Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh với tiêu đề "Các phái bộ Anh đến Việt Nam trong bối cảnh xâm nhập của Anh vào Đông Á (thế kỷ XVII – nửa đầu thế kỷ XIX)" (chuyên ngành Lịch sử thế giới cận đại và hiện đại, mã số: 62 22 50 05, bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội) tập trung khảo cứu toàn diện tiến trình tiếp xúc, thương mại và ngoại giao giữa nước Anh và Việt Nam trong gần ba thế kỷ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Về tính cấp thiết, sự kiện lịch sử năm 1883 khi triều đình Huế ký kết Hiệp ước Harmand xác lập quyền bảo hộ của thực dân Pháp đối với Việt Nam đã dẫn đến một thực tế học thuật: phần lớn các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước tập trung vào quan hệ Việt – Pháp, từ đó tạo ra một khoảng trống nghiên cứu đáng kể đối với mối quan hệ giữa Anh và Việt Nam từ khởi nguồn. Mặc dù Công ty Đông Ấn Anh (EIC) được thành lập từ năm 1600 và là một trong những lực lượng phương Tây hiện diện sớm tại khu vực, nhưng tiến trình tiếp xúc giữa Anh và Việt Nam chưa được đặt một cách hệ thống trong tổng thể chiến lược bành trướng của Anh tại Đông Á. Quá trình EIC cử các phái bộ sang Đại Việt trải dài qua hai làn sóng xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây (làn sóng thứ nhất là thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh kéo dài đến năm 1799; làn sóng thứ hai là thời kỳ chủ nghĩa thực dân phương Tây từ năm 1799 đến đầu thế kỷ XX). Do đó, việc nghiên cứu các phái bộ Anh đến Việt Nam đặt trong bối cảnh khu vực mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn để nhận diện cách thức tiếp cận, nguyên nhân thất bại và sự chuyển hướng của nước Anh sang các thị trường khác.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận án là làm rõ mục tiêu, quá trình xâm nhập, nội dung, sự chuyển biến và hệ quả nhiều mặt của mối quan hệ Anh – Việt Nam từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX; phân tích những điểm tương đồng và dị biệt của tiến trình này trong tương quan so sánh với một số quốc gia khác ở Đông Á, cũng như thế ứng đối của Việt Nam trước sự xâm nhập của Anh và các cường quốc phương Tây.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định 5 câu hỏi/nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân tại sao Anh lại tìm đến Việt Nam, mức độ của những nỗ lực mà EIC đạt tới nhằm khai thông con đường buôn bán với Việt Nam cũng như nhiều quốc gia Đông Á trong "Thời đại thương mại châu Á".
  2. Thứ hai, nghiên cứu làm rõ người Anh đã đến Việt Nam như thế nào, từ đó hướng đến một nhận thức khách quan, toàn diện về cách thức và đặc điểm của quá trình xâm nhập của Anh vào Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử trong tương quan so sánh với các cường quốc phương Tây khác khi xâm nhập vào Đông Á.
  3. Thứ ba, nghiên cứu chỉ ra kết quả của các phái bộ Anh tới Việt Nam, qua đó góp phần giải đáp câu hỏi vì sao và trong bối cảnh nào mà Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp mà không phải của Anh, trong khi Anh là nước đến trước, là cường quốc thương mại và thực dân có tiềm năng, thực lực lớn hơn Pháp.
  4. Thứ tư, trên phương diện kinh tế, nghiên cứu hướng đến việc nhìn nhận, đánh giá khách quan về vai trò của nhân tố thương mại phương Tây tác động đến sự chuyển biến của kinh tế, xã hội Việt Nam.
  5. Thứ năm, nghiên cứu tổng kết bài học kinh nghiệm từ lịch sử quan hệ Anh – Việt Nam thế kỷ XVII – XIX nhằm góp phần tạo dựng cơ sở lý luận, khoa học cho việc xây dựng chủ trương, chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại của Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các phái bộ Anh đến Việt Nam từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, bao gồm mục tiêu, nội dung, sự chuyển biến và hệ quả của mối quan hệ này.
  • Phạm vi thời gian: Từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, tương ứng với các chuyến đi thực tế của các phái bộ Anh.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào các thực thể chính trị tại Việt Nam qua các thời kỳ gồm Đàng Ngoài, Đàng Trong (thế kỷ XVII – XVIII) và Việt Nam thống nhất thời Nguyễn (thế kỷ XIX), đặt trong không gian khu vực Đông Á bao gồm cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á (Indonesia, Mã Lai, Xiêm, Miến Điện, Cao Miên, Singapore, Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản).
  • Quy ước thuật ngữ: Thuật ngữ "Anh" (Kingdom of England) chỉ nước Anh với thủ đô London (phân biệt với Great Britain thành lập năm 1707 và The United Kingdom thành lập năm 1801); tên gọi Việt Nam được dùng tương ứng với các danh xưng lịch sử (Đại Việt, Đàng Ngoài/Đông Kinh, Đàng Trong/Cochinchina/Nam Hà/An Nam, và Việt Nam từ năm 1804 hay Đại Nam); thuật ngữ "Biển Đông" chỉ vùng biển Đông Nam Á gắn với không gian kinh tế và chủ quyền biển đảo truyền thống của Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã tiến hành khảo sát và phân loại các công trình nghiên cứu trước đây thành hai nhóm lớn:

