tài chính, áp lực học tập, áp lực tìm kiếm việc làm sau tốt nghiệp).
  • Yếu tố bảo vệ: Các nguồn lực tâm lý xã hội gồm niềm tin vào năng lực bản thân (cái tôi hiệu quả - GSE), khả năng phục hồi tâm lý (BRS), sự hài lòng cuộc sống và sự ủng hộ xã hội đa diện từ gia đình, bạn bè (MSPSS).

5. Dữ liệu định tính của luận án ghi nhận những ấn tượng tiêu cực nào còn ám ảnh lâu dài ở sinh viên?

Phân tích định tính chỉ ra các nhóm ám ảnh tiêu cực kéo dài ở sinh viên bao gồm: âm thanh còi xe cấp cứu, hình ảnh bối cảnh bệnh viện và sự thiếu vắng sự sống trong thời kỳ đỉnh dịch; nỗi sợ lây nhiễm tái phát; những khó khăn, thiếu thốn về lương thực, vật dụng y tế trong giai đoạn phong tỏa và cảm giác cô lập, bất an do bị cắt đứt các liên hệ xã hội trực tiếp.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Minh Thị Lâm là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Tâm lý học, giải quyết trọn vẹn vấn đề sức khỏe tâm thần của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh sau khi mắc COVID-19. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng trên 508 sinh viên tại 8 trường đại học với phân tích định tính chuyên sâu, luận án đã làm rõ bức tranh thực trạng về đau khổ tâm lý, trầm cảm, lo âu, PTSD và cảm nhận hạnh phúc. Công trình kiểm chứng thành công mô hình Tâm lý – Sinh học – Xã hội và mô hình liên tục – kép, chứng minh vai trò nguy cơ của các áp lực học tập, tài chính, việc làm cũng như vai trò bảo vệ cốt lõi của các nguồn lực tâm lý xã hội. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc xây dựng các chính sách chăm sóc sức khỏe tinh thần và hệ thống tham vấn tâm lý học đường trong bối cảnh hậu đại dịch.