Luận văn: Tương quan tổn thương và nhận thức sức khỏe tâm thần của sinh viên Hà Nội

Nghiên cứu thực trạng sức khỏe tâm thần sinh viên Hà Nội, phân tích mối tương quan giữa các dấu hiệu tổn thương và nhận thức về vấn đề này.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng sức khỏe tâm thần sinh viên Hà Nội hiện nay

Sức khỏe tâm thần sinh viên đang trở thành vấn đề cấp thiết tại các trường đại học Hà Nội. Theo nghiên cứu từ Đại học Giáo dục Hà Nội, tỷ lệ sinh viên gặp phải các vấn đề tâm thần ngày càng gia tăng. Những dấu hiệu tổn thương sức khỏe tâm thần bao gồm các rối loạn cảm xúc, vấn đề hành vi, khó khăn trong giao tiếp xã hội và căng thẳng học tập. Áp lực từ học tập, áp lực xã hội và các vấn đề gia đình là những nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm sức khỏe tâm thần. Các triệu chứng phổ biến bao gồm lo âu, trầm cảm và mất tập trung. Thực trạng này đòi hỏi sự chú ý và can thiệp kịp thời từ các cơ sở giáo dục và các chuyên gia tâm lý.

1.1. Các dấu hiệu tổn thương sức khỏe tâm thần phổ biến

Sinh viên Hà Nội thường gặp phải các dấu hiệu tổn thương sức khỏe tâm thần như cảm xúc bất ổn, rối loạn giấc ngủ, mất động lực học tập và các vấn đề trong mối quan hệ xã hội. Những triệu chứng này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và kết quả học tập của sinh viên.

1.2. Nguyên nhân chính gây tổn thương sức khỏe tâm thần

Áp lực học tập, cạnh tranh trong kỳ thi, khó khăn tài chính và các vấn đề gia đình là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. Sự thích ứng với môi trường đại học cũng là một yếu tố quan trọng.

II. Nhận thức về sức khỏe tâm thần của sinh viên

Nhận thức về sức khỏe tâm thần của sinh viên Hà Nội còn hạn chế và thiếu toàn diện. Nhiều sinh viên chưa hiểu rõ về các rối loạn tâm thần, nguyên nhân và cách phòng ngừa. Mức độ nhận thức về các hình thức trị liệu tâm lý còn thấp, dẫn đến việc nhiều sinh viên không tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn khi cần thiết. Sự thiếu hiểu biết này thường dẫn đến kỳ thị và định kiến về bệnh tâm thần. Nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần là một nhu cầu cấp bách để giúp sinh viên chủ động bảo vệ và cải thiện sức khỏe của mình.

2.1. Mức độ hiểu biết về các rối loạn tâm thần

Mức độ nhận biết các rối loạn tâm thần ở sinh viên còn ở mức độ cơ bản, chủ yếu thông qua các thông tin từ mạng xã hội. Sinh viên cần được giáo dục thêm về các loại rối loạn cụ thể như trầm cảm, lo âu và rối loạn nhân cách.

2.2. Tin tưởng vào các hình thức can thiệp trị liệu

Niềm tin về các hình thức trị liệu tâm lý, sử dụng thuốc và thay đổi lối sống còn khác nhau giữa các sinh viên. Cần tăng cường thông tin về hiệu quả của các phương pháp trị liệu khác nhau.

III. Mối tương quan giữa dấu hiệu tổn thương và nhận thức sức khỏe tâm thần

Có mối tương quan chặt chẽ giữa các dấu hiệu tổn thương sức khỏe tâm thần và nhận thức về sức khỏe tâm thần của sinh viên. Sinh viên có nhận thức tốt hơn về sức khỏe tâm thần thường có khả năng nhận diện sớm các dấu hiệu bất thường trong bản thân và người khác. Tương quan giữa nhận thức và tình trạng sức khỏe tâm thần cho thấy rằng việc giáo dục và nâng cao nhận thức là yếu tố quan trọng trong phòng ngừa và can thiệp. Sinh viên hiểu biết hơn về sức khỏe tâm thần cũng có xu hướng tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn sớm hơn, góp phần cải thiện kết quả điều trị.

3.1. Mối liên hệ giữa nhận thức và tình trạng cảm xúc

Sinh viên có nhận thức tốt về sức khỏe tâm thần thường quản lý cảm xúc tốt hơn. Họ có khả năng nhận diện áp lực, lo âu và tìm cách xử lý hiệu quả hơn thông qua các kỹ năng tự chăm sóc.