Tình hình nghiên cứu trong nước

Về nguồn tư liệu chính sử: Các bộ chính sử phong kiến ghi nhận hoạt động ngoại giao và ngoại thương với phương Tây gồm Đại Việt sử ký toàn thư (1993), các bộ sử triều Nguyễn do Quốc sử quán và Nội các biên soạn như Đại Nam thực lục (Tiền biên và Chính biên), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1993), Minh Mệnh chính yếu (2011). Ngoài ra còn có tập sách Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII (tập 1) của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và công trình địa chí Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776) ghi chép về thể lệ thuế khóa thuyền buôn phương Tây tại Thuận Quảng.

Về các công trình nghiên cứu:

  • Các nghiên cứu thông sử và khu vực: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (tập 3, 1960), Tiến trình lịch sử Việt Nam (Nguyễn Quang Ngọc chủ biên, 2003), Lịch sử vương quốc Thái Lan (Vũ Dương Ninh, 1994), Lịch sử Đông Nam Á (Lương Ninh, Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vinh, 2005), Lịch sử Đông Nam Á (tập IV, Trần Khánh chủ biên, 2012), Việt Nam trong thế giới Đông Á - Một cách tiếp cận Liên ngành và Khu vực học (Nguyễn Văn Kim, 2011).
  • Các chuyên khảo về thương mại và cảng thị: Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX (Thành Thế Vỹ, 1961), Phố Cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII, XVIII (Đỗ Bang, 1996), luận án Hệ thống cảng thị trên sông Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII (Đỗ Thị Thùy Lan, 2012).
  • Các chuyên khảo về EIC: Luận án tiến sĩ Quá trình xâm nhập Đông Nam Á của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX (Lê Thanh Thủy, 2009), công trình Công ty Đông Ấn Anh: Quá trình hình thành và xâm nhập Đông Nam Á thế kỷ XVII (Hoàng Anh Tuấn, 2012), và bộ tư liệu lưu trữ Tư liệu các Công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh về Kẻ Chợ - Đàng Ngoài thế kỷ XVII (Hoàng Anh Tuấn, 2010).
  • Các bài báo chuyên ngành: Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2005), Hoàng Anh Tuấn (2010), Nguyễn Văn Kim (2007, 2010), Momoki Shiro (1992), Nguyen Thi Ha Thanh.

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Về du ký, hồi ký và nhật ký phái bộ: Các tài liệu của giáo sĩ và thương nhân phương Tây như Cristoforo Borri (1621), Alexandre de Rhodes (1627-1646), Jean-Baptiste Tavernier (2005), William Dampier (1688), John Barrow (1792-1793), George Finlayson (1826). Các báo cáo và nhật ký của trưởng phái bộ: Bowyear (1695), Chapman (1778), Macartney (1792-1793), John Crawfurd (1821-1822).

