CHƯƠNG 1 XUNG QUANH VẤN ĐỀ THỨC TỈNH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XX 1. Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội ở Nam kì thuộc địa Nếu giai đoạn 1858 đến 1900 là giai đoạn thực dân Pháp tiến hành thành công cuộc bình định nước ta thì từ 1900, chúng chuyển sang một giai đoạn mới: khai thác thuộc địa. Điều này đã làm thay đổi bộ mặt xã hội Việt Nam. Về chính trị: Cả bộ máy vua quan, hào lí từ triều đình đến địa phương biến thành tay sai cho bọn xâm lược.
Chính quyền bản xứ nằm trong tay bọn thực dân Pháp. Bộ máy cai trị được tổ chức theo lối hiện đại, chặt chẽ hơn, có quyền lực hơn và chi phối mọi mặt đời sống xã hội. Tình hình đó diễn ra trên toàn quốc. Riêng ở Nam Kì, bộ máy hành chính cũng được thiết lập từ trung ương đến địa phương.
Trong hội đồng thuộc địa có 16 thành viên, bao gồm 10 người Pháp và 6 người Việt. Nam Kì được chia làm 20 tỉnh và 2 thành phố. Đứng đầu tỉnh là công sứ người Pháp. Đứng đầu thành phố có chánh phó đốc lí với toà đốc lí và hội đồng thành phố hoặc uỷ ban thành phố.
Bộ máy chính trị thuộc Nam Kì hầu hết nằm trong tay người Pháp, còn người Việt chỉ nắm giữ những chức vụ không quan trọng. Để hoạt động một cách hiệu quả, thực dân Pháp áp dụng những chính sách mới về quân sự, giáo dục, hành chính. Chúng loại bỏ nền chính trị văn hoá Nho học ảnh hưởng từ Trung Quốc mà thay vào đó là việc biến nước ta thành một thuộc địa của chính quốc Pháp. Như vậy, Nam Kì cũng như Bắc Kì, Trung Kì đều bị đặt dưới ách thống trị của bọn thực dân Pháp.
Nhưng một điều đáng nói là trong khi Bắc Kì, Trung Kì bị áp dụng một chế độ cai trị hà khắc, nghiệt ngã thì Nam Kì là xứ thuộc địa nên có lợi là được hưởng một nền chính trị cởi mở, thông thoáng hơn. Đây là điều thuận lợi đầu tiên giúp cho Nam Kì là mảnh đất nhanh chóng hấp thu những tư tưởng dân chủ, tiến bộ trong những năm đầu thế kỉ XX. 9 Về kinh tế: Mục đích cao nhất của thực dân Pháp là biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hoá và là nơi cung cấp nguyên liệu, tài chính cho Pháp. Cho nên chính sách kinh tế của thực dân Pháp tập trung chủ yếu ở các mặt sau: bán hàng hoá, nguyên liệu và cho vay lãi.
Nền kinh tế cổ xưa của ta bị phân giải và thay vào đó là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Chúng còn mở ra nhiều ngành công nghiệp mới: khai thác hầm mỏ, chế biến nông lâm sản. Việc xuất hiện nhiều nền công nghiệp mới đã tạo điều kiện cho Nam Bộ phát triển nhiều mặt, tiếp cận với trình độ kĩ nghệ của Phương Tây. Tuy nhiên, công nghiệp chỉ được phát triển trong giới hạn không hại đến công nghiệp chính quốc và người dân Nam Bộ nhìn chung bị bóc lột sức lao động một cách thậm tệ.
Về nông nghiệp, thực dân Pháp chú trọng việc khai hoang, mở đất, lập đồn điền. Nam Bộ trở thành một khu vực có sản lượng lương thực lớn nhất của nước ta bấy giờ. Nhìn chung, nền kinh tế Nam Bộ có những nét khởi sắc so với thế kỉ trước. Đời sống người dân ngày càng được nâng cao.