3.2. Ảnh hưởng của nhận thức đến hành động tìm kiếm trợ giúp

Nhận thức sâu sắc về sức khỏe tâm thần khuyến khích sinh viên chủ động tìm kiếm thông tin, tham gia các hoạt động hỗ trợ tâm lý và sẵn sàng tiếp cận các dịch vụ chuyên môn.

IV. Giải pháp nâng cao sức khỏe tâm thần và nhận thức ở sinh viên

Nâng cao sức khỏe tâm thần sinh viên Hà Nội yêu cầu các can thiệp toàn diện. Các trường đại học cần phát triển các chương trình giáo dục về sức khỏe tâm thần, tổ chức các hoạt động hỗ trợ tâm lý, và nâng cao năng lực của các cán bộ hỗ trợ sinh viên. Các hình thức can thiệp trị liệu bao gồm tư vấn tâm lý, trị liệu thay đổi lối sống và can thiệp tập thể cùng là những giải pháp hiệu quả. Cần tạo môi trường khao học hỗ trợ, giảm áp lực học tập và khuyến khích sự cân bằng giữa học tập, giải trí và nghỉ ngơi.

4.1. Các hoạt động giáo dục và nâng cao nhận thức

Giáo dục sức khỏe tâm thần thông qua các buổi workshop, seminar, và chiến dịch nâng cao nhận thức là những cách hiệu quả. Cần cung cấp thông tin chính xác, dễ hiểu về các rối loạn tâm thần và phương pháp phòng ngừa.

4.2. Phát triển các dịch vụ hỗ trợ tâm lý chuyên nghiệp

Các dịch vụ trợ giúp tâm lý tại các trường đại học cần được mở rộng, cung cấp tư vấn miễn phí, khám sàng lọc sức khỏe tâm thần định kỳ và các nhóm hỗ trợ giúp sinh viên.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

DẠI HỌC QUỐC GIA HA NOL TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LE TH] TIT HƯƠNG TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC DẦU HIỆU TON THUONG SUC KHOE TAM THAN VOI NHAN THUC VE SỨC KHOẺ TÂM THẢN CỦA SINH VIÊN TẠI HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC TÂM LÝ HỌC HA NOI - 2017 BAT HOC QUOC GIA HA NOT TRUONG DAI HOC GIAO DUC LE THI TITU HƯƠNG TƯƠNG QUAN GIỮA CAC DAU HIỆU TON THUONG SUC KHOE TAM THAN VOI NHAN THUC VE SỨC KHOẺ TẦM THẢN CỦA SINH VIÊN TẠI HÀ NỌI LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên Mã số: Thí điểm Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bahr Weiss PGS.TS Đặng Hoang Minh HÀ NỘI -2017 LOLCAM ON Sau quá trình học tập tại trường Dại học Giáo dục Hà Nội, chương trình Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên và suết thời gian hoàn thành luận văn nghiên cửu với dể tải Tương quan giữa các dấu hiệu lin thương sức khoể tâm thần và nhận thức về sức khoẻ tâm thần của sinh viên tại Hà Nội, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quỷ báu, nhiệt tình của các thay cô, các anh chị và các bạn. Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bảy tỏ lòng cảm ơn chân thánh tới ban giám hiệu, các thầy, cô giảng viên, cản bộ các phòng, ban chức năng trường Đại hạc Giáo dục đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bài luận văn này. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng, biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Iloảng Minh, người dã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cũng như khuyến khích tôi trong quả trình làm luận văn. Cê đã luôn dành thời gian quỷ báu hướng dẫn, chỉ bảo và tạo điều kiện cũng như đưa ra những hướng dẫn hữu ích cho tôi trong quá hoàn thiện luận văn Cuối cùng, tôi xin gửi lời câm ơn đến các bạn sinh viên của 5 trường Đại học đã tham gia hỗ trợ cho tôi trong thời gian nghiên cứu, trưởng Đại học khoa học xã hội và nhân văn, trường Dại học kiến trúc, trưởng Dại học Y tế công cộng, trường Dại học Lao động xã hội và trường Dại học Kinh tế quốc dân.

Nếu không có sự tham gia của các bạn rong nghiên cửu có lễ tôi đã không thể hoàn thành luận văn này. Luan vin nay là một bước ngoặt đánh đấu sự cố gắng nghiêm túc của tôi trong quá trình học tập, đánh đấu bước chuyển tiếp trên con đường học vin của tôi, do đó sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi chân thành mong nhận dược những ý kiến dong góp, bố sung của quý thầy cô và bạn bè "Tôi xm chân thành cảm ơn! Tả Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2017 3. Niễm tin về mức độ hữu ích của các hình thức can thiệp trị liệu.