Về các công trình nghiên cứu:

  • Nghiên cứu về EIC và đế chế Anh: Các bài viết của C. Mác về Công ty Đông Ấn; John Keay (1991), Philip Lawson (1993), William Wilson Hunter (1899), Edward Thornton (1988), Edward Thompson và G. Garratt (1999), Anthony Farrington (2002).
  • Nghiên cứu về quan hệ Anh tại Đông Á: K. Panikkar (1994), John Anderson (1890), D.G.E. Hall (1997), H.B. Morse (1926).
  • Chuyên khảo trực tiếp về quan hệ Anh – Việt Nam: Charles Maybon với Những người châu Âu ở nước An Nam (2006) và nghiên cứu về thương điếm Anh ở Đàng Ngoài; Alastair Lamb (1970) với tác phẩm The Mandarin Road to Old Hue – công trình chuyên sâu đầu tiên hệ thống hóa các phái bộ Anh đến Việt Nam; Anthony Farrington (1994, 2000) với các tài liệu lưu trữ của EIC liên quan đến Phố Hiến và Đàng Ngoài.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu đi trước chủ yếu dừng lại ở việc xem xét từng giai đoạn đơn lẻ (đặc biệt là hoạt động của thương điếm Đàng Ngoài thế kỷ XVII) hoặc khảo sát riêng rẽ từng chuyến đi của các phái bộ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: hệ thống hóa toàn bộ các phái bộ Anh đến Việt Nam từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, đặt mối quan hệ song phương này trong mối liên hệ hữu cơ với chiến lược ba giai đoạn của EIC tại Đông Á và thế ứng đối của các chính quyền phong kiến Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết tích lũy nguyên thủy tư bản và chủ nghĩa trọng thương: Luận án vận dụng quan điểm của C. Mác về sự ra đời và vai trò của các công ty đặc quyền thương mại phương Tây như một công cụ đòn bẩy tích tụ tư bản, chinh phục và mở rộng thị trường hải ngoại.
  • Khung phân kỳ chiến lược bành trướng của EIC tại Đông Á: Quá trình 258 năm hoạt động của EIC (1600–1858) được phân tích theo 3 giai đoạn:
    1. Thời kỳ thăm dò (1602 – thập niên 1660): Khởi đầu từ Bantam (1603), Surat (1612), lập các trạm thương mại tại Patani, Ayutthaya và Hirado (Nhật Bản, 1613), chịu cạnh tranh từ Hà Lan (thảm họa Amboyna 1623) và thu hẹp về Ấn Độ.
    2. Chiến lược bành trướng thương mại (giữa thập niên 1660 – cuối thế kỷ XVIII): Khởi đầu bằng Kế hoạch Đông Á năm 1668 lấy Nhật Bản làm trọng tâm, mở rộng sang Đàng Ngoài, Đài Loan, tiếp cận thị trường Mãn Thanh và thiết lập cứ điểm tại Ấn Độ sau năm 1757.
    3. Chiến lược thuộc địa (cuối thế kỷ XVIII – giữa thế kỷ XIX): Dưới tác động của Cách mạng công nghiệp, chuyển từ hoạt động thương mại sang chiếm đóng lãnh thổ (Penang 1786, Singapore 1819, Malacca 1824, can thiệp vào Miến Điện qua Hiệp ước Yandabo 1826 và Trung Quốc qua Chiến tranh thuốc phiện).
  • Khung phân tích địa - kinh tế và địa - chính trị Đông Á: Vận dụng quan niệm khu vực học của John Ravenhill và Hoàng Khắc Nam xác định Đông Á gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á; tiếp cận khái niệm "Thời đại thương mại châu Á" của Anthony Reid để định vị tuyến hàng hải quốc tế chạy qua Biển Đông.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử (lịch đại và đồng đại): Tái hiện diễn trình các phái bộ theo trật tự biên niên, đồng thời đối chiếu các sự kiện tại Việt Nam với các diễn biến tại Anh, châu Âu và khu vực Đông Á cùng thời điểm.
  • Phương pháp so sánh lịch sử: So sánh chính sách, phương thức xâm nhập của Anh với các cường quốc phương Tây khác (đặc biệt là Hà Lan trong thế kỷ XVII và Pháp trong thế kỷ XVIII–XIX); so sánh phản ứng và vị trí của thị trường Việt Nam với Xiêm, Miến Điện, Trung Quốc và Nhật Bản.
  • Phương pháp cấu trúc hệ thống: Xem xét các hoạt động của Anh tại Việt Nam như một tiểu hệ thống chịu sự chi phối bởi hệ thống mục tiêu chiến lược của EIC tại Viễn Đông và Ấn Độ.
  • Phương pháp phân tích văn bản và thống kê lịch sử: Khảo cứu văn bản pháp luật, nhật ký hành trình, sổ sách thương mại (Journal Registers) để thống kê cơ cấu hàng hóa, tàu thuyền và phương thức giao dịch.