Có thể nói, sự phát triển kinh tế đã kéo theo nhiều mặt của cuộc sống: nhu cầu người dân đa dạng hơn cả về vật chất lẫn tinh thần. Xã hội vì vậy chuyển mình theo xu hướng hiện đại hoá về mọi mặt. Ngoài nông nghiệp và công nghiệp, thực dân Pháp còn quan tâm đến ngành giao thông vận tải. Chúng chú trọng cả về đường sắt, đường bộ và đường thuỷ nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa và trấn áp các cuộc nổi loạn của quần chúng nhân dân, đưa tài nguyên về chính quốc.
Chính sự phát triển về giao thông vận tải đã tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế nối liền những vùng dân cư với nhau. Đặc biệt, nó giúp ích không nhỏ trong việc truyền tải thông tin đến mọi nơi. Về xã hội: Trước đây trong xã hội phong kiến nước ta gồm hai giai cấp chủ yếu là địa chủ và nông dân. Phương thức sinh tồn của địa chủ là bóc lột nông dân bằng địa tô và hưởng bổng lộc của triều đình, nhưng khi thực dân Pháp xâm lược thì một số địa chủ câu kết với chúng đàn áp người dân khiến họ rơi vào tình cảnh bần cùng hoá.
Nông dân là lực lượng đông đảo nhất ở Việt Nam, chiếm 95% dân số. Đến khi thực dân Pháp xâm lược thì nội bộ của giai cấp nông dân cũng khác trước. Một số tiếp tục cày cấy với mảnh đất thuê mướn, một số trở thành công nhân trong các đồn điền hầm mỏ và một số lượng nhỏ đổ xô về các thành thị và trở thành tầng lớp thị dân với đủ các 10 hạng nghề: buôn bán, kéo xe, chạy việc, con sen, thầy kí. Trong đó đáng kể nhất là những người nông dân làm việc trong các hầm mỏ, xí nghiệp.
Họ chính là tiền thân của giai cấp công nhân sau này. Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành từ nhiều con đường khác nhau và đây là lực lượng quan trọng trong việc phát triển kinh tế cũng như trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ở giai đoạn đầu thế kỉ XX này, phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng nổ ra mạnh mẽ. Chỉ trong hai năm 1904, 1905 đã có 10 cuộc đấu tranh.
Và về sau những cuộc đình công, bãi công, biểu tình diễn ra liên tiếp khiến cho thực dân Pháp hoang mang, buộc phải thay đổi đường lối cai trị. Ngoài ra, xã hội giờ còn phát triển một số tầng lớp khác: tư sản mại bản, tư sản bản xứ, tiểu tư sản, tầng lớp thị dân. Họ xuất hiện cùng với sự phát triển của đô thị và nền kinh tế tư bản. Tầng lớp tư sản bao gồm hai bộ phận là tư sản nước ngoài và tư sản Việt Nam.
Tư sản Pháp xuất hiện như là đại diện của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tồn tại lâu đời ở Châu Âu. Còn tư sản Việt Nam xuất thân chủ yếu từ các nhà buôn hoặc các địa chủ chuyên làm thầu khoán. Một bộ phận của tầng lớp này có ý thức dùng việc kinh doanh của mình chống lại độc quyền Pháp, một số còn dùng việc “chấn hưng công nghiệp” để hỗ trợ cho phong trào duy tân đất nước và cho các hoạt động yêu nước khác. Đây là mặt tiến bộ của một số người thuộc tầng lớp tư sản và tiểu tư sản.
Họ đã góp tiếng nói riêng của mình vào phong trào đấu tranh chung của toàn dân tộc. Riêng tầng lớp tiểu tư sản bao gồm trí thức, học sinh, sinh viên được hấp thụ nền giáo dục mới do thực dân Pháp đề ra nên trong một mức độ nhất định, họ tiếp thu được những luồng tư tưởng tiến bộ. Đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá nền văn hoá mới vào các tầng lớp nhân dân. Như vậy những thay đổi về kinh tế, chính trị kéo theo sự thay đổi về xã hội.