Tương quan giữa hiểu biết về SK'TT với niềm tìn về mức độ hữu ích của các hình thức can thiệp trị liệu „68 3. Tương quan giữa nhận thức vả tỉnh trạng SKTT của sinh viên 67 KET LUAN VA KHUYEN NGHI 1. - - 72 TÀI LIỆU THAM KHÁO. PHỤ LỤC iv DANII MUC CAC BANG VA ITNII MINIITIOA Bang 1.

TY 1é cdc vấn để sức khoẻ Lâm thần trên thể giới. 1 Phân bố mẫu tham gia nghiên cửu theo các trường Dại học 36 Bang 2. 2 Dé tin cậy của cdc item niém tin về các hình thức trị liệu. Tinh trang SKTT ciia sinh viên 45 Bang 3.

2 Các vấn để liên quan tới cảm xúc ở sinh viên. 3 Cac vấn để liên quan tới hành vị ở sinh viên. 4 Các vấn dễ liên quan tới bạn bẻ 48 Bang 3. 5 Các vấn để liền quan tới xã hội tích cực 49 Bang 3.

6 Các vẫn dễ liên quan tới tăng đồng 50 Bảng 3. 7 Nhân thức về SK cla sinh viên 51 Bang 3. 8 Mic d6 nan biél chung các rỗi loạn Lâm thần 51 Băng 3. 9 Mức độ nhận biết từng rồi loạn tâm thần cụ thể 52 Bang 3.

10 Mic dé tyr tin voi viéc tim kiém thong tin bénh tim thin 53 Đăng 3. 11 Mức độ tự tin với việc tiếp cận các nguồn thong tin cu thé 54 Bảng 3. 12 Mức đô đồng ý đối với các nhân định về bệnh tâm thần 55 Bảng 3. 13 Mức độ sẵn sảng trong các tình huống giao tiếp với người bệnh.

lâm thần # Bảng 3. 14 Mức độ sẵn sảng trong các tình huồng giao tiếp cụ thể với người bệnh tâm thần s7 Đảng 3. Mức độ tương quan giữa các nhóm yếu tổ nhận thức về SKTT 59 Bảng 3. Mức độ hữu ích của hình thức trị liệu lối sống 61 Đăng3.

Mức độ hữu ích của các hình thức trị hệu tâm lý 62 Bang 3. Mức độ hữu ích của hình thức can thiệp trị liêu sử dụng thuốc 63 Bang 3. Mức độ hữu ích với các nguồn thông tin về trị liệu 64 Đáng 3. Tương quan giữa nhận thức về SKTT đã Bảng 3.

Tương quan giữa các tiểu thang do hiểu biết về SKTT 67 Bang 3. Tương quan giữa nhận thức, niềm lin 67 MODAU 1. Ly do chon dé tai Các vấn đề liên quan tới sức khoẻ tâm thần (SKFT) ở trẻ em, vị thành niên và thanh niên đang có chiều hướng gia tăng. Ở Iloa Ky, các vấn đề SKTT ở trẻ cm và thanh niên khả phổ biến.

Theo báo cáo vào ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Trung tâm Kiểm Soát vả phòng ngừa bệnh Hoa Kỳ (CC) với các kết quả thu thập từ các nghiên cứu từ năm 2005 - 2013, ước tính có 13 — 20% trẻ ơm sống tại Hoa Kỷ trải qua rỗi loạn tâm thần trong một năm nhất định nghĩa là cử 5 trể em thì có 1 trễ có vấn để liên quan téi SKTT [37]. Cũng theo CDC, tự tử có thể lả kết quả cúa sự tương tác giữa rỗi loạn tâm thần (RLTT) và các yếu tố khác, là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở thanh thiếu niên tuổi từ 12 đến 17 trong năm 2010. Tại Việt Nam, trong báo cáo về SKTT của thanh niên va vi thành niên đựa trên kết quả điều tra quốc pia về vị thành nién vả thanh niên Việt Nam (SAVY) 2009 tác giả Nguyễn Thanh Hương đã chỉ ra trong hơn 10,000 thanh thiếu niên thì có 73,1% có trải nghiêm buồn chán và võ ích tới mức không thể làm việc hay học tập bình thường, Tỷ lệ thanh thiếu niên dã cam thay hoàn toàn vô vọng về tương lai là 21,3% và 4,1% đã nghĩ đến việc tự sát. 8o sánh với số liệu của cuộc điều tra 5 năm trước đó thì tỷ lệ thanh thiếu niên trải qua cảm giác buồn chán đã tăng lên.