Nguồn tư liệu sử dụng

Luận án dựa trên hai khối ngữ liệu chính bằng tiếng Việt và tiếng Anh:

  1. Nguồn tư liệu gốc tiếng Việt: Các bộ chính sử triều Lê và triều Nguyễn (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Minh Mệnh chính yếu), các văn bản điển chế pháp luật, và Phủ biên tạp lục.
  2. Nguồn tư liệu gốc tiếng Anh: Hồ sơ lưu trữ của EIC tại Thư viện Anh (khối tài liệu viết tay gồm 1005 trang về Kẻ Chợ - Đàng Ngoài nửa cuối thế kỷ XVII), các tập nhật ký và báo cáo của các phái bộ (báo cáo của Chapman năm 1778, nhật ký của Macartney năm 1792-1793, hồi ký và tài liệu ngoại giao của John Crawfurd năm 1821-1822, ghi chép của George Finlayson năm 1826).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các nguồn sử liệu chính sử Việt Nam, tài liệu lưu trữ của EIC, hồi ký, du ký phương Tây và các công trình nghiên cứu hiện đại liên quan đến chủ đề. Tác giả phân tích điểm mạnh của khối tư liệu viết tay 1005 trang của EIC về Kẻ Chợ nửa cuối thế kỷ XVII do Hoàng Anh Tuấn công bố, chỉ ra tính chất hạn chế của nguồn tài liệu thế kỷ XVIII–XIX tại Việt Nam. Tác giả khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng một công trình nghiên cứu có tính liên kết hệ thống, khắc phục việc phân tán tư liệu nhằm giải thích căn nguyên lịch sử của sự hiện diện cũng như rút lui của người Anh tại Việt Nam.

Chương 2: Những nhân tố thúc đẩy Anh đến Việt Nam

Chương này tập trung lý giải các động lực nội tại và ngoại sinh thúc đẩy nước Anh vươn tới thị trường Việt Nam:

  • Biến chuyển tại châu Âu và nước Anh: Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thương nghiệp, quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản và sự chuyển dịch trọng tâm kinh tế từ Địa Trung Hải sang các quốc gia Đại Tây Dương. Nước Anh thành lập EIC năm 1600 nhằm cạnh tranh trực tiếp với Bồ Đào Nha và Hà Lan.
  • Bối cảnh Đông Á và quá trình thâm nhập của EIC: Đông Á giữ vai trò cung cấp hương liệu, tơ lụa, gốm sứ và chè. EIC triển khai mạng lưới thương mại qua ba giai đoạn chiến lược (thăm dò, bành trướng, thuộc địa), coi Đông Nam Á là trạm trung chuyển huyết mạch nối liền Ấn Độ với thị trường Trung Quốc.
  • Vị trí địa lý và tình hình kinh tế - chính trị Việt Nam: Việt Nam nằm tại giao điểm của hai tuyến mậu dịch biển huyết mạch: tuyến Bắc – Nam (nối Nhật Bản, Trung Quốc với Đông Nam Á) và tuyến Tây – Đông (từ Ấn Độ qua eo Malacca sang Viễn Đông). Về chính trị, cục diện phân tranh Trịnh – Nguyễn thúc đẩy cả hai chính quyền Đàng Ngoài và Đàng Trong mở cửa ngoại thương nhằm tìm kiếm nguồn cung cấp vũ khí, đạn dược, kim loại và hàng xa xỉ phẩm. Về kinh tế, thế kỷ XVII chứng kiến sự hưng thịnh của kinh tế hàng hóa, sự ra đời của các làng nghề thủ công và sự phát triển của hệ thống cảng thị (Kẻ Chợ, Phố Hiến ở phía Bắc; Hội An, Thanh Hà ở phía Nam).