Sự xuất hiện của những giai cấp mới làm cho bộ mặt xã hội Nam Bộ có nhiều chuyển biến tích cực. Về văn hoá – tư tưởng : Trước tình cảnh xã hội cuồn cuộn trong đổi thay “người đủ hạng người, trò đủ hạng trò” và tiền của có thể làm nên mọi thứ thì người ta bắt đầu cần thay đổi nếp sống, nếp nghĩ. Không phải người ta dễ dàng chấp nhận sự thay đổi đó nhưng cái mới, cái đẹp và cái tiện vẫn có sức mạnh riêng và khiến xã hội thích nghi với nó. 11 “Thực tế lớn nhất của cuộc sống là đất nước đã mất vào tay giặc, làm nghẹt thở cả dân tộc.
Một thực tế nữa cũng lớn – nhất là ở thành thị thì càng thấy rõ đất nước đang đi vào con đường tư sản hoá. Cho nên thực tế đặt ra vấn đề chống Pháp, cứu nước giành độc lập mà cũng đặt ra vấn đề duy tân, đi theo Âu Mĩ theo kịp các nước văn minh. Vấn đề cứu nước, vấn đề duy tân đều được đặt ra từ thế kỉ trước, nhưng đến nay phải nhìn lại trong hoàn cảnh mới”9 Và trong hoàn cảnh mới này nước ta chịu sự tác động của không ít những luồng tư tưởng khác nhau, những luồng tư tưởng này đã gợi ý cho dân tộc ta tìm một hướng đấu tranh mới. Có thể thấy những luồng văn hoá xuất hiện theo những hướng sau: Từ Trung Quốc qua phong trào Duy Tân của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, những tư tưởng tiến bộ trong Tân Thư, Tân báo được truyền vào Việt Nam.
Các sĩ phu yêu nước đã tiếp thu và quan niệm của họ về quốc dân đã thay đổi khác trước. Từ Nhật Bản: khi Nhật thực hiện xong phong trào Duy Tân và trở thành một cường quốc hùng mạnh thì các nước phương Đông rất ngưỡng mộ và quyết tâm đi theo con đường của nước Nhật. Nước ta lúc đó có phong trào Đông Du của Phan Bội Châu là ảnh hưởng từ tư tưởng Duy Tân Nhật. Từ phương Tây: sự thống trị của Pháp đã giúp những sách báo khoa học - xã hội tiến bộ truyền vào nước ta bằng nhiều con đường khác nhau: vừa công khai trực tiếp, vừa bí mật nguỵ trang.
Tất cả những luồng tư tưởng này làm cho đời sống văn hoá của dân tộc ta biến động dữ dội. Chúng ta đã nhận thức được rằng: muốn đấu tranh thành công trước hết phải cải cách, phải thay đổi. Chính vì vậy những luồng tư tưởng này du nhập vào Việt Nam được hưởng ứng một cách mạnh mẽ. Những con người yêu nước thương nòi biết vận dụng nó để đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc mình.
Đến giai đoạn 1920 - 1930: Trên lĩnh vực tư tưởng vẫn tiếp tục chịu ảnh hưởng Tân Thư và đồng thời đây cũng là lúc khuynh hướng dân tộc xã hội chủ nghĩa của 9 Phan Cự Đệ, Trần Đình Hựu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Trí Dũng, Hà minh Đức, Văn học Việt Nam 1900-1945, Nxb Giáo Dục, trang 16. 12 Nguyễn Ái Quốc và Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội được nhen nhóm nhờ tiếp thu nhanh chóng chủ nghĩa Mac - Lênin. Tư tưởng Mác - Lênin bước đầu được truyền vào vào Việt Nam và được tiếp nhận đầu tiên ở tầng lớp trí thức yêu nước. Từ 1930, những phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi trên khắp ba miền.