tỷ lê thanh thiểu niên. nghĩ đến chuyện tự tử tăng lên khoảng 30% [23] Các vẫn để SKTT ở thanh thiểu niên, nếu không được chăm sóc và chữa trị phù hợp luôn dẫn tới các hậu quả tiêu cực trong tương lai. Khoảng 70%- 75% các vấn đề SKTT ở người lớn và các rỗi loạn tâm than bal đầu biểu hiện trong thời thanh thiếu niên hoặc ở tuổi trưởng thành sớm (12-25). lrên toản thé giới, các rối loạn tâm thần chiếm khoảng 1⁄3 gánh nặng bệnh tật ở thanh.

thiếu niên Cuộc Điều tra Quốc giá Úc năm 2007 về Sức khoẻ Tâm thần và Tình trạng Sức khoẻ Tâm thần ước tính rằng các rối loạn về tâm thần hoặc sử dụng chất gây nghiện ánh hưởng đến một trong bến người trong độ tuổi từ 16 đến 24 trong khoảng thời gian 12 tháng. Do đỏ, độ tuổi mà khoảng 50% thanh thiếu niên đang học đại học cũng là thời điểm bắt đầu xuất hiện đỉnh điểm đối với các vẫn dé về sức khoẻ (âm thần, với rối loạn tâm thần và sử dụng chất gây nghiện xây ra lần đầu tiên trước 24 tuối ở 75% trường hợp [25]. Mặc dù nhiều sinh viên thích ứng và đối phó tốt với quá trình chuyển đổi sang giáo dục đại học, nhưng đối với những người khác, nó không dé dàng, hầu hết là do các nhu câu cạnh tranh về công việc, học tập và gia đình. Một nghiên cứu của Úc năm 2010 về mứo độ đau khổ của 955 sinh viễn đại học cho thấy rằng 48% bị căng thẳng về tâm lý.

Gần 119% đã được điều trị cho một vẫn để về sức khoẻ tâm thần. Các vấn dé về sức khoẻ tâm thần đã ảnh hưởng đến hiệu suất của kỳ thi và tý lệ học sinh bó học đại học, với khoảng 86% những người bị rỗi loạn tâm. thần rút khỏi trường đại học trước khi hoàn thành. Stallnan nhận thấy rằng, các sinh viên Úc có mức độ đau khế rất cao, trung binh không thể làm việc hoặc học tập trong 8 ngảy trong vỏng 4 tuần trước đỏ và đã có 9 ngày giấm khả năng làm việc [25].

Các tác động giáo dục như vậy có thể có hậu quả suốt đời, đặc biệt nếu sinh viên không thể hoàn thành các môn học của mình. Không những vậy, các tác động đó còn kéo theo các vấn dễ tệ nạn xã hội cũng như các ganh nặng cho xã hội. Giống như tt cả các bạn trễ, sinh viên đại học cần có kiến thức hành động để giải quyết các vấn đề về sức khoẻ tâm thần, cho đủ đó là tìm kiểm trợ giúp chuyên nghiệp hoặc các hành vi tự giúp mỉnh thích hợp. Một số biểu hiện rỗi loạn sức khoẻ tâm thân thường thấy ở sinh viên như tỉnh trạng thường xuyên nhức đầu đo thiếu ngũ, lo lắng thái quá, không kiểm.

soát được cảm xúc của bản thân nên dễ rơi vào tình trạng buồn bã, dé kích động, Lâm trạng bất an, lo lắng khi gặp bất cứ vẫn đề gì trong cuộc sống, tình trang căng thẳng kéo đài vỉ những áp lực từ việc học hành, bạn bẻ, gia đình, vxv [2]. Nhung trên thực tế, nhiều sinh viên khi có những biểu hiện nay lại không nghĩ rằng dỏ chính là những biểu hiện của rỗi loạn sức khoế tâm thần Chính nhận thức sai lim đó đã khiến sinh viên không nhìn nhận đúng tỉnh trạng SKTT của bản thân và coi thường các biểu hiện của sự rối loạn SKTT, Việc cho rằng những tổn thương về S§KTT lả dảnh cho những người bị trầm vở niên đang học đại học cũng là thời điểm bắt đầu xuất hiện đỉnh điểm đối với các vẫn dé về sức khoẻ (âm thần, với rối loạn tâm thần và sử dụng chất gây nghiện xây ra lần đầu tiên trước 24 tuối ở 75% trường hợp [25]. Mặc dù nhiều sinh viên thích ứng và đối phó tốt với quá trình chuyển đổi sang giáo dục đại học, nhưng đối với những người khác, nó không dé dàng, hầu hết là do các nhu câu cạnh tranh về công việc, học tập và gia đình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