Chương 3: Các phái bộ Anh đến Việt Nam thế kỷ XVII – nửa đầu thế kỷ XVIII

Chương 3 tái hiện các nỗ lực thiết lập trạm buôn bán đầu tiên của người Anh:

  • Những nỗ lực đầu thế kỷ XVII: Các chuyến đi riêng lẻ của thuyền buôn Anh nhằm tiếp cận vùng biển Đàng Trong và Đàng Ngoài nhưng không mang lại kết quả bền vững do sự cạnh tranh áp đảo từ phía VOC của Hà Lan và sự đóng cửa của các thương điếm Hirado, Ayutthaya năm 1623.
  • Thương điếm Anh ở Đàng Ngoài (1672 – 1697): Hoạt động thương điếm gắn liền với Kế hoạch Đông Á năm 1668 của EIC. Năm 1672, tàu Zant đưa phái bộ Anh đến thiết lập thương điếm tại Hiến Nam (Phố Hiến), sau đó dời lên Kẻ Chợ. Trải qua 25 năm hoạt động, thương điếm gặp nhiều khó khăn: sự cạnh tranh gay gắt của Hà Lan, sự kiểm soát ngặt nghèo và tệ nạn sách nhiễu của quan lại Lê – Trịnh, sự đổ vỡ của tuyến thương mại trung gian với Nhật Bản. Năm 1697, EIC chính thức đóng cửa thương điếm Đàng Ngoài.
  • Phái bộ Bowyear đến Đàng Trong (1695): EIC cử Bowyear đến tiếp kiến chúa Nguyễn tại Thuận Quảng nhằm khảo sát khả năng thiết lập quan hệ thương mại chính thức. Chuyến đi đạt được một số thỏa thuận sơ bộ về quyền buôn bán nhưng EIC không thành lập được thương điếm cố định.
  • Sự kiện Côn Đảo (Poulo Condore) (1702 – 1705): EIC thiết lập một căn cứ quân sự và thương mại kiên cố trên đảo Poulo Condore do Allen Catchpole chỉ huy nhằm kiểm soát tuyến hàng hải giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Căn cứ này chấm dứt tồn tại vào năm 1705 sau cuộc nổi dậy tiêu diệt toàn bộ chỉ huy người Anh của nhóm lính đánh thuê Macassar.

Chương 4: Các phái bộ Anh đến Việt Nam nửa sau thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX

Chương 4 phân tích sự dịch chuyển từ tiếp xúc thương mại đơn thuần sang các phái bộ ngoại giao mang tính chất chính trị và trinh sát thuộc địa:

Phái bộ (Năm) Trưởng đoàn Mục đích chính của EIC / Chính phủ Anh Địa bàn tiếp xúc Kết quả thực tế
Chapman (1778) Charles Chapman Khảo sát tình hình nội chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh; tìm kiếm cơ sở nhượng địa và buôn bán Quy Nhơn, Gia Định, Đà Nẵng Thất bại do chiến sự phức tạp; Chapman khuyến nghị can thiệp quân sự nhưng không được phê chuẩn
Macartney (1792–1793) Lord George Macartney Ghé Đà Nẵng trên đường đi sứ Trung Quốc; khảo sát tài nguyên và vị trí chiến lược của Nam Hà Vũng Hàn (Đà Nẵng) Thu thập tin tức tình báo; John Barrow viết khảo sát đề xuất chiếm cứ Đà Nẵng
Roberts (1804) J. W. Roberts Chúc mừng Gia Long lên ngôi; đề nghị mở quan hệ bang giao và nhượng cảng Trà Sơn Huế Triều đình Gia Long khéo léo từ chối mọi yêu cầu thiết lập cơ sở thương mại ngoại bang
John Crawfurd (1822) John Crawfurd Do Toàn quyền Ấn Độ phái đến nhằm ký kết điều ước thương mại chính thức Đà Nẵng, Huế Vua Minh Mệnh cự tuyệt tiếp kiến do vấn đề nghi thức thư tín; chỉ cho phép buôn bán theo lệ thường
Davis (1847) John Francis Davis Đại diện chính phủ Anh đến yêu cầu tự do thông thương sau Chiến tranh thuốc phiện Vùng biển Đà Nẵng Triều đình nhà Nguyễn kiên quyết từ chối tiếp nhận quốc thư
Wade (1855) Thomas Wade Thăm dò phản ứng ngoại giao và yêu cầu mở cửa thị trường Vùng biển miền Trung Tiếp tục bị cự tuyệt; triều đình giữ vững chính sách bế quan tỏa cảng

Chương 4 cho thấy các phái bộ nửa đầu thế kỷ XIX liên tục vấp phải rào cản từ cấu trúc nhà nước quân chủ trung ương tập quyền cao độ của triều Nguyễn, dẫn đến sự bế tắc trong quan hệ bang giao chính thức.

Chương 5: Một số nhận xét về sự xâm nhập của Anh ở Việt Nam

Chương 5 đúc kết các đặc điểm, phương thức và tác động của quá trình thâm nhập:

  • Phương thức xâm nhập: Có sự chuyển biến rõ nét từ con đường thông thương trực tiếp thông qua thuyền buôn và thương nhân (thế kỷ XVII) sang nỗ lực khai thông bang giao ngoại giao chính thức cấp chính phủ (thế kỷ XVIII–XIX).
  • Cơ cấu hàng hóa và phương thức buôn bán: Phía Anh đưa vào Việt Nam vải len dạ, kim loại (chì, sắt), súng đạn, thuốc súng và bạc mặt; mua ra tơ tằm, hồ tiêu, đường, quế, trầm hương và xạ hương. Phương thức giao dịch chủ yếu là ứng vốn trước cho mạng lưới thương nhân bản địa hoặc quan chức để thu gom hàng hóa.
  • Đặc điểm của quá trình xâm nhập: Diễn ra không liên tục, mang tính thăm dò ngắt quãng; mục tiêu của EIC đối với Việt Nam luôn phụ thuộc và phục vụ cho lợi ích cốt lõi tại thị trường Ấn Độ và Trung Quốc; EIC chủ động rút lui khi chi phí duy trì cơ sở thương mại tại Việt Nam vượt quá lợi nhuận tiềm năng.
  • Tác động đối với Việt Nam: Mối quan hệ với Anh góp phần kích thích sản xuất một số mặt hàng thủ công nghiệp (tơ lụa) và ngoại thương cảng thị thế kỷ XVII, nhưng nhìn chung chưa đủ quy mô để làm thay đổi cấu trúc kinh tế nông nghiệp tự nhiên truyền thống.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình chuyên khảo lịch sử đầu tiên tại Việt Nam phục dựng có hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sử các phái bộ Anh đến Việt Nam từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX dựa trên việc xâu chuỗi các nguồn tư liệu gốc của phương Tây và chính sử Việt Nam.
  • Luận giải cơ chế vận hành của EIC tại Viễn Đông: Chứng minh rằng việc EIC mở hay đóng các cơ sở thương mại tại Việt Nam không thuần túy xuất phát từ quan hệ song phương, mà nằm trong việc điều chỉnh chiến lược mạng lưới thương mại nội Á (Inter-Asian Trade). Khi kế hoạch thương mại tam giác Anh – Đàng Ngoài – Nhật Bản sụp đổ do chính sách bế quan của Mạc phủ Tokugawa và sự đóng cửa của Hirado, thương điếm Đàng Ngoài lập tức mất đi vai trò mắt xích chiến lược.
  • Giải đáp nguyên nhân Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp mà không phải của Anh: Luận án chỉ ra rằng Anh không chọn chiếm đóng Việt Nam vì nước này đã làm chủ các vị trí yết hầu hàng hải khống chế Biển Đông (Penang 1786, Singapore 1819, Malacca 1824, Hồng Kông 1842) và tập trung tài lực tối đa cho thị trường Ấn Độ và Trung Quốc. Thị trường Việt Nam dưới thời Nguyễn có dung lượng nhỏ, sức mua thấp, chính sách kiểm soát khắt khe không mang lại lợi ích thương mại tương xứng với chi phí quân sự. Nước Anh chấp nhận nhường lại địa bàn Đông Dương cho Pháp nhằm tránh xung đột quyền lực trực tiếp giữa hai đế quốc tại châu Á.

Kiến nghị và bài học thực tiễn

  • Từ bài học lịch sử về chính sách ngoại thương và thế ứng đối của các chính quyền Lê – Trịnh, chúa Nguyễn và triều Nguyễn, luận án chỉ ra tầm quan trọng của việc chủ động nắm bắt xu thế chuyển dịch kinh tế khu vực và quốc tế.
  • Việc đóng cửa ngoại thương và áp dụng các quy chuẩn nghi lễ cứng nhắc thời Minh Mệnh – Thiệu Trị đã làm mất đi cơ hội bang giao hòa bình và tiếp cận các thành tựu khoa học kỹ thuật phương Tây, đẩy đất nước vào thế bị động khi chủ nghĩa thực dân bành trướng. Đây là cơ sở thực tiễn để tham khảo cho việc xây dựng chính sách kinh tế đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về nguồn tư liệu: Tác giả thừa nhận khối tài liệu lưu trữ viết tay của EIC tại Thư viện Anh mới chỉ được tiếp cận và khai thác trực tiếp, triệt để ở giai đoạn thế kỷ XVII (khoảng 1005 trang tư liệu). Khối tư liệu liên quan đến các phái bộ Anh thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX tại các kho lưu trữ ở London chưa có điều kiện khai thác toàn diện trực tiếp mà phải dựa một phần vào tài liệu tổng hợp của Alastair Lamb và nhật ký của các thành viên phái bộ.
  • Hạn chế từ nguồn sử liệu trong nước: Chính sử triều Nguyễn thiếu vắng ghi chép về một số phái bộ Anh xuất hiện trong giai đoạn chiến tranh phức tạp cuối thế kỷ XVIII (như phái bộ Chapman năm 1778 hay việc dừng chân của Macartney năm 1792–1793).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục khảo cứu trực tiếp các hồ sơ lưu trữ ngoại giao và hàng hải của chính phủ Anh và EIC giai đoạn 1750–1860; mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu đa phương giữa tài liệu lưu trữ của Anh với tài liệu lưu trữ của Pháp (CIO) và Hà Lan (VOC) về cùng một giai đoạn lịch sử tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Công trình cung cấp hệ thống sự kiện, niên biểu, nhân vật và bảng danh mục tài liệu lưu trữ phong phú về lịch sử bang giao Việt – Anh, lịch sử ngoại thương thời trung – cận đại, lịch sử các công ty Đông Ấn phương Tây và lịch sử khu vực Đông Nam Á.
  • Đối với giới nghiên cứu lịch sử kinh tế và ngoại giao: Luận án cung cấp dữ liệu thực chứng về phương thức giao thương, cơ cấu hàng hóa, tiền tệ và các văn bản điều ước, đơn xin mở thương điếm của thương nhân Anh thế kỷ XVII–XVIII.
  • Đối với người làm công tác hoạch định chính sách đối ngoại: Cung cấp góc nhìn địa – chiến lược về vị trí của Biển Đông và Việt Nam trong tương quan cạnh tranh giữa các cường quốc hàng hải, mang lại những phân tích lịch sử có giá trị cho chính sách ngoại giao đa phương hóa hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Quá trình xâm nhập Đông Á của Công ty Đông Ấn Anh (EIC) được chia làm mấy giai đoạn chiến lược?

Theo phân tích của luận án, quá trình hoạt động kéo dài 258 năm (1600–1858) của EIC tại Đông Á được chia thành 3 giai đoạn:

  1. Thời kỳ thăm dò (1602 – thập niên 1660): Thiết lập cơ sở tại Bantam, Surat, Hirado, Ayutthaya; chịu tổn thất sau thảm họa Amboyna (1623) và tạm thời rút về củng cố thị trường Ấn Độ.
  2. Chiến lược bành trướng thương mại (giữa thập niên 1660 – cuối thế kỷ XVIII): Mở Kế hoạch Đông Á năm 1668, lập thương điếm Đàng Ngoài, Đài Loan, mở rộng sang Mãn Thanh.
  3. Chiến lược thuộc địa (cuối thế kỷ XVIII – giữa thế kỷ XIX): Dùng áp lực quân sự và hiệp ước bất bình đẳng chiếm đóng lãnh thổ (Singapore, Malacca, Miến Điện và cưỡng chế mở cửa Trung Quốc).

2. Vì sao thương điếm Anh ở Đàng Ngoài buộc phải đóng cửa vào năm 1697 sau 25 năm tồn tại?

Thương điếm Anh tại Đàng Ngoài (1672–1697) phải giải thể do 4 nguyên nhân chính:

  • Kế hoạch Đông Á của EIC bị đổ vỡ do Nhật Bản thi hành chính sách cô lập (Sakoku), làm mất đi thị trường xuất khẩu tơ tằm sinh lợi nhất.
  • Sự cạnh tranh quyết liệt từ Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) vốn đã có vị trí vững chắc tại Đàng Ngoài từ năm 1637.
  • Nền ngoại thương Đàng Ngoài chịu sự kiểm soát chặt chẽ, sách nhiễu về giá cả và quà biếu từ triều đình Lê – Trịnh.
  • Chi phí duy trì thương điếm và tiền vốn ứ đọng quá lớn trong khi lợi nhuận thực tế thu về không đạt kỳ vọng của Ban Giám đốc EIC tại London và các trị sở tại Ấn Độ.

3. Sự kiện Côn Đảo (Poulo Condore) giai đoạn 1702 – 1705 diễn ra như thế nào và có ý nghĩa gì?

Năm 1702, EIC cử Allen Catchpole đến xây dựng pháo đài và cơ sở thương mại kiên cố tại đảo Poulo Condore (Côn Đảo) nhằm kiểm soát tuyến hàng hải quốc tế giữa Ấn Độ và bờ biển Đông Á. Tuy nhiên, do chế độ đãi ngộ khắc nghiệt và mâu thuẫn kéo dài, đêm mùng 2 rạng ngày 3 tháng 3 năm 1705, lực lượng lính đánh thuê Macassar đã nổi dậy phóng hỏa đồn lũy, sát hại Allen Catchpole cùng phần lớn nhân sự người Anh, phá hủy hoàn toàn ý đồ xây dựng căn cứ kiểm soát quân sự của Anh tại vùng biển phía nam Việt Nam.

4. Vì sao nước Anh có thực lực kinh tế và hải quân vượt trội nhưng không biến Việt Nam thành thuộc địa mà nhường lại cho Pháp?

Luận án chỉ ra rằng nước Anh đã thiết lập được chuỗi căn cứ hải quân then chốt khống chế hoàn toàn tuyến giao thông huyết mạch Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương gồm Penang, Singapore, Malacca và Hồng Kông. Do đó, việc chiếm đoạt thêm Việt Nam – một thị trường có sức mua yếu, tài nguyên thời điểm đó chưa được khai thác nhiều và đang chịu sự kháng cự của triều đình phong kiến – không đem lại hiệu quả kinh tế so với chi phí bình định. Hơn nữa, việc để Pháp mở rộng ảnh hưởng tại Đông Dương giúp Anh duy trì thế cân bằng quyền lực ở châu Âu và khu vực Đông Nam Á lục địa (giữ Xiêm làm vùng đệm), bảo đảm an toàn cho các thuộc địa chủ chốt của Anh là Ấn Độ, Mã Lai và Miến Điện.

5. Phái bộ John Crawfurd năm 1822 đã gặp trở ngại căn bản nào khi tiếp xúc với triều đình Minh Mệnh?

Khi đến Huế năm 1822, John Crawfurd chỉ mang theo thư của Toàn quyền Ấn Độ (Lord Hastings) chứ không phải quốc thư trực tiếp từ Quốc vương Anh. Triều đình Minh Mệnh theo quy chuẩn lễ nghi phong kiến chỉ chấp nhận bang giao giữa các nguyên thủ quốc gia ngang hàng, do đó từ chối tiếp kiến chính thức tại hoàng cung và không chấp nhận ký kết hiệp ước thương mại cấp nhà nước. Vua Minh Mệnh chỉ cho phép tàu buôn Anh vào cảng Đà Nẵng giao thương theo quy chế ngoại thương thông thường như các quốc gia phương Tây khác.


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, tái hiện một cách hệ thống và khách quan tiến trình các phái bộ Anh đến Việt Nam từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX trong mối liên hệ mật thiết với chiến lược ba giai đoạn của Công ty Đông Ấn Anh tại Đông Á. Tác phẩm đã phân tích rõ nét cơ cấu hàng hóa, phương thức tiếp cận và những nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự triệt thoái của thế lực thương mại và thực dân Anh khỏi thị trường Việt Nam. Đồng thời, công trình giải quyết thuyết phục câu hỏi vì sao Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp thay vì của Anh, mang lại nguồn sử liệu thực chứng và bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho công tác nghiên cứu lịch sử đối ngoại và hoạch định chính sách hội nhập hiện nay.